Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

“VÌ EM YÊU VĂN HÓA Ê ĐÊ QUÁ”

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-18-07

 Hai căn nhà sàn Ê Đê đúng kiểu truyền thống nối tiếp nhau trong khuôn viên nhỏ rợp màu xanh. Những chiếc ghế kpan điết thành bàn ăn với những tấm đệm ngồi thổ cẩm. Góc trong cùng, chất cao các bộ đệm nằm trải mền, gối thổ cẩm. Góc nhà ngoài, những vật dụng thường ngày của đời sống buôn làng như ching, ché, gùi, vỏ bầu…như còn đang ấm bàn tay ama, amí. Dưới gầm là 6 chiếc hầm  hàng trăm ché ủ thơm rượu cần. Và nụ cười của người thiếu phụ Nùng bên chiếc cầu thang có đôi bầu vú gỗ đặc trưng ngay cửa ngôi nhà mẫu hệ Ê Đê, gọi mời du khách.

                Cha của Yến, một cựu chiến bình đã từng tham gia chiến trận miền núi phía Bắc mang theo cái gia đình 5 người của mình từ Hòa An ( Cao Bằng) chuyển vào Ea H’Leo năm 1991. Là người “ nhìn xa trông rộng”, mua được bao nhiêu đất ở quê mới, ông không chỉ trồng cà phê, mà còn dành phần lớn trồng rừng. Trên đất rừng lại trồng hoa màu, lương thực, lấy ngắn nuôi dài ( những bài học tưởng cũ mà vẫn rất hữu ích đấy chứ). Trồng để đó.

Cơ duyên để gặp, làm quen rồi nên duyên chồng vợ, là từ cậu em trai theo học Thiếu sinh quân ở Gia Lai, dẫn bạn cùng lớp Niê Hoàng Kiệt ( lúc ấy là hai chàng trai cùng “ đồng hương Đăk Lak” ) về nhà chơi. Sau cưới, vợ theo chồng về buôn Ea Măp, thị trấn Ea Pok huyện Cư M’gar ( Đăk lăk) sinh sống. Yến là chị cả. Từng phụ mẹ mở cửa hàng ăn nho nhỏ ở quê cũng như ở Ea H’leo, nên về quê chồng, Yến nghĩ ngay đến việc phát huy cái nghề ấy để phụ thêm sinh hoạt gia đình. Nhất là góp sức chăm mẹ chồng tai biến mạch máu não.

                Mua gần 1 sào đất vườn trong buôn gần nhà. Lúc đầu chỉ là một quán ăn nhỏ, lâu dần thành địa chỉ đặt ăn  có tiếng trong thị trấn. ( Đã nhiều lần các thế hệ lãnh đạo huyện Cư M’Gar có ý mời đến buôn Măp, thị trấn Ea Pok dùng bữa, nhưng ngại xa nên tôi thường từ chối. Mãi rồi cũng có dịp được thưởng thức với lời mời hấp dẫn hơn “ ẩm thực Ê Đê cô ạ”. Hóa ra là nhà hàng của Yến). Đủ lo cho kinh tế gia đình. Ổn định cuộc sống rồi, Yến lại nghĩ sang điều khác.

                Có lẽ từ những ngày ở Ea H’Leo, có chút năng khiếu văn nghệ, Yến tham gia những Liên hoan nghệ thuật quần chúng của huyện, tỉnh, có nhiều dịp giao tiếp, nên văn hóa Ê Đê ngấm vào tâm hồn lúc nào không rõ. Không chỉ yêu những điệu múa, câu hát, Yến thích căn nhà sàn mỗi lần có thêm một cô gái lấy chồng lại được nối dài ra. Yêu cả những tấm váy áo với hoa văn đỏ đen rực rỡ . Nhất là yêu thích các món ăn trong những ngày hội văn hóa được các mẹ, các chị chế biến. Về sống cùng gia đình chồng giữa một buôn cận kề chân núi Cư H’Lâm với rừng cây xanh cổ thụ và câu chuyện huyền thoại về nàng con gái tù trưởng H’Lâm xinh đẹp, tiếp xúc trực tiếp với bà con đồng tộc của chồng, chứng kiến sự mất đi của những điều mình yêu mến, Yến càng thấy ham muốn làm một cái gì đó để níu kéo. Hơn nữa, cho thỏa niềm đam mê của chính . Bàn với cha mẹ hai bên và chồng, không ngờ Yến nhận được sự đồng lòng của cả đại gia đình.

                Vậy là, cha chặt hạ cả cánh rừng tếch ở Ea H’leo lấy gỗ góp cho con gái dựng nhà. Mẹ “củng cố” lại kiến thức các món ăn dân tộc ngày còn ở quê hương. Ama chồng tìm các amí nấu ăn giỏi trong buôn về dạy con dâu những món ăn truyền thống Ê Đê. Vợ chồng Yến tự mình thiết kế vườn tược. Này nhé, đất hẹp quá, phải tận dụng từng tý một. Dọc vách tường chồng và em rể treo những ống tre to đổ đầy đất để Yến gieo rau thơm và hành.  Bên dưới xen rau, cà, xả…là những cây đu đủ đực để lấy hoa nấu ăn . Trên bờ tường, ngoài cổng rào, dây bầu, bí , mướp, kể cả loại bầu hình nậm rượu tưởng chừng như giống đã thất truyền, vàng rực hoa giữa đám lá xanh mướt. Heo gà giống truyền thống đặt bà con trong buôn nuôi. Đảm bảo thức ăn mời thực khách là sản phẩm sạch của nhà và buôn làng. Hai chị em Yến, Vân còn tìm đến nhà các nghệ nhân dệt thổ cẩm trong buôn đặt vải may chăn, nệm, đồng phục cho nhà hàng. Rồi mời nữ nghệ nhân Ê Đê được danh hiệu “ bàn tay vàng” làm rượu cần ở tận bên huyện Krông Na về truyền dạy chế biến….Cứ thế, sau hơn một năm chuẩn bị, mọi việc dần hoàn thành. Đúng ngày khai mạc Lễ hội cà phê & Liên hoan cồng chiêng Buôn Ma Thuột 2017, Nhà hàng & Du lịch cộng đồng Cư H’Lâm chính thức khai trương. Thực đơn có cả các món ăn truyền thống Ê Đê như Vech, cà đắng , gà, cá, heo nướng thơm trên lửa, lẫn những món ăn cổ truyền khác biệt của người Tày, Nùng và mọi món ăn trong các nhà hàng, chiều theo ý khách. Nếu có yêu cầu, không chỉ nghệ thuật dân gian cồng chiêng Ê Đê, mà cả hát Then Tày sẵn sàng phục vụ.

                Mới đó mà đã có các khách người Pháp, Úc, Trung Quốc đến dừng chân nghỉ lại. Yến tổ chức đưa khách không chỉ thăm cảnh buôn Măp, mà còn đến rửa chân tay nơi bến nước sau khi dạo thăm vườn cà phê, dầm chân lội ra giữa thác Drei Bĭ ở xã Cư Suê. Cảm giác thanh thản tuyệt vời khi đắm mình giữa thiên nhiên cao nguyên, khiến du khách đều hẹn một ngày trở lại.

                Đến đó cũng chưa hết chuyện về người phụ nữ dân tộc Nùng này. Giám đốc Trung tâm văn hóa huyện Cư M’gar cho biết,  từ nay đến cuối năm 2017, huyện sẽ cùng phối hợp mở một lớp dệt thổ cẩm cho buôn Măp ngay tại nhà hàng của Yến . Tiếp đến nếu được, sẽ là một lớp truyền dạy tấu ching. Bây giờ khi cần thì vẫn mời nghệ nhân đánh ching, mời chị em hát múa. Nhưng dần sẽ thành lập hẳn một đội nghệ thuật dân gian của buôn. Trang phục, đạo cụ do vợ chồng Yến lo hết. “ Đó mới là gìn giữ được lâu dài cô ạ”. Chúc cho mong ước của em thành sự thật, nhất là nhà hàng đông khách, cho nghệ thuật ẩm thực dân tộc bay xa.

                “ Mình thích thì mình làm thôi”. Là Yến yêu văn hóa Ê Đê quá đấy mà.

                Vĩ thanh: Xin dẫn lại một câu trong bài đăng trên báo Đăk Lăk của nhà báo Thùy Duyên, rằng “ ông Aê Kiên – nghệ nhân đánh cồng chiêng ở buôn Ea Mấp  hết lời khen: “May thằng Niê Hoàng Kiệt lấy được con Yến làm vợ, may mà buôn Ea Mấp có được con Yến làm dâu để khôi phục và giữ gìn được văn hoá Êđê. Bây giờ lớp trẻ đi theo lối sống hiện đại, bỏ quên văn hoá người xưa hết rồi. Người con Êđê cũng không làm được như nó ”. 

 

[...]
Xem tiếp

KA SÔ LIỄNG SÂN KHẤU- SƯU TẦM & LÀM THƠ

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-04-07

Là một nhánh của cộng đồng Chăm, chọn nơi sinh sống dọc hai bờ con sông Hroaih, nên xưng là Chăm Hroaih, trong danh mục 54 dân tộc Việt Nam còn được gọi là Bâhnar Chăm. Tộc người này cư trú tập trung ở Phú Yên và một vài huyện thuộc Bình Định. Đạo diễn Ka Sô Liêng là người dân tộc Chăm Hroaih, sinh ở Plei Kei Trôi, xã Bu beng, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên .

                Người thanh niên mới lớn hay nhảy múa hát ca, rất hồn nhiên, gặp cách mạng Tháng Tám rồi trở thành bộ đội Cụ Hồ. thuộc Trung đoàn 84. Năm 1954 , cả Trung đoàn tập kết rồi được điều lên Tây bắc để làm cầu đường. Thấy anh nhanh nhẹn, ham văn nghệ, thích diễn kịch, đơn vị cho đi học bổ túc văn hóa, rồi học quản lý văn hóa ở Trường Lý luận nghiệp vụ Hà Nội. Năm 1963 tốt nghiệp, anh về nhận công tác tại Ty văn hóa Thông tin tỉnh Quảng Ninh.

                Có lẽ năng khiếu nghệ thuật mạnh hơn, nên sau bảy năm hết làm phong trào đến giáo viên giảng dạy, Ka Sô Liễng thi đỗ vào khoa đạo diễn trường Nghệ thuật sân khấu – Điện ảnh. Tốt nghiệp, anh ở lại trường dạy môn Văn hóa quần chúng và Mỹ học.

                Năm 1973, theo tiếng gọi quê hương, Ka Sô Liễng lên đường trở về nam, trong đội hình Đoàn văn công tổng hợp thuộc ban Tuyên huấn khu 5. Chỉ sau một thời gian ngắn, xuất phát từ nhu cầu bổ xung đội ngũ và huấn luyện chuyên môn nghệ thuật cho các đoàn văn công chiến trường, anh về xây dựng Trường văn hóa Nghệ thuật khu Năm ở Đăk My, một vùng căn cứ của khu  tại địa phận Quảng Nam.

                Đất nước thống nhất, Ka Sô Liễng về Phú Yên, làm đạo diễn trong Đoàn dân ca kịch, rồi Trưởng đoàn cải lương của tỉnh. Đến bây giờ anh mới thực sự thỏa mãn nguyện vọng gắn bó với sân khấu, được có dịp đem học vấn đã gom góp của mình ra thực hành. Không đầy 10 năm,đạo diễn Ka Sô Liễng đã dàn dựng trên 20 vở các thể loại tuồng, cải lương, dân ca như : Ba Cha con, Rừng hận, Đôi mắt, Trần Bình Trọng, Hương gai …cho các đoàn nghệ thuật sân khấu trong tỉnh. Ông còn dàn dựng cho các tỉnh Vũng Tàu, Bến Tre, Tây Ninh, Sông Bé, Gia Lai…những tiết mục về Tây Nguyên, như : Hoa Plang, Núi rừng thầm lặng, A Nàng… về dân tộc Khơmer như vở Sa Mi cho đoàn Khánh Hòa. Ông còn viết kịch bản sân khấu như vở Tình chết trong rừng hận…Những tác phẩm do Ka Sô Liễng đạo diễn, không chỉ được giới chuyên môn đánh giá là “ sâu sắc, mang tính hiện đại” đoạt huy chương vàng, bạc trong các kỳ Liên hoan nghệ thuật sân khấu, mà còn nhờ đó các đoàn nghệ thuật có doanh thu cao.

                Khi chưa gặp Ka Sô Liễng, tôi không mấy tin ở việc có một người dân tộc thiểu số miền núi Trường Sơn  lại am hiểu và có thể dàn dựng được các thể loại kịch hát đồng bằng, nhất là về bài chòi, hát bội, cải lương…những loại hình nghệ thuật hoàn toàn xa lạ với văn hóa miền núi Tây Nguyên . Thế rôi tôi thán phục anh, say sưa ngồi nghe anh kể về nghề đạo diễn “ chủ yếu là ở khâu dàn dựng, chọn làn điệu cho phù hợp với tính cách nhân vật, nội dung vở diễn”. Không những nói, anh còn hát ngay rất nhuyễn một đoạn bài chòi khu năm và trích đoạn tuồng cổ nữa chứ. Đến lúc ấy thì tôi đã hoàn toàn bị anh thuyết phục rồi.

                Trong thời gian làm Trưởng phòng văn nghệ, rồi Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Phú yên, phụ trách công tác nghệ thuật và nếp sống văn hóa, anh đã tham gia chỉ đạo và trực tiếp sưu tầm, nghiên cứu nhiều công trình văn hóa dân gian Phú Yên, như việc phát hiện ra hơn 10 bộ đàn đá Khánh Sơn, kiểm kê di sản dân ca Phú Yên, sưu tầm dân ca Rak Glay, trường ca Xing Chion ( Bâhnar), Chơ Lơ Kôk ( Êđê )…Nhưng Ka sô Liễng còn gây bất ngờ hơn, sau khi về hưu, trong cùng một năm 1999 anh nộp Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam hai trường ca Tiếng cồng nàng H’Bia Đá Bia Tơ Lúi – Ka Ly Pu, nộp về Hội văn nghệ dân tộc thiểu số Việt nam bản thảo Anh em Chi Blơng, đều là trường ca cổ Bâhnar, mỗi tập dày hơn300 trang  nếu tính cả tiếng dân tộc và tiếng phổ thông thì dày tới hơn 700 trang/ cuốn ). Điều mà chưa một nhà sưu tầm trường ca Tây Nguyên nào ở Việt Nam làm được, vào thời điểm ấy ( khi chưa có chương trình sưu tầm sử thi của nhà nước). Bởi để có được những trang giấy như thế, người sưu tầm phải ăn dầm nằm dề ở buôn, plei thậm chí hàng tháng trời, rồi nghe băng ghi lại bằng chữ dân tộc, dịch sang tiếng phổ thông, chỉnh lý văn học cho dễ đọc, dễ hiểu…tất cả đều không dễ dàng gì. Kinh phí đi cơ sở, thậm chí giấy bút để ghi chép, đánh máy hàng ngàn trang văn bản, đâu phải là điều đơn giản với một cán bộ hưu trí, cho dẫu có từng là Phó giám đốc đi nữa. Phải xuất phát từ một tình yêu sâu nặng lắm, một lòng đam mê đến đắm đuối vốn văn hóa cổ truyền của ông bà xưa, mới giúp cho Ka Sô Liễng giành được nhiều giải thưởng cao nhất của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam và Hội văn nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam cho việc sưu tầm như thế chứ. Thật đáng khâm phục !

                Tình yêu sâu nặng ấy không chỉ bộc lộ trong công việc của anh khi còn tại chức, hoặc trong công việc sưu tầm, dịch thuật trường ca, sử thi, mà còn “ phát tiết” cả trong thơ . Bài “ Con lạch của anh đã được tuyển chọn vào Tuyển tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam ( Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc năm 1997) . Bài thơ giản dị, kể câu chuyện cũng rất đơn giản về một con lạch chảy “ giữa hai tảng đá ngồi châu đầu như hai con gà khổng lồ”ở miền núi rừng quê anh. Trong mắt một đứa trẻ con, con lạch “ sao mà to và hiểm hóc” . Nhưng “ hơn 20 năm đi đánh giặc” trở về, anh bồi hồi trước “ con lạch tuổi thơ chẳng bé đi đâu/ chỉ tầm mắt và bước chân mình đã lớn lên cùng đất nước”  . Không nói gì trực tiếp đến quê hương, mà vẫn thấy thật sâu sắc, bởi tác giả đã từng “ Đi đến cùng trời / vẫn thấy hai con gà trong tầm mắt/ đi tận cuối đất/ vẫn thấy con lạch rì rào chảy mãi trong tim”.  Giản dị mà như một chân lý về tình yêu quê hương.

Anh nói đến cội nguồn bằng một hình ảnh tưởng như không liên quan gì đến tâm tưởng con người, nhưng lại rất sâu sắc “ Con chim có hai cánh/ bay lên tận những tầng mây xanh/ Bay qua trăm cánh rừng/ Bay qua nghìn ngọn múi” nhưng “ Con chim không bao giờ quên/ mặt đất nuôi sống mình”. Để rồi  “  khi chim mỏi cánh bay về/ ..từ mặt đất/ chim lại xòe đôi cánh bay cao” ( Cánh chim)

                Sưu tầm, chuyển ngữ và chỉnh lý hàng chục bản trường ca Chăm, nên thơ của Ka Sô Liễng cũng “ ngấm” ngôn ngữ của trường ca, đặc biệt là thủ pháp nhân hóa hình tượng các vị thần ( Yang) vốn đã rất gần với đời sống dân giã của người Tây Nguyên cổ xưa, cũng có đủ mọi nỗi buồn, vui, hờn giận “ Ông trời buồn/ Mặt nặng như chì/ Con ông trời đau nặng/…bà vợ ông trời lo cho con/ hét toáng vào tai chồng”. Ka Sô Liễng lý giải những cơn mưa thất thường của đất trời Tây Nguyên cũng bằng cách nhân hóa rất hồn nhiên ấy “ Con ông trời vẫn đau/ quằn quại giãy giụa/ nước mắt tuôn ra đầm đìa/ Ướt đầm cây cỏ/ Tràn khắp đất đai” ( Chuyển mưa)

                Bây giờ rời xa phố thị, tít tận trên miền rừng Phú Yên, Ka Sô Liễng vẫn không chỉ cặm cụi hoàn thành văn bản Luật tục Chăm, hoặc những bản trường ca như Chi PNâm ( mà theo anh còn dài hơi hơn những tập trước); mà còn cần mẫn biên soạn bộ chữ Chăm Hroaih, rồi tự nguyện đi đến mọi nẻo đường dạy cho lớp trẻ ( chẳng ai trả công cho việc ấy đâu); hoặc lại đang ghi ghi chép chép, sưu tầm ở một plei nào đó trên quê anh,  nơi có rẫy mì, rẫy bắp, ruộng mía… làm hành trang theo anh trên một chiếc xe máy cũ, chiếc máy ghi âm cũng già nua không kém, với vẹn nguyên một tâm hồn trong trẻo , luôn tươi vui trong mọi hoàn cảnh.

                Ka Sô Liễng cần mẫn với việc dùng những giọt mồ hôi của mình đổ ra trên từng trang giấy, để rửa sạch, để nâng niu những viên ngọc lâu nay nằm im dưới những lớp tro bụi thời gian, của một người làm công tác sưu tầm và dịch thuật, trân trọng trao lại làm tài sản cho các thế hệ mai sau. Anh chỉ có một mối day dứt, bận tâm  duy nhất “ Sau mình, lớp trẻ người dân tộc có ai say mê với văn hóa dân gian nữa không?”

                Câu hỏi chưa có người đáp lời. Nhưng tôi biết rằng anh vẫn luôn tận tụy với công việc, để rồi lại làm thơ, dịch thơ dân gian, đi dạy chữ,  như là một cứu cánh cho nỗi khắc khoải của anh.

 

[...]
Xem tiếp

A Giói từng là trưởng làng

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-03-07

Làng Le ( xã Mo Ray, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum) , là nơi cư trú duy nhất của tộc người Rmam, một trong 05  tộc người có chưa tới 1.000 dân của Việt nam

 

          Cùng với 6 làng Jrai trong xã, sống gần như biệt lập giữa lõi Vườn Quốc gia Chư Mo Ray, từ sau ngày định cư 1976, bà con làng Le đã vượt qua nhiều khó khăn trong tập quán canh tác, sinh hoạt, để xây dựng một cuộc sống mới phát triển cả về kinh tế lẫn văn hóa xã hội. Trong thành công đó, có đóng góp không nhỏ của những người cựu chiến binh, đảng viên, là người Rmam. 

          Cuối năm 2016, tròn 60 tuổi, “ rửa tay gác kiếm” giao chức vụ trưởng làng lại cho lớp trẻ, nhưng trong tâm trí A Giói chưa bao giờ quên những năm tháng cả làng hết chạy đến hang động này, lại chuyển vào rừng nọ, để tránh bom đạn giặc . Rồi những ngày kiên nhẫn vận động dân xuống núi định cư. Bây giờ ngoài sản xuất, ông có thể ung dung ngồi uống trà, nhớ chuyện xưa, nói chuyện nay được rồi.

          Người Rmam từng đói khổ lắm. Hồi xưa có tới 12 làng, bị dịch bệnh chết hết còn lại hai làng Le và Mam. Sát nhập lại cùng nhau gọi là làng Le Mam. Ấy vậy mà trong kháng chiến chống Mỹ, người Rmam vẫn lập căn cứ giúp đỡ cách mạng ngay trong lòng rừng núi của mình đấy chứ.

Hồi ấy, căm tức với nỗi khổ vì giặc giã ném bom, càn quét, phải dời  làng liên miên, đến tuổi thành niên, A Giói cùng hàng loạt trai tráng như A Blong, A Tiết, A Reng…quyết nhập ngũ theo bộ đội đánh Mỹ. Quần nhau với giặc , lập nên các chiến công khắp núi rừng Đăk Tô, Sa Thầy… Sau 1975, hơn 20 người lính lần lượt cùng xuất ngũ về làng, với quyết tâm xây dựng kinh tế phát triển cho người Rmam. Nhưng dù cố mấy thì tập quán sản xuất tự cung tự cấp, chọc lỗ trỉa hạt lúa hạt bắp trên rẫy dựa hoàn toàn vào tự nhiên, vẫn mang nhiều rủi ro. Cái nghèo, cái đói cứ đeo đẳng người Rmam như chiếc gùi hàng ngày gắn chặt trên lưng người phụ nữ sớm chiều ra rẫy.

          Là một cựu chiến binh, được dân làng tín nhiệm bầu làm trưởng làng, giữ cả vai trò  bí thư chi bộ , đi đây đi đó  thấy cuộc sống các nơi đổi thay, A Giói suy nghĩ rất nhiều đêm. Lại gặp, trò chuyện  được với bộ đội binh đoàn 15 về Sa Thầy trồng cao su, làm ruộng nước. A Giói bàn với chi bộ “ xuống núi thôi. Đất đai dưới đó rộng thế. Kiếm chỗ đất bằng mình học người Kinh làm ruộng nước, cho bớt cái đói, cái nghèo đi có nên không?”. Ý là thế, nhưng đâu phải ai cũng tin ? Người Rmam mình sống hết đời này qua đời nọ ở lưng chừng núi ( trên cao là nơi ở của các vị thần. Dưới thấp là nơi  tụ lại của các  hồn ma. Mình xuống ở đâu được ?) Vận động nhiều không xong, năm 1976 , A Giói cùng 3 hộ cựu chiến binh đảng viên khác, quyết chuyển cư  xuống khỏi núi Chư Yang Sít để lập làng  mới. Mình đi bộ đội, được học tập lời Bác Hồ “ người đảng viên phải gương mẫu, đi trước dân, làm trước cho dân noi theo” . Sao lại không làm đi chứ?

                   Công việc đầu tiên là khai hoang làm ruộng. Đất mới, giống mới, chưa biết làm cách nào, vụ đầu tiên 3 sào lúa chỉ được vài bao. A Giói không nản. Thấy được việc làm thiết thực của A Giói trong việc vận động quần chúng, bộ đội binh đoàn 15 dã vào cuộc giúp các hộ khai hoang ruộng nước. Gia đình A Giói dần có được 3 ha trồng củ mì, hơn 3 ha lúa nước. Có tiền rồi, ông tiếp tục băng rừng, lội suối ( hồi đó làm gì có ô tô, xe máy như bây giờ) mua gà, heo, trâu giống về nuôi. Đất rộng, cỏ tốt, heo, gà, trâu lớn nhanh, béo mập và phát triển rất nhanh. Ông còn học hỏi cách làm chuồng nuôi heo, nuôi gà , cả trâu cũng có người chăn dắt, không thả rông như tập quán xưa nữa.  Suốt ngày vợ chồng con cái quần quật ngoài vườn, ngoài ruộng, bên cạnh chuồng heo. Lần  đầu tiên ông thu về  được cả vài trăm bao lúa vàng rực. Người trên núi xuống xem như không tin ở mắt mình. A Giói mang lúa gạo giúp bà con cứu đói, lại tiếp tục khuyên giải. Nhưng cái chính là từ lao động có tính toán, kết hợp cả chăn nuôi và trồng trọt, sau chỉ sau vài năm nhà A Giói khá lên trông thấy. Con cái đi học trường gần trong xã, trường xa tận Kon Tum ríu rít những nụ cười sáng láng.

Thế là cả tộc người RMam cùng kéo về dựng nhà,  trồng lúa nước, bắp, mì... Mô hình “làng mới” của A Giói thành công. Làng Le thuộc xã Mo Ray được thành lập từ đó. Hàng chục năm nay, nhờ nhận thêm khoán chăm sóc cao su của bộ đội , gia đình A Giói và một vài đảng viên như A Blong, Rchăm H’Loan…vẫn là những hộ có đời sống kinh tế bền vững nhất làng. Riêng A Giói thu nhập hàng năm lên tới 400 triệu đồng. Điều mà theo ông “ hồi xưa mình ở trên núi, có ngủ mơ cũng không thể thấy được như thế ”. Ông luôn sẵn lòng giúp đỡ bà con, không chỉ hỗ trợ những lúc giáp hạt, thất mùa, mà cả giống cây trồng, những kỹ thuật sản xuất, chăn nuôi mà mình học được.

          Mo Ray là xã biên giới, lại ở sâu trong rừng Quốc gia  Chư Mo Ray, không nhiều dân cư, nên  tín ngưỡng truyền thống vạn vật hữu linh vẫn còn được bảo lưu. Chi bộ của A Giói một mặt vẫn tuân thủ mọi tập quán xưa trong việc cưới hỏi, tang ma, cúng tế…của làng, một mặt động viên khuyến khích bà con theo sự kêu gọi của chính quyền, đổi thay nếp sống nhưng gìn giữ lại những tinh hoa trong vốn văn hóa truyền thống của người Rmam. Gia đình cựu chiến binh, đảng viên nào cũng còn lưu giữ từ 1 tới 2 bộ ching – guông  và những chiếc ché cổ. Những lễ thức truyền thống  vẫn theo tập quán cũ. Thấy vậy bà con trong làng cũng làm theo. Làng Le là nơi còn bảo lưu tới gần 100 bộ guông – ching cổ, mỗi khi có lễ hội, tiếng guông và vũ điệu suang  rộn rã khắp làng. Khiến con người càng gần gụi, thân thiết nhau hơn. Tập tục chôn chung một mộ cũng được dần dần từ bỏ. Chuyện đồn đại về “ người rừng không đuôi về làng bắt heo gà và 2 người ” tồn tại  từ mấy chục năm qua, cũng được ông lý giải một cách hợp lý rằng “ rừng yên tiếng bom đạn nên có nhiều loại thú lạ đến sinh sống. Những người mất tích có khi không thích ở cùng nữa nên bỏ đi mà không muốn cho ai biết, chứ không phải do người rừng bắt ăn thịt đâu ”….Khiến bà con yên tâm đi rừng, sản xuất.

            Từ thành công của A Giói và 3 đảng viên ban đầu, đời sống người Rmam làng Le ngày một đổi thay, những căn hộ khang trang mọc lên thay cho nhà sàn đã quá cũ, không có vật liệu thay thế.  Ánh điện thắp sáng mọi ngõ xóm, tiếng radio, tivi, máy nghe nhạc rộn ràng đêm đêm. Xe tải xanh, xe máy cày đỏ, xe máy vèo vèo chở nhau trên đường làng đã nhựa và bê tông hóa tất. 100 % trẻ con đến tuổi đều đi học, không còn suốt ngày theo cha mẹ lê la lên rẫy. Xã chỉ có đến trường cấp hai, một số cháu ra Kon Tum học lên cấp 3, học trung cấp, cao đẳng nghề.  Hiện làng có cả người làm Giám đốc Sở, người là Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự thành phố Kon Tum. Năm ngoái đã có thêm 2 cháu vào đại học.

 Làng Le vẫn còn hộ nghèo, hộ đói, nhưng thật sự đã thay hình đổi dạng rồi. Trong đó có sự đóng góp không nhỏ của các cựu chiến binh, Đảng viên đã nghỉ hưu nhưng vẫn là những ngọn lửa sáng rừng đại ngàn.  

Cũng như A Giói, hơn 20 đảng viên và các thành viên của Chi hội Cựu chiến binh làng Le, với quyết tâm xây dựng quê hương phát triển bền vững, tuy tuổi đã cao và vẫn phải còn vất vả với nắng mưa để lao động sản xuất, nhưng luôn là một tập thể đoàn kết, đi đầu trong mọi phong trào vận động quần chúng, để làm gương cho lớp trẻ noi theo. 

[...]
Xem tiếp

Chị ấy xứng đáng được gọi là biên đạo múa

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-24-06

Đêm 15 tháng 5 năm 1975. Đoàn Ca múa Tây Nguyên về đến Buôn Ma Thuột. Sau một vài đêm diễn, được nghỉ một ngày trước khi di chuyển sang tỉnh Gia Lai – Kon Tum, một số anh chị em diễn viên trẻ vừa mới tuyển vài ngày ở đoàn Văn công Đăk lăk, đến chơi  tại khách sạn Hoàng Gia cũ ( Nay là trụ sở Hội VHNT Đăk Lăk), mới biết trưởng đoàn là nhạc sỹ Kpă Púi, phó đoàn nhạc sỹ Ama Nô và biên đạo múa có chị Siu Lai, vợ anh. Nhưng ngày ấy chúng tôi chưa  có dịp gặp nhau.

                                       

Vợ chồng nghệ sỹ Siu Lai ở Tây Nguyên năm 1973

Năm 1977,  tôi đang học đại học thanh nhạc ở Nhạc viện Hà Nội, nghỉ hè về thăm ba mẹ và các em ở Buôn Ma Thuột. Ba chúng tôi là người rất yêu thích văn nghệ, có giọng hát hay, hay hát, nên có lần đưa tôi cùng đi dự một đêm biểu diễn của Đoàn ca múa Đăk Lăk phục vụ Ủy ban tỉnh. Đó là lần đầu tiên  được xem các tiết mục múa “Kon Tuor, Cư Ka Dăm Dra, Dra Yú…” đậm tính chất trữ tình của âm nhạc và sự uyển chuyển của múa dân gian Ê Đê, Jrai, với cái tên đã từng được nghe “ dàn dựng Siu Lai”. 

Biết tôi nghỉ ở nhà tới 2 tháng, nhạc sỹ Kpă Púi  và nhạc sỹ Ama Nô cho người tới mời tập huấn thanh nhạc cho những ca sỹ của đoàn, chưa bao giờ được làm quen với kỹ thuật ca hát ( các bạn được tuyển vào đoàn tháng 4 năm 1975, nghĩa là chỉ một tháng sau ngày giải phóng Buôn Ma Thuột). Mạnh Trí, Quỳnh Như, Mỹ Lệ, Y Moan…những học trò đầu tiên của đoàn ngày ấy. Chúng tôi gắn bó với mọi người cũng từ đó. Và cũng dần thân thiện với vợ chồng nhạc sỹ Ama Nô – Siu Lai. Từ tình đồng nghiệp cũng có, mà tình cảm bạn bè cũng có.

Chúng tôi thật sự ngưỡng mộ hai vợ chồng anh chị, bởi hoàn toàn bản năng, mà âm nhạc và múa của họ biểu diễn tung hoành suốt trên chiến trường Tây Nguyên và Đông Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ hàng mấy chục năm trời. Ở đâu cũng được bộ đội và nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh. Kịch mục múa của đoàn gần như đều do chị Siu Lai dàn dựng. Chất nhạc Jrai vô cùng quyến rũ với những quãng hai thứ đầy âm hưởng trữ tình dường như chảy tràn trên sân khấu. Nhạc sỹ Ama Nô còn khéo léo lồng vào những đoạn lời hát dân ca Jrai nguyên bản, khiến cho âm nhạc trở nên khác lạ, lung linh hơn đối với tâm hồn người nghe. Trong các tiết mục múa, có thể bắt gặp tất cả những chất liệu gần như nguyên gốc của những động tác cơ bản dân gian Jrai, mà tôi đã từng say mê xem các bạn luyện tập ở Xuân Phú ngày nào, (khi đạo diễn Đinh Long Ta rời đoàn Ca múa Tây Nguyên về Đăk Lăk, mới sửa chữa và nâng cao Cư Ka Dăm dra lên đôi chút và mang đi Hội diễn 1979 đạt Huy chương vàng).

Được tuyển vào văn công Gia Lai – Kon Tum từ năm 13 tuổi. Cô thiếu nữ Jrai xinh đẹp với bản năng múa nổi trội, nhanh chóng trở thành diễn viên múa chính của đội. Bàn chân lọt thỏm trong đôi dép cao su đưa cô đi khắp chiến trường, từ ngọn nguồn sông Ba tới chân núi Kon Ka Kinh, Ngok Linh, tới cả bạt ngàn rừng cao su Tây Ninh . Da nâu, mắt sáng, dáng vóc cao ráo, mảnh mai. Nồng nhiệt và uyển chuyển trong vũ đạo, cô gái làm say lòng bao nhiêu chiến sỹ. Trong đó có cả người nhạc sỹ trưởng đoàn. Những điệu suang như mnga hla, tap mniê….các bà, các chị múa trong lễ hội ở buôn làng ngày nào, như sống lại trong tâm hồn mơ mộng của cô chiến sỹ - nghệ sỹ trẻ. Nhờ sự động viên của Rmah Dơng, Siu Lai mạnh dạn dàn dựng múa. Niềm hạnh phúc của một thiếu nữ dân tộc vốn chỉ quen với rừng suối, rẫy nương, nay được hát múa một cách tự nhiên  trước con mắt bao nhiêu chàng lính trẻ và tình yêu đối với nghệ thuật, với người nhạc sỹ cũng rất trẻ có giọng hát truyền cảm, là niềm cảm hứng cho tâm hồn chị thăng hoa.

Múa tập thể nữ “ Tông ching”, múa tập thể nam nữ “Cư ka dăm dra” phát triển từ dân vũ Jrai, múa đôi nam nữ “  Vui gặp gỡ” về tình cảm bộ đội và thiếu nữ Tây Nguyên, hoạt cảnh múa “ Du kích chống càn” là hình ảnh buôn làng Tây Nguyên tham gia cắm chông chống giặc… lần lượt được dàn dựng và chính chị tham gia biểu diễn vai chính suốt cho đến tận năm 1975.

Sau chuyến đi miền Đông Nam Bộ ( 1967) trở về Siu Lai từ giã đội văn công Gia Lai- Kon Tum, để ở lại với đội B5 của tỉnh Đăk lăk, kết hôn với người nhạc sỹ tài hoa Rmah Dơng. Nhờ thời gian tập huấn ở căn cứ Tây Ninh, chị thêm vững tin ở mình, dựng lại một vài tiết mục được xem các đội bạn ở Trung ương Cục biểu diễn, như múa “ Múa dù, Hái chè bắt bướm, Tiếng chày trên sóc Bom Bo…” làm cho chương trình biểu diễn của đội luôn luôn sinh động, đa dạng, mới mẻ và tươi trẻ.

Sau ngày thống nhất đất nước, Siu Lai còn công tác ở đoàn Văn công Đăk lăk một vài năm nữa. Rồi tự thấy mình không theo kịp những trào lưu nghệ thuật mới,  toàn thể số diễn viên của những ngày chống Mỹ tự nguyện chuyển sang công tác ở ngành khác. Riêng Siu Lai bàn với chồng để một mình anh tiếp tục công việc ở Phòng nghiệp vụ Ty văn hóa, còn chị, nghỉ hẳn. Không trở về quê hương Gia Lai. Mua rẻ một miếng rẫy bên bờ suối ở ven thành phố Buôn Ma Thuột, nơi anh chị đã gắn bó suốt một thời hoa lửa, chị vui vẻ bắt đầu với cuộc đời của một thảo dân, khi tuổi mới vừa 28. Không một chút oán hờn, không một lời thở than, cũng chẳng Huân chương huy chương gì, 40 năm qua, Siu Lai nhẫn nại với vườn cà phê nhỏ ven suối, đàn bò vàng, bày dê trắng…như một nông dân đích thực. Ấy vậy mà khi nhắc tới những kỷ niệm xưa về múa, ánh mắt chị rực sáng, giọng nói sôi nổi hẳn lên. Quá khứ của một thời tuổi trẻ không kém hào hùng trên những nẻo đường nhảy múa hát ca phục vụ chiến trường chưa bao giờ phai mờ trong tâm hồn chị.

15 năm gắn bó với sân khấu dã chiến ở khắp chiến trường Tây Nguyên, múa say mê giữa bom đạn, Siu Lai xứng đáng được gọi là một biên đạo múa, một Nghệ sỹ - Chiến sỹ đích thực.

 

 

[...]
Xem tiếp