Linh Nga Niê Kdăm
taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

THƯƠNG TIẾC ANH, NHẠC SỸ AN THUYÊN

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-04-07

Chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên là năm Đoàn Ca múa Đăk lăk ra dự hội diễn ca múa nhạc chuyên nghiệp tại Hà Nội, từ tiếng vang lan tỏa rộng của chương trình được các nhà chuyên  môn gọi là “ Phong cách trữ tình rực lửa”, như một cách chuyển hướng dân tộc – hiện đại mới mẻ của đoàn. Cũng như mọi nghệ sỹ tâm huyết với  sự lúng túng của nghệ thuật chuyên nghiệp, giữa thời buổi kinh tế thị trường đang bắt đầu làm mưa làm gió trong đời sống xã hội, anh rất say mê, viết hẳn một bài dài phân tích về nội dung chương trình của Đoàn. Không biết đăng ở đâu ( thập kỷ 80, thông tin còn quý hiếm lắm), nhưng có đưa cho tôi đọc. Ngày ấy anh đang học Đại học sáng tác ở Nhạc viện Hà Nội. Cùng chung ý tưởng nên từ đó mà gắn bó với nhau trong nhiều hoạt động. Đặc biệt là từ khi anh về làm hiệu trưởng trường VHNT Quân đội, đưa nhà trường từ Cao đẳng lên Đại học một cách xứng đáng .

                                                Nhạc sỹ An Thuyên với cây đàn brô TN

Là một người nhạc sỹ tài năng, An Thuyên viết nhiều thể loại khí nhạc, nhạc kịch, hợp xướng, nhưng đặc biệt nổi trội với rất nhiều ca khúc được đông đảo bạn yêu nhạc ưa thích, ngay từ thuở còn trong quân ngũ cho đến khi chính thức là một nhạc sỹ sáng tác (“ Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác,  Ca dao em & tôi, Huế thương, Một mình”…). Âm nhạc của anh mang âm hưởng dân gian của nhiều miền quê Việt, từ đường nét dân ca Kinh Bắc ngọt ngào trong “Khi xe tăng quan miền quan họ”; đến chất liệu dân ca Tày, Thái tung tẩy trong ca khúc “Em chọn lối này, Chín bậc tình yêu ”; hoặc sự mênh mang của dân ca Bâhnar, Jrai bay bổng trong nhạc kịch “Đất nước đứng lên”. Nhưng đậm đà nhất vẫn là từ chất liệu âm nhạc dân gian miền Trung quê anh.Những ca khúc mà cất tiếng hát lên cứ nghẹn thắt cả tâm hồn, đau đáu về một miền quê xứ Nghệ tuy xa ngái nhưng vẫn hiển hiện mồn một trong tâm trí, như là “ xuống đò một mình tôi, với dòng sông tuổi thơ…điệu buồn và điệu thương , sao xé lòng đến thế…”( Neo đậu bến quê) . Có lần tôi hỏi “ Anh tìm đâu những lời ca đặc biệt thế, như “ cắt nửa vầng trăng làm con đò nhỏ…” ấy. Anh bảo “ Mình chẳng tài giỏi gì đâu. Lấy trộm từ dân ca quê choa cả thôi”.

Rồi anh kể tôi nghe quá trình làm cán bộ văn hóa ở quê, đã được theo các nhà nghiên cứu đi sưu tầm dân ca Nghệ - Tĩnh, để sau này mới biết mình may mắn làm sao khi có được vốn sống ấy trong tâm hồn ngay từ buổi mới chập chững vào nghề.

Tôi kể anh nghe một lần đến Huế nghe có người ca cẩm “ Ông ấy viết chi lạ rứa.Răng để con gái Huế mần chi mà cầm nón ra đứng bờ sông. Ộc dộc hung”. Anh chỉ cười rất hiền “ mình thì thấy hình ảnh đó quá dễ thương”.

Anh là vậy, lúc nào cũng nhỏ nhẹ, không bao giờ lớn giọng theo kiểu “ đao to búa lớn”, kể cả những lúc có điều gì không bằng lòng, cũng từ tốn mà phân tích. Cùng ở trong Ban chấp hành Hội Nhạc sỹ với anh hai khóa, tôi đã được chứng kiến cách ứng xử rất điềm đạm ấy của anh. Kể cả lần xét kết nạp người thày giáo dạy nhạc cho anh từ thuở ấu thơ ở quê nhà,lúc làm đơn đã ngoài 70 tuổi, không đúng với quy chế kết nạp của Hội, tôi là người đầu tiên không nhất trí khi anh ngỏ lời “ xin” BCH xem xét . Việc không thành, tôi tưởng anh sẽ giận hay để bụng, nhưng vẫn thấy anh cư xử như không hề có chuyện gì xảy ra. Anh tin cậy chân thành đến độ  ủy quyền cho tôi tuyển sinh về chuyên môn ở vùng Tây Nguyên, chỉ cần có ngành Văn hóa  xác nhận sau khi tốt nghiệp sẽ quay về địa phương công tác. Chỉ mình tôi sau 5 năm công tác của anh ở trường, đã tuyển hơn 40 em ở cả Đăk Lăk, Lâm Đồng, Quảng Nam…gửi học nghệ thuật tại trường ( trong đó có cả hai con trai của Y Moan là Y Vol và Y Garia, còn thu xếp việc làm cho các cháu khi tốt nghiệp) . Cũng chính anh chủ động phối hợp với Hội nhà Văn Việt Nam, tổ chức lớp Đại học viết văn dân tộc, lại cho phép tôi cử tuyển 2 sinh viên Ê Đê theo học. Để cả Tây Nguyên lần đầu tiên có tác giả sáng tác văn học có bằng cấp. 

Anh sống rất có tâm huyết và có trách nhiệm với bất cứ công việc gì được giao. Là hiệu trưởng một trường nghệ thuật của Quân đội, chính anh là người đề xuất và thực hiện chương trình tuyển sinh các khóa dân tộc và miền núi. Để có hàng mấy trăm cán bộ dân tộc ngày nay đang công tác trong ngành văn hóa - nghệ thuật ở cả vùng núi hai miền Bắc Nam. Lúc đầu trường còn đề xuất học sinh tự mang theo nhạc cụ dân tộc, nhưng khi hiểu ra các em đều nghèo, anh quyết định bỏ ngay quy định ấy. Hai bạn vong niên của tôi là NSƯT Y San Aleo và nhạc sỹ Y Phôn KSor,đều vì hoàn cảnh gia đình khó khăn mà không thể theo học quá bậc trung cấp. Anh tạo mọi điều kiện hồ trợ cả kinh tế lẫn động viên tinh thần ( Thậm chí cho theo thày đi dàn dựng, sáng tác các nơi để có thêm thu nhập) , để hai bạn cùng đạt được học vị cử nhân sáng tác múa và nhạc. Kết nạp Đảng cho Y Phôn ngay trong thời gian học tập ở trường.( Y Phôn đã khóc khi gọi cho tôi thông báo tin anh mất)

Là một trong những người nhạc sỹ tham gia sáng lập chương trình “ Bài hát Việt”, lên sóng vài số, gặp rất nhiều phản ứng từ cả từ phía những nhạc sỹ chuyên nghiệp lẫn người nghe – xem. Ngay cả trong  những cuộc họp của Ban chấp hành Hội Nhạc sỹ Việt Nam cũng có ý kiến cần cân nhắc. Anh tâm sự :

- Phải có sân chơi cho lớp trẻ chứ. Vài mùa nữa mà xem, chắc chắn không thể nói là kém chất lượng ?

Anh cũng là một trong những người đầu tiên ủng hộ và nêu cao vai trò của tác giả phối khí. Niềm tin của anh sau 10 năm đã được khẳng định. Một thế hệ sáng tác trẻ năng động, mới mẻ, có nghề, đã vững vàng tiếp bước cha anh trên con đường âm nhạc chuyên nghiệp một cách tự tin , từ “ Bài hát Việt”.

Sau hai khóa làm việc trong Ban chấp Hành Hội nhạc sỹ Việt Nam, chúng tôi cùng đồng lòng tự nguyện xin không ứng cử khóa tiếp  - trong khi uy tín nghề nghiệp vẫn rất cao - để dành sân chơi cho lớp trẻ và mình làm nhiều việc khác. Tôi chắc cả anh lẫn tôi đều không hề hối tiếc việc ấy.

Với riêng tôi còn có một kỷ niệm nhỏ : anh say mê chụp ảnh các thế hệ nhạc sỹ, dự định sẽ tổ chức một cuộc triển lãm chân dung bạn bè. Hôm BCH họp ở Đà Nẵng anh đề nghị chụp cho tôi. Lâu nay tôi rất ngại bởi không “ ăn hình”, nhiều nghệ sỹ nhiếp ảnh tiếng tăm đã thử mà không được. Nhưng anh đã tìm ra được “ hướng” của gương mặt, để gửi cho tôi một tấm chân dung ưng ý, chưa từng có ai chụp được. Có lẽ còn bởi từ sự quý mến của tấm lòng anh với tôi mà có chăng?

Mùa hè này, khi hoa phượng đã thôi rừng rực trên những vòm cao, tiếng ve cũng chỉ còn rời rạc cất lên trong đám lá, lẽ ra là niềm vui của 5 năm một lần gặp gỡ các bạn đồng nghiệp trong Đại hội IX Hội Nhạc sỹ Việt Nam, lại phải thương tiếc mà tiễn đưa những cây Đại thụ như Giáo sư Trần Văn Khê, nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu, những người bạn vong niên rất thân thiết không chỉ với riêng tôi, mà với bạn yêu nhạc cả nước như nhạc sỹ Phan Nhân, An Thuyên. Tổn thất này với những người làm âm nhạc lớn quá ! Mất mát này sẽ còn hằn sâu trong trái tim đã vốn rất nhạy cảm của chúng tôi, những người nghệ sỹ. Chỉ tin rằng âm nhạc của các ông xanh mãi theo thời gian

Vĩnh biệt  ! 

[...]
Xem tiếp

Cựu binh Yuir và hai cuộc “duy tân” làng

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-03-07

Đi đầu trong việc đưa cây cà phê về làng, đưa cá về nuôi, lập trang trại - cái gan dám chống lại Yang (trời) của A Drung Yuir (làng Klot, xã Kon Gang, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai) đã làm bừng sáng những khát vọng đổi đời cho một vùng đất hàng bao đời tự trói mình trong lệ tục…

 

                                                                                  Ông Yuir bên ao cá của gia đình     

Hai lần “bước qua lời nguyền”

Buổi sáng hôm ấy đi làm rẫy qua nhà Yuir, người làng Klot bỗng nghe tiếng đào đất rình rịch rồi tiếng máy nổ váng cả một góc rừng. Hỏi, hóa ra là Yuir đang đào hố trồng cà phê. Nhiều người nghe lạ tai quá xuống tận nơi coi thử. 

Quả là Yuir đang trồng cà phê thật. 

Thế này là nó định để Yang phạt chết cả làng hay sao? Đang định đi kêu thì già làng biết tin đã đến. Che bàn tay nhăn nheo lên con mắt để nhìn cho rõ chuyện lạ, giọng già làng rin rít: “Thằng Yuir, đừng có nghĩ mày đi bộ đội về thì được bỏ lệ người Bah Nar nhé. Đưa cây lạ về, mày muốn Yang làm đau chết cả làng hay sao? Nếu không muốn Yang giận, ngày mai mày phải làm thịt một con dê để cúng nhà rông!”.
Không thấy Yuir cãi, chỉ căm cúi đào hố. “Chắc là nó tính đường lảng. Không nghe lời thì còn phạt to nữa”- già làng giận dữ ném cây gậy vào hố rồi nhổ nước miếng đi về…

Nhưng bất ngờ là trưa hôm sau lại thấy Yuir đi kêu mọi người ra nhà rông uống rượu cúng Yang. Một con dê to. Không ai muốn bỏ qua dịp này. Già làng cúng xong, lẽ ra phải nói lời xin Yang tha tội, xin lỗi dân làng thì Yuir lại “tuyên truyền” cho cây cà phê. Xong lại quay sang chê dân làng  sống cùng đất, hưởng cùng nắng gió mà người Kinh làm giàu được, còn người Bah Nar thì chỉ biết ôm cây lúa của ông bà rồi kêu đói... Chuyện đúng thế nhưng nghe vẫn tức đầy cả ruột. Thấy có người tự ái định bỏ về, ông Yong đứng lên nói: Tôi là cán bộ tập kết, đi đây đi đó cũng nhiều, vậy mà cái đầu không nghĩ được bằng Yuir. Chỉ mai mốt tôi cũng phá “cái vườn lung tung” của tôi để trồng cà phê. Đánh cược với cả làng, nếu Yang không phạt tôi, phạt Yuir thì chịu đền gì? 

Không ai dám cược cả. Lũ thanh niên phá lên cười. Cuộc phạt vạ bỗng quay sang chiều hướng bất ngờ: làng nhất trí góp tiền đền lại cho Yui con dê…

Vụ cây cà phê chưa ai kịp quên thì Yuir đã lại tiếp tục “gây chuyện” nữa.

Tiếng máy gầm gừ lúc con gà chưa kịp đi ăn đã kéo cả làng dậy. Lại thằng Yuir giở trò gì rồi! Chẳng mấy lúc mà cái ngõ nhà Yuir đã đông kín những người. Thì ra nó đang thuê máy về đào ao. Người Bah Nar xưa nay có ai dám để cái hồ nước trong làng mình ở. Có nên phạt nó không? Hàng chục cái miệng bàn tán xôn xao nhưng rồi cuối cùng thấy chắc là không phạt được. Hồi trước Yuir đưa cây cà phê về trồng, định phạt thì bị nó nói cho không cãi được. Bây giờ lỡ ra… Thôi cứ kệ. Con cá xưa nay sống trong sông trong suối, giam nó trong hồ vào hồ thì chỉ con rắn, con chuột là được béo chứ gì. Cứ để nó “tự thua” thì hết chuyện thôi. Nghe có lý, mọi người lặng lẽ ra về. Mặc, chỉ lũ con nít là không cần biết. Suốt ngày chúng chầu hẫu xem cái máy quên ăn. Rồi khi cái ao hoàn thành, chúng nhảy nhót lặn ngụp reo hò váng cả làng. Cố không để ý mà ai cũng thấy trong bụng có cái gì nhộn nhạo không yên được.

Bắt đầu từ đốm lửa

Cái tin A Drung Yuir đi thoát ly 15 năm rồi trở về tay không, họ hàng ai nghe cũng thương. Mới 15 mùa rẫy, Yuir đã biết làm cách mạng bằng việc mua muối, mua thuốc tiếp tế cho các chú. Vì có một tay lính ngụy người làng chỉ điểm, Yuir bị bắt giam ở Plei Ku suốt một năm mới được thả. Rồi đó Yuir đi thoát ly bảo vệ Huyện ủy Mang Yang. Giải phóng, đang được cho đi học thì “xui” làm sao lại bị bệnh phải về làng. Biết thì thương vậy chứ làng nghèo quá. Miếng cơm còn phải bóp miệng mình thì biết giúp được gì. Trái với ý nghĩ người bà con, Yuir lại chẳng mảy may thắc mắc. Cái cần nghĩ bây giờ là làm cách nào cho hết khổ khi “vốn” trong tay chỉ vỏn vẹn con dao với cái cuốc cùn nhà vợ cho? Có hai vợ chồng với mỗi đứa con mà phải ăn cơm độn củ mì, sống trong cái túp lều còn thua chòi rẫy thế này thì nhục quá. Cảnh nhà đã vậy còn bà con dân làng nữa… Nhiều đêm trong đầu A Drung Yuir như có con gõ kiến mổ…

Nhưng không ai biết cả năm trời Adrung Yuir đã một mình lặng lẽ sang bên Nông trường Đăk Đoa học anh em người Kinh cách trồng cà phê. Yuir biết lắm, nếu cứ ôm khư khư cây lúa rẫy thì chớ mong thoát nghèo mà còn mỗi ngày mỗi đói thêm. Nhưng là người Bah Nar Yuir cũng quá hiểu tâm lý của dân tộc mình. Nếu không có người đi tiên phong thì đừng mong thuyết phục họ bằng lời nói. Yuir cũng hiểu sự việc ban đầu dù kết thúc “có hậu” nhưng nếu không có hiệu quả thực tế thì cũng đừng mong thuyết phục bà con. Với 600 cây cà phê lúc đầu, Yuir phát triển lên 1 ha, trồng xen 500 gốc bời lời. Vụ đầu tiên đã thu được gần hai chục triệu đồng. Rành mắt thấy người buôn vào tận nhà chở, trao tiền cho Yuir, chẳng muốn nhớ chuyện phạt vạ hôm nào đã đành, ai cũng đòi Yuir chỉ cách làm. Bây giờ thì khỏi phải vận động nữa, chỉ phải chạy đôn chạy đáo giúp bà con kỹ thuật thôi. Từ năm 200, phong trào trồng cà phê bắt đầu  từ các hội viên Cựu chiến binh rồi như một phản ứng dây chuyền lan rộng khắp làng. Bây giờ thì Klot hầu hết mọi nhà đều có cà phê. Cái đói được đẩy ra lùi, phần quan trọng cũng là nhờ “cây Yang phạt” ấy…

Còn cái ao cá, dẫu không “gay cấn” thì cũng nên kể

Chuyện là cũng trong những ngày đi học cách trồng cà phê ấy Yuir thấy anh em người Kinh nuôi cá. Cất lưới, cá chép con nào con ấy hai, ba ký, nhìn đã thấy sướng con mắt. Nhà mình, làng mình quanh năm cứ hết con cá hấp lại cá ươn ướp đá của người buôn trong khi điều kiện nước nôi tốt hơn nhiều, tại sao lại không nuôi chứ ? Nghĩ là làm, Yuir lấy hết tiền bán cà phê thuê máy đào ao. Vụ đầu  mua giống của người bán rong lại thiếu kinh nghiêm, vậy mà cũng thu được gần 1 tạ. Yuir không bán mà đem chia cho bà con nghèo trong làng.Tết đến, cầm con cá Yuir cho ai cũng ngỡ ngàng. Mấy lứa sau có kỹ thuật rồi, ao cá nhà Yuir đã trở thành nguồn cung cấp cá tươi duy nhất cho cả xã. Người nghèo có việc, Yuir vẫn cho không; người khá hơn chút thì bán rẻ. Chuyện qua lâu rồi mà mỗi lần cầm còn cá Yuir cho vẫn thấy ngượng ngùng làm sao ấy… 

Căn nhà xây hơn 200 triệu của A Drung Yuir trông ra ao cá lăn tăn gợn sóng. Bên bờ những hàng sầu riêng, vãi thiều trĩu quả soi bóng trên làn nước biếc làm dịu đi cái nóng bức bối ban trưa. A Drung Yuir dẫn tôi ra thăm vườn. Khu đất rộng chừng 4 ha, gần 20 năm về trước không một bóng cây nuôi sống được người, dưới bàn tay cần mẫn của ông đã trở thành trang trại.

Một người dân trong làng đến tìm ông, thấy tôi thì đưa mắt nhìn như có ý dò hỏi. A Drug Yuir bảo: Chắc là có việc gì không biết nên đến hỏi đó mà. Ngày nào mà chẳng có bà con đến đây. Người mua con cá, người xem vườn hoặc hỏi điều gì đó khúc mắc- mà nào chỉ việc làm ăn- A Drung Yuir cười.  Nào thì cãi cọ xích mích, trai gái ngoại tình đến cả tai nạn giao thông, việc gì họ cũng tìm đến nhờ hòa giải, phân xử dù tôi chỉ làm chủ tịch Hội Cựu chiến binh…

Tôi ngắm khuôn mặt khoáng đạt đầy kiên nghị của ông. Gió từ ngọn Chư Gang đã sởn lên trong nắng trưa bức bối. Nghe như trong gió  thoảng vị mồ hôi mặn hết mình vì cộng đồng của một con người…     

NGỌC TẤN

 

[...]
Xem tiếp

Thức dậy miền hoang vu

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-02-07

Từ một tộc người sống hết sức lạc hậu, nhưng bằng sự quan tâm trợ đỡ, bằng việc giao lưu và sự tự thức tỉnh, người Ma Coong đã vượt lên khốn khó, đánh thức miền đất một thời được coi là hết sức hoang vu.

 

N Những đứa trẻ xã Thượng Trạch

Từ Dốc 51, cách cửa khẩu hẻo lánh Cà Roòng sang nước bạn Lào khoảng 8km nhìn xuống, những ngôi nhà của người Ma Coong ở xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) trông như những hộp diêm xinh xắn nằm gọn gẽ bên con suối Roòng xanh ngắt. Những năm 1960 đổ về trước, do nằm cạnh tuyến Đường 20 - con đường huyết mạch tiếp viện cho chiến trường Miền Nam nối lên Tây Trường Sơn sang Lào bị Mỹ tập trung không kích mạnh. Do đạn bom, chết chóc, người Ma Coong đã phải vào rừng để náu thân. 

Cuộc sống bị phân tán, đói khổ triền miên đã đưa người Ma Coong vào vòng lạc hậu. Lẩn trốn, không tự chủ động lao động sản xuất được, người Ma Coong phải lệ thuộc vào tự nhiên. Thời gian trôi, dần dà họ đã trở thành 1 tộc người gần như “ăn lông, ở lỗ”. Nhiều lúc rau rừng, cá thịt sống đã là nguồn thức ăn của họ.

Nói về sự phát triển của người Ma Coong hiện nay, ông Đinh Hợp- Chủ tịch xã là người luôn được nhắc đến. Tới nhà ông, không ai có thể ngờ rằng, trước đây ông vốn là một người xuất thân từ cuộc sống “ăn lông, ở lỗ”. Hiện, ngoài diện tích ruộng nương, ông còn đang triển khai mô hình trang trại, làm tiền đề hạt nhân cho người Ma Coong học để làm theo. 

Với mô hình trang trại theo kiểu “cán bộ đi trước, làng nước theo sau” này, ông Hợp đã có 30 trâu bò được chăn thả. Năm ngoái, bằng việc lựa bán gia súc, ông đã có thu nhập cho gia đình tới 100 triệu đồng. 5 ha cao su công nghiệp, với sự đầu tư 25 triệu đồng/ha này của gia đình ông đã được phủ kín. Cây cao su đem từ miền Đồng Nai xa xôi cũng đang vươn lá, vươn cành, đón nắng gió ở cái miền tây xa lắc của tỉnh Quảng Bình này, thầm hứa những dòng nhựa trắng diệu kỳ ở các năm tiếp theo.

  Tuyến đường 20 là một tuyến đường gian khổ. Khó khăn nên nó đã làm cho xã Thượng Trạch, nơi có đồng bào Ma Coong sinh sống này chợt trở lên xa xôi với ngay cả huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình chứ chưa nói gì tới các vùng miền khác. Nhưng bằng ý chí, sức lực của mình nên người Ma Coong nơi đây đang tự mình “kéo” những sự xa xôi ấy dường như gần lại.

Hiện tại, từ một cuộc sống lẩn trốn, hoàn toàn dựa vào tự nhiên, trong thời gian ngắn ngủi, người Ma Coong đã biết ở nhà, làm nương và chăn nuôi gia súc, gia cầm theo mô hình gia đình. Ông Hoàng Văn Hùng, Phó Bí thư Đảng ủy xã, với khuôn mặt khắc khổ nhưng rất tự hào khi cho chúng tôi biết: Hiện tại, ngoài 500ha đất canh tác, tổng đàn gia súc của xã cũng đã lên đến gần 3.000 con. Xã và các thôn bản đã chấm dứt hoàn toàn việc trao đổi hàng hóa thông qua “hàng đổi hàng”.

Vì mới ra khỏi rừng, cái đói cái nghèo chưa thể xóa hết trong một thời gian ngắn với người Ma Coong ở Thượng Trạch. Nhưng đối chiếu với quá khứ và hiện tại, tôi thấy người dân và đất này đã có những sự vận động hết sức dữ dội cho việc đi lên, hòa nhập của mình. Cái vui nhất ở đây đó là việc tới trường của các em. Từ một nơi hoàn toàn giao tiếp bằng tiếng địa phương, 100% các hộ dân cũng như người dân chưa có lấy một từ phổ thông nào len lỏi vào thì nay trường lớp đã được dựng lên ở Thượng Trạch. 8 thôn bản, hàng ngày theo tiếng trống trường, học sinh đã đồng loạt đến lớp.

Hiện tại, ngoài mẫu giáo mầm non, Thượng Trạch đã có 500 em trong các lứa tuổi theo học bậc tiểu học. Trường tiểu học đã được phát triển, nhân rộng và “cắm” vào đến toàn bộ 8 thôn bản, kể cả các bản xa xôi như bản Bản Choi, Bản Aki, Bản 61. Trường dân tộc nội trú cũng đã theo thầy cô vào đến với đất này. Theo bước của 50 thầy cô, yêu nghề, vượt khó, 182 em học sinh tưởng như “nửa chừng đứt gánh” về cái sự học lại tiếp tục được đến lớp. Và sự học đất này càng vui hơn, khi vừa rồi cái xã xa lơ xa lắc này đã có 1 em thi đỗ Đại học Sư phạm Huế và đã có thêm 7 em dám “vượt rừng” ra tỉnh học tiếp hệ THPT.

Trước những đổi thay của xã mình, dân mình, ông Đinh Hợp bảo, “không ngờ người dân Ma Coong mình cũng làm được nhiều điều đáng ghi nhận lắm”. Gần 30 năm sau khi “ra khỏi rừng”, với sự hỗ trợ, với sự tự lực đi lên, hiện tại nhiều hộ gia đình người Ma Coong ở Thượng Trạch đã mua sắm được các phương tiện nghe nhìn để nắm bắt thông tin. Toàn xã đã có 32 hộ có tivi, 50 hộ đã tự mua được xe máy để đi lại và vận chuyển hàng hóa.  

 Đơn Thương

[...]
Xem tiếp