Linh Nga Niê Kdăm
taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

“Gà xếp hàng” ăn với cơm lam ở Pleiku

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-06-02

Du khách đến chơi ở thành phố Pleiku (Gia Lai) được người địa phương thường dẫn đi thăm một số cảnh đẹp Phố Núi và thưởng thức những món ăn đậm đà hương vị Tây Nguyên, do chính những người dân Jrai chế biến. Nhưng nếu chưa đến xã Tân Sơn ăn “gà nướng xếp hàng” và cơm lam thì là thiếu sót lớn của cả khách lẫn chủ.món “gà xếp hàng” và cơm lam độc đáo do chính những người dân Jrai ở xã Tân Sơn chế biến:

 

Gà tơ thả lang khoảng chừng một ký rưỡi trở lại, làm sạch để trong rổ chừng 10 phút cho ráo nước rồi dùng dao rạch vào thịt, cho vào thau gia vị (mật ong, dầu mè, muối, tỏi bằm, tiêu sọ đâm dập, gừng xắt sợi, vỏ cam sắc sợi...). 

Gà ngấm gia vị sẽ được cho vào kẹp nướng là cây lồ ô (hoặc nứa) chẻ đôi. 

Để nướng gà, đồng bào Jrai cho đốt một đống than cỡ lớn.

 Gà không nướng trực tiếp trên than, mà được thợ nướng cắm thành hai hàng xung quanh đống than. Cũng có khi thợ nướng cắm thành vòng tròn. Hơi nóng của đống than sẽ tỏa ra xung quanh, làm gà chín rất chậm. 

Theo đồng bào người Jrai, gà nướng kiểu này nhất định phải cắm trên nền đất. Mỡ gà theo sẽ chảy theo thanh lồ ô kẹp gà, chảy hết xuống đất.

 Thịt gà khô dần, thợ nướng thỉnh thoảng xoay que nướng cho đến khi gà chín tới, vàng ươm, thơm lừng. Khi ăn dùng tay xé nguyên con gà, chấm muối é, ớt xanh, muối là muối hầm hạt to rang lên và bỏ vào cối giã nhỏ.

 

Trong thời gian chờ gà chín (hơn 60 phút), du khách được người Jrai hướng dẫn cách nấu cơm lam nấu bằng gạo nếp ngâm lẫn với lá thơm đêm trước, cho vào ống nứa non. Khi gạo đã đầy hai phần ba ống, người đầu bếp dùng lá chuối vê thành nút đóng kín ống nứa. 

Khi chờ gà chín, các ống nứa sẽ được vùi vào đống củi vụn, lá cây đang cháy.Gà chín tới cũng là lúc ống cơm lam vừa chín tới. Khi ăn, thực khách sẽ dùng tay tước lớp vỏ nứa, ăn kèm với gà.

Theo Dân Việt

[...]
Xem tiếp

Hoa anh đào Mường Phăng

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-06-02

Điện Biên đầy mời gọi với tháng 3 hoa ban trắng trời, tháng 5 rợp trời cờ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, tháng 8, 9, 10 mùa lúa chín vàng, tháng 11, 12 dã quỳ rực rỡ trên đồi A1, và thời điểm này, trên mảnh đất Mường Phăng lịch sử hàng ngàn cây hoa anh đào của Nhật Bản đang khoe sắc tạo nên một khung cảnh vô cùng độc đáo.

 Điều thôi thúc chúng tôi lên đường là mùa hoa anh đào trên đất Mường Phăng vừa bắt đầu. Nghe nói, chính những du khách Nhật đến đây còn thấy ngỡ ngàng, chứ đừng nói tới du khách trong nước mơ một lần chiêm ngưỡng loài hoa anh đào của xứ sở mặt trời mọc. Vậy là, từ thành phố Điện Biên, chúng tôi đi theo đường Võ Nguyên Giáp tới đường AH13, đến quốc lộ 279, tới đường Trường Chinh.

Với đường đi này chỉ mất chừng 6 km để tới được hồ Pá Khoang. Tới hồ Pá Khoang, ngồi trên canô khoảng 10 phút trên là ra tới đảo hoa anh đào. Từ trên mặt hồ, cách xa hàng trăm mét là đã được chiêm ngưỡng hoa anh đào nhuốm sắc hồng rực rỡ trên hòn đảo nổi giữa lòng hồ.

Sự bất ngờ tới kinh ngạc khi chúng tôi được chứng kiến ngay trên mảnh đất Mường Phăng – nơi  cách đây hơn 60 năm, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ đạo xây dựng cơ quan đầu não của quân đội - Sở Chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ để làm nên một chiến thắng lịch sử “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, thì nay nơi đây trở thành một điểm nhấn đặc biệt của du lịch Điện Biên, rồi loài hoa anh đào chọn vùng đất từng vô cùng khắc nghiệt này để sinh sôi cũng là chuyện hết sức kỳ thú.  

 

                                                                      Hoa anh đào ở Mường Phăng.

Và ở đây, chúng tôi cũng được nghe tiến sĩ Trần Lệ - Giám đốc Công ty cổ phần công nghệ nông lâm Mường Phăng kể về những ngày đầu gây dựng đảo hoa anh đào - câu chuyện có vẻ nhuốm màu cổ tích: Bắt đầu năm 2006, tiến sĩ Trần Lệ được một cán bộ Đại sứ quán Nhật Bản đã tặng anh 10 hạt giống hoa anh đào để ươm tại Việt Nam. Vì trót yêu loại hoa này nên anh đã ươm được 9 cây trưởng thành.

Thấy cây phát triển tươi tốt, Đại sứ quán Nhật Bản tại Hà Nội đã xin lại 5 cây, còn lại 4 cây vẫn tiếp tục trồng trên đảo. Sau chừng 3 năm, cây anh đào bắt đầu ra hoa và kết quả. Từ số cây giống này, anh nhân tiếp thêm hàng nghìn cây hoa anh đào. Và kết quả là sau gần 10 năm, trên đảo giữa hồ Pá Khoang nhuộm sắc hồng rực của hoa anh đào  mê hoặc du khách. 

Tiến sĩ Trần Lệ giải thích: Nằm ở độ cao trên 1.000 m, Mường Phăng vào mùa đông không có mưa và mùa hè không nóng. Nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm lên đến 10 độ C. Những yếu tố này phù hợp với sự sinh trưởng của hoa anh đào. Với kinh nghiệm nhiều năm nghiên cứu về hoa anh đào Nhật Bản, tiến sĩ Lệ đã chọn giống hoa Edohigan Sakura của đảo Kyushu. Anh cho biết, đảo Kyushu không có tuyết, do đó, hoa anh đào ở đây sẽ phù hợp với khí hậu của Điện Biên. Loại này rất sai hoa, nở bung thành những cụm lớn màu đỏ sẫm và đỏ nhạt suốt từ gốc tới ngọn, thời gian nở hoa kéo dài tới 3 tuần lễ.

Bây giờ hoa anh đào Mường Phăng mới nở chừng 30%, dịp nghỉ Tết Nguyên đán này, du khách vẫn có thể lên Điên Biên để ngắm hoa anh anh đào. Như vậy là, từ một khu đảo hoang vốn là bãi chăn thả gia súc, nơi đây đã hình thành một đảo hoa anh đào và trở thành một điểm thu hút du khách của vùng đất Mường Phăng lịch sử. 

Một điều thật đặc biệt là hồ Pá Khoang cũng nằm trong cánh rừng nguyên sinh Mường Phăng. Hồ Pá nổi tiếng là công trình thủy lợi nhân tạo, được xây dựng vào những năm 1970 hàng chục nghìn thanh niên xung phong góp sức. Lòng hồ có diện tích khoảng 600 ha với dung tích trung bình gần 40 triệu m3 cung cấp nước tưới cho cả cánh đồng Điện Biên Phủ. 

 

Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ nằm trong rừng nguyên sinh, xã Mường Phăng.

Từ đảo hoa đào, chúng tôi tới thăm Sở Chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ cũng nằm trong khu rừng nguyên sinh thuộc địa phận xã Mường Phăng, huyện Điện Biên. Nơi này trước đây ít được nhắc tới bởi nó không phải là điểm diễn ra những trận đánh ác liệt, mà là một địa chỉ cần được giữa bí mật tuyệt đối. Tại đây vẫn lưu giữ được nhiều di tích có giá trị lịch sử tiêu biểu như: hầm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hầm Thiếu tướng Hoàng Văn Thái...

Du khách đến đây rất thích thú khi phát hiện ra chiếc bếp Hoàng Cầm không để khói bay lên, giúp đảm bảo an toàn cho căn cứ và vẫn giúp bộ đội ta có đủ bữa ăn để lấy sức đánh giặc, hay cách bố trí phòng thủ và khả năng che giấu của bộ đội ta trước sự theo dõi điên cuồng của lực lượng thám không thời đó...

Trên đường trở ra, những bản làng của Thái thấp thoáng ẩn hiện theo từng khúc quanh co. Tiếng mõ trâu bỗng hóa thành âm thành kỳ diệu giữa chốn thanh bình... 

   Ngọc Hà

[...]
Xem tiếp

Làm gì đi chứ ?

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-28-01

Thạc sỹ  Hril Siu  người dân tộc JRai ở Gia Lai mời bạn bè trên facebok đọc lại bài viết của GS Phan Đăng Nhật “ Hãy cứu lấy sử thi Tây Nguyên”.và tôi đã đăng lại.  Các bạn nhắn hỏi “ Sử thi đồng nghĩa với từ gì  trong tiếng Jrai ?”. Cho mình lý giải theo cách hiểu của mình chút nha : )… là một loại hình văn học truyền miệng dân gian - những câu chuyện rất dài bằng văn vần vừa hát vừa kể - đã từng rất phổ biến trong đời sống sinh hoạt của mọi tộc người trên dãy Trường Sơn – Tây Nguyên,người TN mình gọi là Khan, Akhan, K’han…( Ê Đê), H’Mon ( Bâhnar), H’Ri ( JRai), Ot n’trong ( Mnông),A Kha du car ( Rak Glay),  Yang Yao ( K’Ho)….

                                                             Hát - kể Hmon Bâhnar

             Sử thi chỉ là cách gọi của các nhà khoa học đối với những tác phẩm có những nội dung để người đọc có thể hình dung đời sống, xã hội, phong tục tập quán …của các tộc người thiểu số TN chúng ta. Những tác phẩm nào chỉ mang tính sinh hoạt thì không được gọi là sử thi. Chính vì vậy mà những năm đầu thế kỷ 21, bên Kon Tum sưu tầm được 6 bản H’Mon của người Bâhnar RNgao, gửi sang nhờ dịch và còn rất nhiều những bản H’Mon, Khan, Hri… như thế đã hoặc chưa được sưu tầm - đều bỏ qua, không công nhận .( Cá nhân mình thì ưng gọi  là trường ca cho tất cả mọi nội dung).

Trước hết, phải cảm ơn những “ Báu vật nhân văn sống” – theo cách gọi của Unesco – đã có tài năng vô bờ, công sức & tâm hồn nghệ sỹ để gìn giữ cho con cháu đến tận thế kỷ 21 này những tác phẩm văn học truyền miệng đồ sộ, độc đáo, không đâu trên thế giới có như vậy ( Trong Hội nghị sử thi Quốc tế năm 2007, có 16 nước tham gia, nhưng đều chỉ có từ 1-8  bản).

Sau nữa là những nhân sỹ Tây Nguyên như cụ Điểu Kâu, anh A Jar, Y Kiưch, Cham Maliaq Tiẻng, Y Wơn Kna, Y Kô Niê, Nay Jek…đã ghi âm và dịch thô sang tiếng Việt 

Tiếp theo là các nhà khoa học – toàn arang hết - đã hiểu, mà không chỉ kiến nghị với Nhà Nước chi những khoản tiền rất lớn ( con số cuối cùng là hơn 17 tỷ) và bỏ công sức, thời gian sưu tầm ( công đoạn đầu này không có bất cứ người dân tộc nào tham gia, ngoài việc đi theo làm phiên dịch để giao tiếp). Và công bố. Nhất là chương trình sưu tầm kết thúc năm 2007, đã  xuất bản 72 cuốn sách song ngữ đồ sộ, với gần  80 bản trường ca được coi là sử thi. Còn những người sưu tầm khác chưa tính.

Như thế để thấy rằng kho tàng văn học dân gian truyền miệng này của người TN, dẫu cho có những đứt gãy ở một vài tộc người, vẫn vô cùng, vô cùng đồ sộ & phong phú ( bạn nào thích thì tìm hiểu thêm nha). Và là một trong những hoạt động của  “ Không gian VHCCTN” đấy. Năm 2014, Nhà nước đã công nhận H’Mon Bâhnar là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Năm 2015, tỉnh Đăk lak cũng làm hồ sơ đề nghị Khan Ê Đê là Di sản VHPVT Quốc gia.

Đến đây thì mình băn khoăn tự hỏi : sao không có ai trong cả triệu người dân tộc TN tham gia vào việc sưu tầm thể loại VH này nhỉ ? Mình đếm đi đếm lại thấy có mấy người thôi à : Ka Sô Liễng ở Phú Yên, Nga Ri vê ở Quảng Ngãi, Plin ở Lâm Đồng và mình có chút chút. Nhưng có cái này không đếm được nè : không biết arang có bao nhiêu người đã đã mổ xẻ sử thi TN để có được học vị Tiến sỹ, thạc sỹ nhỉ ? Các bạn có trả lời được vì sao không? Vì chúng ta không có điều kiện à? Mình ở ngày trong buôn , bon, kon, plei cơ mà? Không có tiền ư? Ngày trước có nghệ nhân nào kể vì tiền đâu? Hay vì chưa hiểu hết giá trị tinh thần của những gì chúng ta có?? Để các bạn tự trả lời  đi ha.

Người ta nói nhiều đến việc “ Cứu lấy sử thi”. Những giải pháp các nhà khoa học đưa ra thì nửa vời,không thực tế, hoặc làm rồi bỏ đấy ( ví dụ như Hội thảo “ Đưa sử thi vê flaij buồn làng” chỉ toàn các nhà khoa học trung ương, chỉ có một trí thức người dân tộc Tây Nguyên được cử đi thay PHó GĐ Sở,\ tham dự. Hay việc in sách mỏng song ngữ, đã từng làm và dang dở).

Đó cũng là những việc mình từng kiến nghị : In sách song ngữ từng cuốn mỏng tặng lại bà con, đọc trên đài các thứ tiếng dân tộc cả ở địa phương và đài TW, thi kể trường ca trong các ngày hội…Còn Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Tuệ thì thiết thực hơn trong việc kêu gọi trao “ lương” cho các nghệ nhân hát – kể sử thì ở Gia Lai & Kon Tum ( 300 ngàn đồng/tháng) và đã làm được, chỉ tiếc rằng các cụ đều đã hơn cả “ xua nay hiếm rồi và sẽ mang về cõi Mang lung tất cả di sản quý báu ấy.

Còn nữa nhé, việc các bạn tranh luận và trách Thạc sỹ Nay Kỳ Hiệp đã nêu ý kiến của mình về chuyện Vua Lửa, Vua Nước, rằng  “ sao không đi tìm, cứu  trích cú tầm chương của người ngoại đạo làm gì ”. Hoặc “ tôi ủng hộ cả hai tay ( hay là khoanh tay ?), ai có điều kiện…”

 Đứng trên cách nhìn của người  làm công việc sưu tầm, nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên, NKH viết như vậy là đúng với trách nhiệm và vị trí của anh ấy.  Chỉ ra vấn đề còn thiếu vắng cho những ai quan tâm đến văn hóa Tây Nguyên, là trách nhiệm của người làm công tác quản lý. Còn anh ta có thực thi được không, thì cũng như các bạn thôi, “tùy vào hoàn cảnh & điều kiện” . Vấn đề là ai làm ? Ai nghiên cứu? Tôi có thể liệt kê từ sau 1990 đến nay, chỉ có chưa đầy 20 công trình sưu tầm, nghiên cứu về VHTN do các trí thức người dân tộc bản địa ( quên, người ta bảo từ nay phải gọi là tại  chỗ, không nên dùng từ bản địa nữa) thực hiện. Riêng về tộc người Jrai, nếu tôi nhớ không nhầm mới có 3 công trình . Còn lại toàn do các nhà khoa học và trí thức trong và ngoài nước thực hiện hết.

Từ thời Pháp đến nay, Văn hóa cổ truyền Tây Nguyên luôn có sức hấp dẫn rất lớn đối với giới nghiên cứu khoa học văn hóa trong và ngoài nước. Hấp dẫn bởi chính sự độc đáo, riêng biệt và phong phú của bản thân NỀN VĂN MINH NƯƠNG RẪY ấy. Luôn tồn tại song song và rực rỡ không kém với NỀN VĂN MINH LÚA NƯỚC  của người Việt (cụm từ này  của riêng tôi thôi và  chưa chắc đã có nhà khoa học chính thống nào đồng ý) . Người ta đam mê, yêu mến nên đổ xô tới tìm hiểu ( như Đức Cha Jacques Dournes nói “ phải hiểu để yêu, nếu có yêu thì mới hiểu” hết được vẻ đẹp ấy ). Hơn nữa, nhờ nghiên cứu mà có học vị, có tiền, tại sao lại không cơ chứ? Chưa tính thời Pháp, của người Pháp, chỉ  từ 1950 đến nay, đã có tới hàng vài trăm công trình nghiên cứu về văn hóa  truyền thống  Tây Nguyên. Không dám “ vạch vòi” nhưng tôi đảm bảo sự chính xác của các công trình sưu tầm, nghiên cứu ấy  chỉ chừng 70 - 80% là cao lắm lắm. Nói lén nha, tôi biết có “nhà” nọ, năm nào cũng có một công trình nghiên cứu về Văn hóa Tây Nguyên, được cấp hàng trăm triệu, để đi thuê mướn  các cộng tác viên thực hiện rồi  tổng hợp. Để rồi  đọc trang nào cũng thấy có điều phải bàn. Hoặc GS khác : “ người TN đúc chiêng xong phải lấy huyết trâu bò trét lên âm thanh mới vang. Bây giờ người ta mua chiêng Thái bóng đẹp về dùng, cồng chiêng cổ bán hết rồi”…vv…  Ai cần nghiên cứu lại và sửu dụng những thông tin từ những công trình chính thống ấy là lặp lại cái sai lần thứ hai. Vì những tư liệu thiếu chính xác kiểu như thế, nên trong một cuộc hội thảo về sự hình thành và phát triển 100 năm của thành phố Buôn Ma Thuột, có tới 4-5 bài viết về “ Vua Lửa & Vua Nước” thuộc địa bàn tỉnh Gia Lai. ( mà cũng lại  nói cho rõ nhé danh xưng “ Vua Lửa, Vua Nước, Vua Gió, Vua Voi….” Đều là của các nhà sử học, nhà khoa học, nhà báo người  Kinh khoác lên các ông, còn đúng như Thạc sỹ NKH nói, người Jrai, Ê Đê chỉ gọi các ông là Ptao, Mtao- hiểu cho đúng nghĩa là danh xưng tôn vinh các “ Thủ lĩnh bậc cao ” , trên cả những kră plei, Khua elan, khua pin ea thôi (  khua buôn là của người Pháp đặt ra đấy ).

Tôi không  “ phân biệt chủng tộc” và vô cùng trân trọng các nhà sưu tầm, nghiên cứu, các nhà khoa học đã vì yêu mà đến với VHTN. Bởi không có các anh chị thì những giá trị văn hóa quý báu ấy chìm lấp hết cả rồi. Nhưng vấn đề mà tôi luôn muốn hỏi các bạn trí thức người Tây Nguyên là : sao lại để cửa nhà mình mở cho arang tự do vô nhòm ngó, hay kể lể thậm chí mang đi bán mua mọi chuyện, mà  không có ý kiến gì thế? Họ hiểu sai là đúng thôi, vì như bạn Jos Vinh nói đấy, có phải người trong cuộc đâu? Các bạn có thể “ xù lông”  lên khi nói đến “ tôi yêu dân tộc”, thậm chí sẵn sàng “ chăm ” kẻ xúc phạm, nếu được. Vậy mà mấy ai dám dấn thân vào con đường bới tro tìm lại hòn ngọc văn minh của chính tộc người mình không ? Còn bao nhiêu thanh niên biết chơi ching chêng, yêu cây đàn ting ning, đinh năm, brok? Bao nhiêu người dám hãnh diện mặc chiếc áo, váy dân tộc mình “ tự sướng” trên Facebok? Có ai dám đứng ra sửa nhà sàn làm buôn du lịch homeste như người Thái ở Điện Biên, gìn giữ trang phục truyền thống như người H’Mông di cư vào Đăk Som ( Đăk Nông) ? Và có lên tiếng cải chính những nhận định sai  về văn hóa tộc người mình không? Hay buôn bon kon plei  mình đua nhau bỏ nhà sàn, xây nhà biệt thự hàng trăm triệu đồng? Năm 2010, nhóm 5 trí thức dân tộc chúng tôi đi tìm hiểu văn hóa K’Ho, lớp tuổi từ 60 trở xuống không còn nhớ gì. Có đau lòng không các bạn.? Trách ai bây giờ?Hu hu.

Tôi không muốn khoanh tay ngồi nhìn, vì đã bước chân đến cuối con dốc của cuộc đời rồi, nên đó là những điều tâm huyết muốn nói với các bạn đấy thôi. Hãy tự hỏi mình đi.  Đừng khích bác, châm biếm chê bai nhau để người ta coi thường. Mỗi người một ít, làm được gì, kiểu gì để níu giữ được văn hóa dân tộc thì làm. Cho chính mình hôm nay và mai sau mà.  Đừng để arang làm hộ mình hoài như thế.  Nhưng nếu không còn bạn trẻ nào xúm vô, thì đành buông xuôi cho nó mất đi thôi, dẫu đó là “ Kiệt tác Di sản văn hóa phí vật thể truyền khẩu của NHÂN LOẠI” đi nữa.

Vậy các bạn, những người dân tộc Tây Nguyên ta ơi ? hãy hỏi ông bà ở trong buôn, tự hỏi cả chính chúng ta nữa, rồi  đề xuất đi. Chí ít là trên facebok thôi cũng được mà. Gỡ bí dùm  đi. Nói như bạn Hril Siu rằng “ Hãy bắt đầu hành động, nếu không sẽ hối tiếc suốt đời của mỗi dân tộc mình!”

[...]
Xem tiếp