Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

H'Thuận ở buôn Um

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-07-09

          Vẫn là đang giữa mùa mưa. Xe chúng tôi chạy 50km/giờ trên đường nhựa suốt từ thị trấn Ea Kar vào tới gần chân núi Cư Prong. Xanh đến mát mắt là tiêu và những cánh đồng bắp đang nở hạt lao xao trong gió. Vài cây vông đỏ rừng rực vươn cao trên vườn cà phê như muốn đọ với cái nắng ong óng vàng. Lúc ấy chúng tôi chưa hề biết có một sự bất ngờ đang chờ ở buôn Um.

          Nhóm sưu tầm văn hóa dân gian Tây Nguyên chỉ định gặp gỡ các nghệ nhân hỏi han, đo đạc, nghe một vài bài ching của người Ê Đê Drao. Bởi lần trước đã liên hệ, nhưng người già ở buôn Tring bên cạnh nói “ chưa đủ tuổi để làm lễ cúng sức khỏe có múa”. Thế đấy, đành phải bỏ.  Thật ra, bây giờ muốn tổ chức lễ lạt gì trong các buôn Tây Nguyên cũng khó. Phần vì vướng tín ngưỡng, phần thiếu thốn về kinh tế, thậm chí kể cả không còn ai biết cúng nữa ấy chứ. Ví như tập quán cúng mừng sức khỏe này, một vòng đời người có ít nhất là 3 lần được chúc phúc. Thấp nhất là hơn 40 tuổi, cúng 3 ché rượu cần, với 1 con heo. 60 tuổi cúng 5 ché, 2 con heo ( heo to nhỏ gì cũng được nha). Cao tuổi hơn nữa, cũng là lần cúng cuối cùng 7 ché rượu, có khi phải ăn bò hay trâu. Đó là tập quán tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ của tộc người Ê Đê. Lần cúng nào cũng phải có tiếng ching, nhưng không phải lễ gì cũng được trình diễn múa.

                                  

Buôn Um ( xã Cư Prông, huyện  Ea Kar, Đăk lăk) là xã xa nhất của huyện. Từ trung tâm huyện Ea Kar về tới đây hơn 30 cây số, sát tận chân núi, lại chỉ có vài hộ đã chuyển đổi tín ngưỡng thờ phượng. Nên chi bộ, chính quyền biểu quyết 100%  nhất trí duyệt chi ngân sách vốn đã ít ỏi của địa phương, để tổ chức thực hiện phục dựng bảo tồn văn hóa, một lễ cúng sức khỏe theo đúng truyền thống cho trưởng buôn, vì “ mấy khi có dịp ôn lại văn hóa của tộc người”, cũng để bà con trong buôn hưởng thụ luôn. Già làng, người vẫn duy trì các lễ lạt đã mất cách nay gần 3 năm. Từ đó đến nay buôn không còn lễ cúng nào nữa. Nên lễ chúc sức khỏe là một bất ngờ thù vị đã chờ đợi chúng tôi.

Người được ưu ái nhận lễ là vợ chồng Amí Síp, tức H’Thuận Niê, trưởng buôn Um, phó bí thư chi bộ. ( Cũng phải nói thêm : chi bộ buôn Um có 10 đảng viên, 5 người dân tộc thiểu số, vậy mà nghị quyết chi kinh phí tổ chức cúng đưa ra, được 100% tán thành và ai cũng háo hức chờ đợi). Đây cũng coi như cơ duyên trên con đường sưu tầm và nghiên cứu văn hóa dân gian Tây Nguyên của Tiến sỹ Lương Thanh Sơn, nguyên giám đốc bảo tàng Đăk Lăk và tôi, may mắn được vinh hạnh có mặt chiêm bái. Chuyện lễ lạt để nói vào lúc khác, đối tượng quan tâm của chúng tôi là vị nữ trưởng buôn có khuôn mặt tròn và nụ cười hồn hậu rất tươi, ra tận đường lộ tay bắt mặt mừng chào đón.

                                

          Cứ nhìn những tấm giấy khen, bằng khen treo dọc suốt hai bên dầm mái nhà sàn dài đã thấy có nhiều điều muốn hỏi về H’Thuận. Sinh năm 1965, hết làm phụ nữ buôn cho đến giữ chức chủ tịch Hội phụ nữ xã tới 2 khóa liền. Đến khóa 2015 này mới nghỉ để về  làm Phó bí thư chi bộ kiêm buôn trưởng. Làm chủ tịch Hội phụ nữ, chị liên tục được khen thưởng vì khéo vận động chị em, đặc biệt là phụ nữ người dân tộc ở các buôn trong xã. Nhưng H’Thuận bảo “ nói chuyện xã làm gì,nghỉ rồi, cứ việc buôn thôi nha”. Phụ nữ buôn Um và các buôn quanh đây, đều thực hiện tốt phong trào 5 không : không sinh con thứ 3, trẻ em không suy dinh dưỡng, học sinh không bỏ học, không bạo lực gia đình và không tội phạm. 3 sạch : sạch ngõ, sạch nhà, sạch bếp. Hồi nào giờ chị em người dân tộc thiểu số có ai quan tâm đến những điều này đâu, cứ sinh ra sao là sống hồn nhiên vậy thôi. Thế mà sau khi nghe phân tích, chị em nào cũng hồ hởi chấp hành, thi đua nhau mà thực hiện. Phong trào phụ nữ xã được coi là một trong những hội mạnh của huyện đấy.

H’Thuận cười “ mình 2 trai, một gái là từ trước cuộc vận động rồi nha”.   Vợ chồng tự hào trai anh là lính đặc công đóng  ở Đà Nẵng, trai em đang học trung cấp chính trị trên tỉnh. Gái út đi học cũng luôn đạt điểm giỏi. 5 năm liền gia đình chị được bà con trong buôn bình chọn là Gia đình văn hóa.  Hai vợ chồng H’Thuận dù bận việc tập thể, vẫn rất chăm chỉ rẫy nương. Thế nên 6 sào lúa, 2 ha củ mì, 1 ha hoa màu các loại của gia đình chị năm nào cũng tốt bời bời. Vụ vừa qua thu tới 5T lúa. “ Gia đình cán bộ không gương mẫu, không no đủ, không hạnh phúc, sao nói được chị em”. Bằng tấm lòng, bằng sự hiểu biết, H’Thuận rủ rỉ tâm sự, chỉ ra những gì của phong tục cũ nên từ bỏ, những gì của cuộc sống mới cần tiếp thu. Nghe chị, phong trào gì của địa phương, phụ nữ cũng tham gia tích cực. H’Thuận còn vận động thí điểm mô hình nhóm phụ nữ giúp nhau 10/1. Nghĩa là 10 chị phụ nữ ở thôn 7 làm ăn giỏi, khá giả trong xã, nhận đỡ đầu, giúp đỡ một chị người dân tộc thuộc diện hộ nghèo, neo đơn ở buôn Um. Giúp, không có nghĩa là chỉ hỗ trợ tiền bạc, con giống ngan, gà, heo, mà cả phương thức sản xuất lẫn cách chi tiêu, chăm sóc nuôi con khỏe dạy con ngoan, ứng xử  trong gia đình nữa… Chị em Kinh – Ê Đê mà gắn bó rất thân thiết như trong một nhà, đau ốm, sinh nở đến nhà nhau thăm hỏi, tới mùa vụ cũng xúm lại giúp nhau canh tác.  Mô hình bước đầu thành công, người phụ nữ được giúp đã vượt lên khỏi hộ nghèo. Xã dự kiến nhân rộng ra  toàn địa bàn

Hỏi chuyện buôn Um, H’Thuận nói vanh vách không cần giấy tờ : buôn có 41 hộ, 196 khẩu, đều là người Ê Đê nhóm Drao. Trước đây ở M’Drak, nhưng do tách hộ, định cư, nên chuyển về Ea Kar hàng chục năm rồi. Bà con đều chăm chỉ làm ăn, tìm tòi giống mới phù hợp.  Nhưng cả buôn chỉ có 90 ha đất canh tác. Đất ở đây lại là cát pha nên không trồng được cà phê. Diện tích nhiều nhất là 56 ha trồng củ mì, 12 ha lúa 2 vụ, 18 ha bắp đậu, 5 ha mía và chăn nuôi 86 con bò. Heo giống cũ của buôn thì nhà nào cũng có vài con dùng cho khi có lễ tiết. Mặc dù đã sử dụng các giống cây trồng năng suất cao do huyện, xã chỉ dẫn, nhưng kinh tế vẫn chỉ dựa vào nông nghiệp nhỏ lẻ.  Cũng may đường giao thông từ huyện về xã, về buôn bây giờ nhựa hóa thuận lợi, điện cũng đã kéo về tận nơi, nên dù xa xôi, bà con giao thương, mua bán nông sản cũng dễ dàng hơn. Có việc gì cần đến tiền như cho con cái đi học, mua phân, mua giống…chỉ trông vô đàn bò và năng suất củ mì thôi.  Nên cả buôn không gia đình nào thiếu ăn, nhưng không giàu lên được.

Hỏi thêm về việc bảo tồn văn hóa không gian văn hóa cồng chiêng, giọng H’Thuận có vẻ buồn hẳn. Mặc dù đại bộ phận người dân trong buôn vẫn giữ tín ngưỡng truyền thống, cả buôn vẫn còn 100% nhà sàn gỗ, nhưng nhiều năm trước kinh tế không phát triển, thiếu ăn, nên việc tổ chức các lễ lạt ít dần, ching ché bán đổi gạo hết… Tuy vậy, ngày còn già làng, năm nào buôn cũng đóng góp làm lễ cúng bến nước nho nhỏ, cầu bình an cho buôn làng. Nhưng mấy năm rồi, từ khi cụ  theo ông bà, chưa làm lại. “ Đấy, các chị hỏi để ghi âm mà còn ai biết hát arei đâu.  May mà có Aê Dịu hát K’ứt cho nghe nhé. Ching cũng chỉ còn nhớ một bài, đánh đi đánh lại. Năm 2010, Sở Văn hóa tỉnh tặng cho buôn 2 bộ ching mà có mấy dịp được cất tiếng đâu. Cổ tích, lời nói vần…cũng chẳng ai còn biết. Váy áo truyền thống mình mặc đây, vì thường đi giao lưu trong xã nên phải mua từ buôn khác, chứ trong buôn chẳng còn ai biết dệt.Cái gì cũng ngày càng mai một dần… Do đó chi bộ mới ủng hộ việc tổ chức lễ cúng này đấy chứ. Tham gia bảo tồn văn hóa truyền thống cũng là nhiệm vụ phải lãnh đạo của chính quyền, đoàn thể mà. Thế nào rồi cũng phải kiến nghị xin huyện cho buôn Um mở một lớp truyền dạy nghề dệt, dạy đánh ching nữa…”.

 Thành công trong nhiệm vụ của H’Thuận không thể không kể đến vai trò của người chồng, anh Y Bhăn Buôn Yă. Từng có 10 năm là thành viên đội công tác 553 , bị thương tật phải thôi nhiệm vụ. Giấy khen của anh cũng chiếm tới 1/3 trên đà nhà sàn của gia đình. Tuy sức khỏe yếu lại thương tật, nhưng đôi vai anh luôn là điểm tựa, sát cánh bên chị trong cả việc sản xuất lẫn việc buôn và chăm nuôi con cái. Hạnh phúc rạng ngời trong nụ cười và gương mặt của cả hai vợ chồng.

Bài ching klei kpă quấn quít bước chân ra về của chúng tôi khi chiều muộn, như tấm lòng người phụ nữ Ê Đê xởi lởi, gửi gắm những mong ước không chỉ làm sao cho bà con mình giàu lên, mà còn gìn giữ, bảo tồn được văn hóa truyền thống.

H’Linh Niê

[...]
Xem tiếp

Một số cây thuốc dân gian của người Rmam

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-31-08

Những cây thuốc dân gian truyền thống của người RMam

        Trước đây, cộng đồng dân tộc RMam sống biệt lập giữa rừng, nên không thể thiếu những bài thuốc dân gian được tìm từ trong rừng về để chữa bệnh khi có thành viên bị mắc bệnh hay ốm đau.

Nhà Yang của người Rmam

Người dân tộc Rmam có rất nhiều bài thuốc quí từ thảo mộc, mỗi cây thuốc có tác dụng chữa bệnh khác nhau.Kinh nghiệm chữa bệnh được những người già nắm giữ và được truyền lại đời này qua đời sau, cho nên những người nắm giữ kinh nghiệm chữa bệnh theo truyền thống dân gian thường là những người có uy tín, đạo đức và mẫu mực trong tất cả mối quan hệ : giữa những thành viên trong cộng đồng làng, giữa cộng đồng với Yang ( thần linh).

 Mặc dù có các thày cúng, thậm chí là thày phù thủy tham gia cầu xin các thế lực siêu nhiên trị bệnh, hoặc tha thứ cho những lỗi lầm bị trừng phạt thông qua việc bị ốm đau; nhưng sống giữa rừng, dựa vào rừng để tồn tại, nên việc tìm ra và sử dụng những cây thuốc của bà con các dân tộc thiểu số Tây Nguyên nói chung, người RMam nói riêng là điều tất yếu. Các cây thuốc dùng chữa bệnh, hầu hết có nguồn gốc từ rừng, hoặc mang từ rừng về thuần hóa trong trong vườn nhà. Trong đời sống tự cung tự cấp, chỉ từ kinh nghiệm dân gian truyền từ đời này sang đời khác, mà những người “ lang vườn” hiểu rõ và sử dụng các loại cây thuốc cho mọi thứ bệnh tật của thành viên cộng đồng. Nhiều nhất là những loại cây lá dùng chữa bệnh vặt của trẻ em, bệnh của người phụ nữ sau sinh đẻ…nặng hơn thì mời thày cúng.

Trước sự thay đổi nhanh chóng của xã hội, cuộc sống của người Rmam đã có những đổi thay đáng kể, đời sống vật chất ngày một nâng cao rõ rệt. Trường học, bệnh xá được đầu tư xây dựng, trẻ em được đi học đúng tuổi, ốm đau đã có trạm xá và bác sĩ chăm sóc sức khỏe…tuy nhiên dân tộc Rơ mam hiện nay vẫn còn giữ và sử dụng những bài thuốc, cây thuốc dân gian thảo mộc được tìm từ trong rừng.

Trong tiếng Rơ mam cây thuốc gọi là: Tơ hăm.

Thứ nhất và nổi tiếng vẫn là cây thuốc đỏ gọi là “Tơ ham bơr kông” được lấy về và trồng trước nhà rông thờ “ thần ngà voi”  (Rmam gọi là “Yang bluk”) đã được kể lại trong câu chuyện dân gian về “sự tích hòn đá và cây thuốc” nay vẫn được thờ tại nhà rông của làng.

Ngoài ra trong cộng đồng Rmam  vẫn thường hay sử dụng một số cây thuốc được tổ tiên để lại  và công năng sử dụng như:

TT

Tên gọi cây thuốc

 

Công dụng

1

Tơ hăm pơ jôl xuol

Dùng làm hương liệu, có mùi thơm, có thể dùng trong nấu ăn.

2

Tơ hăm hũi

Dùng trong các nghi thức cúng tế, xua đuổi tà ma

3

Tơ hăm gơ ră

 

Trị đau ốm, dùng được cho trẻ em, có vị đắng

4

Tơ hăm trong  lang

Dùng trị về đường ruột, chướng bụng, dùng được cả trẻ em và bà mẹ mang thai

5

Tơ hăm pơ jeh dei

Dùng bảo vệ giống lúa, cây lúa, nếu cất lúa vào kho thì họ treo trong kho lúa, nếu gieo giống họ trồng cây thuốc này trước sân chòi trên rẫy vì họ tin nó bảo vệ cây lúa trên rẫy cũng như hạt thóc trong kho, không bị chi, chuộtvà muôn thú  phá hoại..

06

Tơ hăm gõm

Trong cúng tế phân xử những người phạm phải luật tục của làng mà chối không nhận( nay đã thất truyền)

07

Tơ hăm gơnâm

Dùng để cứu những người không may bị trúng thuốc khác như Tơ hăm gõm( nay đã thất truyền)

       

 

Ngày nay, cuộc sống mới đã thay đổi nhận thức của bà con dân làng từ chổ dùng những cây thuốc dân gian truyền thống, sang  chữa bệnh mỗi khi ốm đau bệnh tật bằng những viên thuốc tây của bệnh viện, dẫn tới việc lưu giữ những cây thuốc, bài thuốc dân gian không còn được quan tâm và bị thất truyền hay lãng quên. Đã có những công trình nghiên cứu về sức khỏe của cộng đồng Rơ Mam và Brâu, hai trong số những cộng đồng ít dân nhất của Việt Nam, nhưng dường như việc nghiên cứu các bài thuốc và cây thuốc dân gian Tây Nguyên nói chung thì chưa hề có công trình nào ngoài cây sâm Ngok Linh. Thiết nghĩ đây cũng là tri thức dân gian cần được nghiên cứu để bảo lưu.

Ngoài ra những tác động do môi trường bị thay đổi như phá rừng trồng cây công nghiệp cao su, cà phê và một số tác nhân khác của sự phát triển xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến không gian môi trường tồn tại của cây thuốc dân gian truyền thống. Phải chăng đây là điều tất yếu không thể tránh?

Siu Tâm ( Kon Tum)

[...]
Xem tiếp

Cá chua ở Kon Tum

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-28-08

Người ta biết đến Tây Bắc với món cá hồi Sapa và thường nhắc đến cá lăng nướng than hồng thơm ngậy vô cùng hấp dẫn ở đất Tây Nguyên, thế nhưng món cá chua rất độc đáo ở Kon Tum thì không phải ai cũng biết và từng được thưởng thức. Nhưng nếu đã ăn một lần, chắc chắn dư vị thật khó quên.


 Vì nguồn thực phẩm không dồi dào, chủ yếu dựa vào đánh bắt tự nhiên nên mỗi khi săn bắt được thú rừng, con cá bao giờ bà con đồng bào dân tộc Jẻ Chiêng cũng nghĩ cách để dành cho những ngày hôm sau bằng cách phơi khô, sấy khô, treo gác bếp. Và các món ăn ngon, độc đáo được tẩm ướt nhiều loại gia vị, hương liệu của núi rừng cũng từ đó mà hình thành, trong đó, món cá chua là món đặc trưng nhất.

Không phải rán, không phải hấp, kho hay luộc, món cá chua được đồng bào dân tộc Jẻ Chiêng ở Kon Tum làm rất đơn giản nhưng lại vô cùng ngon. Cá được chọn làm món này nghe tên cũng rất lạ, một loại cá  giống như cá trôi nhưng mình dẹt và nhỏ hơn, chỉ sống ở vùng sông suối Tây Nguyên. Nhiều người ở nơi xa đến nghe tên cá lạ có vẻ rất e dè, nhưng cảm giác ấy nhanh chóng trôi qua khi họ được thưởng thức.

Cá bắt về còn tươi rói, đánh sơ vẩy, mổ ruột, rửa sạch rồi đem ra chỗ thoáng mát cho miếng cá khô ráo. Khi mặt cá đã se se lại, bắt đầu tẩm ướp gia vị gồm muối hột, ớt rừng, bột ngọt, chút tiêu rừng giã nhỏ, để khoảng 15 phút cho ngấm. Tiếp theo là ngô rang chín, giã nhỏ, đem vào trộn chung với cá. Cho tất cả vào ống nứa sạch, nút thật kín, chặt rồi gác lên dàn bếp hoặc dưới mái nhà. Cứ để như vậy chỉ sau vài ngày là có thể ăn được.

Thế nhưng, theo kinh nghiệm của người dân nơi đây, cá chua để càng lâu ăn càng ngon vì miếng cá sắt lại nhờ các gia vị đã thấm sâu vào thịt cá làm cho người ăn thấy vị mặn của muối, vị cay của ớt rừng, vị ngọt đầm của lá bép, vị thơm của thính ngô và vị chua do hỗn hợp này đã được lên men…tạo thành một món ăn vô cùng đặc trưng mà chỉ cần thử một lần chắc chắn bạn khó có thể quên được.

Cùng với cá chua thì món cá lăng nướng muối ớt cũng thật khó quên nếu đặt chân đến đất Kon Tum. Những con cá lăng bắt ở suối lên còn tươi hồng,  được sơ chế sạch, giữ nguyên con hoặc cắt thành lát tùy theo thói quen ăn của  từng người. Cá được ướp sơ qua cùng mắm, mẻ, riềng, muối ớt, để 10 phút cho ngấm gia vị sau đó đem nướng chín trên bếp than lửa hồng. Khi những miếng cá lăng chảy mỡ xèo xèo và từng miếng cá chuyển sang màu nâu cánh gián, dậy lên hương thơm quyến rũ của thịt cá và mẻ là có thể ăn được. Bỏ cá ra đĩa, thêm chút rau rừng, chuối xanh, tập bánh tráng và bát nước chấm ớt tỏi, kèm vài chén rượu, thế là cả chủ và khách đã có một đêm trên đất Tây nguyên vô cùng thú vị và khó quên.     

Thanh Hải theo Đại Đoàn kết

[...]
Xem tiếp

Bò một nắng, muối kiến vàng

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-14-08

Món ăn này là món ngon của phố núi Gia Lai. Miếng bò ướp mắm muối, tiêu, sả, ớt hiểm rồi mang phơi nắng.

Bạn nên nướng thịt trên bếp than hồng cho vừa tới, nếu quá lâu sẽ khiến thịt khô cứng mất ngon, sau đó xé sợi. Để làm ra bò một nắng không cầu kì nhưng quan trọng đầu tiên ở khâu lựa chọn nguyên liệu: thịt đùi hoặc thịt thăn bò tơ được thả rong trên các sườn đồi, quanh năm ăn cỏ uống nước suối nên thịt rất chắc, mà chỉ là chỗ. Không ai lấy thịt bò nuôi để làm bò một nắng, vì loại thịt bò đó thịt bở, có mỡ, khi làm khô sẽ rất hao, mà hương vị không ngon. 

 

Những thớ thịt đỏ hồng đó càng ngon hơn khi kết hợp cùng thứ muối lạ lùng của vùng Ayun Pa, muối kiến vàng. Kiến vàng trong rừng sâu rang sơ, giã với ớt thật cay, kèm vài loại lá rừng, muối hạt. Thưởng thức chung với lá é càng thêm tròn vị với bò ngọt, kiến chua, muối mặn, lá é nồng. Thứ hương vị đó đã một lần thưởng thức thì thật khó quên.

V.Ly

[...]
Xem tiếp