Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Bàn một chút về tượng mồ Tây Nguyên

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-28-09

Tượng nhà mồ là một trong những đặc trưng độc đáo của nghệ thuật tạo hình TN. Nguyên gốc, nguyên bản đó là sự sẻ chia của người sống với người đi về cõi mang lung với yang atâo.  Nên tượng mồ không chỉ là nghệ thuật điêu khắc, mà còn là tâm linh. Theo quan niệm của bà con, trong buôn, bon, kon, plei, ai giỏi nghề gì, kể cả bói toán, cũng đều là  những người được “Yang cho”. Nói cách khác “ yang bắt” phải làm giỏi việc rèn công cụ sản xuất, chỉnh ching, dệt vải hay tạc tượng mồ, thậm chí cả chữa bệnh. Vì vậy mà trước đây ở khắp Tây Nguyên đều không hề có khái niệm “ truyền nghề “. Ai thích thì lăn vào mà theo thày, học được bao nhiêu thì học, còn tự mình sáng tạo thêm. Không học được thì lẳng lặng mà bỏ cuộc.

                                                                         Đồi tượng ở Măng Đen

           Nhưng nếu chỉ có thế thì cùng với việc biến mất của rừng đại ngàn và sự đổi thay tín ngưỡng, rất nhiều những nghề thủ công từng “ vang bóng một thời” của đời sống tự cung tự cấp ở Tây Nguyên, trong đó có nghệ thuật điêu khắc gỗ cũng ngày càng lùi sâu vào dĩ vãng, trong niềm tiếc nhớ của những người  yêu Tây Nguyên sao ?

           Chính vì vậy mà việc ngày nay ngành Văn hóa  các tỉnh TN mở các lớp truyền dạy nghề dệt thổ cẩm, đan mây tre, tạc tượng, các trại sáng tác, thi sáng tạo tượng gỗ…Sau đó, những vườn tượng đã được dựng lên ở Khu du lịch sinh thái bản Đôn – Thanh Hà, Đăk Ruco ở Đăk lăk, Măng Đen ở Kon Tum, Khu du lịch sinh thái Đồng Xanh ở Gia Lai…làm nên một nét mới, một điểm đến lạ lẫm, thú vị cho “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”. Hay như Liên hoan nghệ thuật các dân tộc Tây Nguyên ở Kon Tum tháng 3/2016, cả một công trường với những thân cây gỗ to một vòng tay ôm, dưới bàn tay tài hoa của các nghệ nhân 5 tỉnh, biến đổi thành những bức tượng khổng lồ vô cùng sống động….Dưới góc độ người làm công tác nghiên cứu văn hóa truyền thống Tây Nguyên,tôi ủng hộ cách làm này. Nhất là nếu khuyến khích được các nghệ nhân thu nhỏ tượng lại, làm thành sản phẩm mỹ nghệ dành cho du lịch nữa , càng tuyệt. Cá nhân tôi cũng thường tìm mua những bức tượng nhỏ ấy chưng trong nhà. Hay Đăk Nông, Đăk lăk đã từng mở các lớp tập huấn nâng cao tay nghề chế tác dệt thổ cẩm, đan mây tre thành sản phẩm thủ công mỹ nghệ… Đó chính là những việc bảo tồn  phát huy thành công Không gian văn hóa, không chỉ nghệ thuật tạo hình, mà còn nghề thủ công truyền thống độc đáo  ở Tây Nguyên.

                                                                      Liên hoan tạc tượng gỗ Kon Tum 2016

Quay trở lại với nghệ thuật điêu khắc gỗ. Cái đẹp của tượng mồ chính là ở sự nguyên sơ, thậm chí là thô mộc từ chính nguyên liệu của rừng. Những bức tượng khiến người ta nhìn tới phải bật cười hay cau mặt lại, buồn vui cùng sự sống động hồn nhiên đến lạ lùng ấy, cứ như là con cá còn đang quẫy dưới mũi lao của người đàn ông vừa từ dưới suối lên, người đàn bà ôm cái bụng bầu với khuôn mặt méo và những tiếng rên sắp đến lúc nở hoa khai nhụy…. Khởi điểm là làm cho không gian  nghĩa địa không trở nên lạnh lẽo. Người mới chết, chưa được siêu thoát ( bỏ mả) có bầu bạn, anh chị em, thậm chí là cả người hầu cùng theo về cõi Mang Lung. Sau này, thoát ra khỏi sự ám ảnh của tâm linh từ các khu nghĩa địa, tượng điêu khắc gỗ vẫn vẹn nguyên vẻ đẹp từu tâm hồn chân chất của những người con núi rừng.

Tôi đã có lần đến nghĩa địa ở làng Kông Hoa của bác Núp. Đó là nhà mồ của Hruk, một người bạn thuở ấu thơ, con trai duy nhất của Anh hùng Núp với nàng Liêu huyền thoại. Không có gỗ, người ta xây mộ, dựng tượng mồ bằng xi măng, vẽ thêm râu ria, màu sắc áo xanh, mặt đỏ… nhìn thấy sao sao đó. Tôi gặng hỏi vợ Hruk “ Ai làm vậy?” Em bảo rước thợ người Kinh từ xa lắm tới xây mộ, họ làm sao mình chịu vậy. Ồ, có phải “ người mình” làm ra thế đâu?

Lần khác, trong một lớp truyền dạy tạc tượng gỗ ở làng Sê Đăng Kon Hring  ( huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk lăk), tôi cũng thấy có vài bức tượng tô thêm màu đen đỏ, hỏi nghệ nhân đứng lớp, ông bảo : “ làm tượng nhỏ giống như làm con rối giật, nên phải vẽ cho nó thế” Ra vậy ! Mới rồi lại thấy trên facebok hình tượng gỗ ở huyện nào đó của Gia Lai tô vẽ hết cỡ màu sắc. Giật mình , gọi sang hỏi, các bạn bảo “ nghệ nhân nói dự trại sáng tác cán bộ bày làm thế cho đẹp”. Hu hu… nào có đẹp hơn lên? Cải tiến “ nó” bằng cách  này chỉ làm hỏng đi sự nguyên bản đầy tính nhân văn của tượng gỗ mà thôi. Đã có dạo vài năm trước, các đại gia săn lùng “tượng mồ cổ Tây Nguyên ” vì cho rằng chưng trong nhà hay văn phòng sẽ được phù trợ hay làm ăn phát đạt. Nhưng chắc chắn họ sẽ chẳng mua những bức tượng khoác áo mới đâu. Vì đó không phải là sản phẩm “ chính hiệu” của người Tây Nguyên.

                                                           Tượng mới ở nhà mồ Jrai

Bảo tồn & phát huy văn hóa truyền thống Tây Nguyên là việc phải làm của cả nước (   Kiệt tác Di sản VH của nhân loại cơ mà, đâu phải riêng ai ). Nhưng phát  huy sao cho vẫn là của người Tây Nguyên, do người Tây Nguyên tự do sáng tạo mới là đáng quý. Đừng nghĩ bà con người dân tộc “ dân trí kém” mà hướng dẫn vòng suang đi xuôi chiều, chia dàn ching chêng Bâhnar ra làm hai bộ cồng 3 chiêng 5 rồi trao danh hiệu, hay mang toàn  thổ cẩm cải tiến đi trình diễn trang phục dân tộc, hoặc làng định cư toàn  nhà 1 gian 2 chái , nhà sàn cimen mái tôn thấp lè tè…nói không ngoa là bôi bác đấy. “Yêu nhau như thế bằng mười hại nhau” bạn ơi.

Thêm điều này. Chính thế hệ trẻ người dân tộc Tây Nguyên phải xông vào mà làm cái việc bảo tồn & phát huy vốn quý của mình đi, thì mới có hiệu quả, vì chẳng ai hiểu tộc người mình bằng chính mình, sao lại thờ ơ chứ?  Hoặc chí ít cũng là “ nói lại” những gì  bạn bè hiểu chưa chính xác, đừng đứng ngoài chê bai.

[...]
Xem tiếp

Những nghệ sỹ Tây Nguyên đã được vinh danh

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-28-09

Tính đến năm 2016, đã có 11 Nghệ sỹ Tây Nguyên đã được vinh danh

* Nghệ sỹ Nhân dân  :

  1. Cố NSND Y BRơm, dân tộc Bâhnar, ngành múa
  2. Nữ NSND Đinh Xuân La , dân tộc HRê, ngành múa
  3. Cố NSND Y Moan Ea Nuôl, dân tộc Ê Đê, ca sỹ
  4. NSND Y San Aleo, dân tộc Ê Đê, ngành múa

* Nghệ sỹ Ưu tú  :

       1. Cố nữ NSƯT Đinh Kim Nhớ, dân tộc Hrê, ca sỹ

       2. NSƯT Nay Pha, dân tộc Jrai, ngành nhạc

      3. Cố NSƯT Đinh Long Ta, dân tộc Hrê, ngành múa

      4. Cố NSƯT A Dam Đài Son, dân tộc Sê Đăng, ca sỹ

      5. NSƯT Ê Ban Quý, dân tộc Ê Đê, ngành múa

     6. NSƯT  Đinh Xuân Va, dân tộc Hrê, ngành múa

     7. NSƯT Y Joel Knul, dân tộc Ê Đê, ca sỹ

 

            Còn hàng trăm nghệ sỹ khác lặng thầm cống hiến từ 1955 đến nay chưa hề được vinh danh

 

[...]
Xem tiếp

Nhà văn Nguyên Ngọc: "Giá chúng ta giữ Tây Nguyên như một Bhutan"

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-19-09

Nhà văn Nguyên Ngọc  chụp hình lưu niệm cùng cô trò trường THPT Nguyễn Hữu Huân - Thủ Đức - những người quý mến ông qua tác phẩm Rừng Xà Nu - Ảnh: ĐT

- Sáng ngày 17-9, nhà văn Nguyên Ngọc có buổi nói chuyện cùng các bạn trẻ TPHCM về Tây Nguyên, mảnh đất mà ông đã gắn bó hơn nửa cuộc đời. Câu chuyện nói về Tây Nguyên nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm trong bối cảnh hôm nay. TBKTSG Online lược ghi.

Tôi lên Tây Nguyên lần đầu năm 1950 và đến nay đã trải qua 66 năm gắn bó với mảnh đất này. Nơi đây không chỉ cứu sống và nuôi dưỡng tôi qua hai cuộc kháng chiến mà còn dạy tôi nhiều điều về minh triết trong cuộc sống.

Tây Nguyên rất đặc biệt, nhưng cũng rất đáng lo. Tôi mong mọi người hãy nghĩ, hãy đến Tây Nguyên và làm gì đó để cứu mảnh đất này.

Nói đến Tây Nguyên là nói đến rừng và làng. UNESCO đã rất tinh tế nhận ra khi công nhận di sản văn hóa thế giới của Tây Nguyên, không phải là cồng chiêng, cũng không phải là âm nhạc cồng chiêng, mà là không gian văn hóa cồng chiêng, tức không gian làng, với rừng của làng. Rừng và làng chính là không gian văn hóa của Tây Nguyên. Không còn hai yêu tố này, sẽ không còn văn hóa Tây Nguyên, hoặc nếu có, cũng không còn là văn hóa thật.

Thế nhưng vấn đề quan trọng nhất hiện nay ở Tây Nguyên là sự đổ vỡ của các làng và rừng thì bị tàn phá.

Rừng tự nhiên đến nay đã không còn nữa. Một số bị thay thế bởi cây công nghiệp như cà phê, cao su. Người ta gọi những mảnh đất rộng trồng cao su là rừng cao su. Nhưng nói đến rừng là nói đến tính đa tầng, độ che phủ; là nói đến yếu tố giữ nước. Cao su, rễ cọc, không giữ nước được nên hiểu theo nghĩa tự nhiên, cao su không được gọi là rừng. Rừng tạp mất đi, độ che phủ không còn và rồi Tây Nguyên sẽ mọc lên những rừng gai thấp lúp xúp. Chúng ta sẽ để lại cho con cháu những rừng gai lúp xúp? Chúng ta có muốn như vậy không?

Để khôi phục rừng Tây Nguyên, chúng ta phải trồng lại rừng, tạo rừng đa tạp. Có người hỏi tôi mất bao lâu? Tôi cho rằng chúng ta phải thực hiện trong 100 năm. Gì mà nhiều vậy? Thử nghĩ xem, 41 năm qua, mình đã khai thác rừng cạn kiệt mà. Giờ phải kiên trì trồng lại, cắn răng mà làm và 100 năm là không nhiều. Nếu không có rừng thì không còn Tây Nguyên đâu.

Chúng ta cần phải cứu Tây Nguyên. Đây là một tấm gương về nông nghiệp sinh thái, phụng dưỡng đất đai. Tôi bảo người Tây Nguyên là những nông dân Mansanobu Fukuoka. Họ làm nông nghiệp giống hệt như người cha đẻ của "Cuộc cách mạng một cọng rơm", không hóa chất, không thuốc trừ sâu với phương pháp chọc tỉa. Người chồng đi trước, dùng cây gậy chọc xuống đất, người vợ theo sau, tỉa hạt rồi dùng chân lấp đất lại. Họ rất tin đất đủ sức mạnh nuôi cây trồng. Họ không làm lười đất bằng phân bón.

Trước đây, dân số Tây Nguyên không nhiều. Với đất nước, họ là dân tộc thiểu số nhưng trên mảnh đất Tây Nguyên, họ chính là đa số tuyệt đối. Mỗi gia đình có 10-20 rẫy. Mỗi rẫy họ trồng 3-4 năm, đất bạc màu thì chuyển qua rẫy khác. Lúc đầu chúng tôi gọi là luân canh, nhưng luân canh dễ gây hiểu nhầm rằng trồng cây này rồi chuyển sang cây khác. Do vậy, sau, chúng tôi gọi là luân khoảnh. Lưu ý, họ luân khoảnh chứ không du canh du cư như ta từng nghĩ.

Trong tư duy người Tây Nguyên, đất chính là rừng và rừng chính là đất. Đất rẫy là khoảnh đất mà con người ở đây mượn của rừng, làm rẫy, rồi trả lại cho rừng. Rừng mạnh lắm, sẽ lấn lại ngay. Người Kinh thấy rừng là gỗ, còn người dân tộc thấy rừng là Mẹ, là cội nguồn sự sống, là tôn trọng, là phụng dưỡng. Đây cũng chính là bài học tôn trọng tự nhiên và sống khiêm nhường giữa trời đất.

Sau năm 1975, chúng ta thực hiện một cuộc đại di dân và dân số Tây Nguyên tăng gấp 5,5 lần, đến nay người Kinh chiếm 80% dân số tại đây và người dân tộc, từ tuyệt đại đa số, trở thành thiểu số trên chính mảnh đất xưa nay họ sinh sống. Đi kèm với di dân là chính sách quốc hữu hóa đất đai. Người dân tộc mất đất, trước họ có 10-20 rẫy, nay còn một, làm một thời gian, bạc màu, đâu còn đất để luân khoảnh, họ bán rẻ lại cho người Kinh, thậm chí cho không qua một cuộc rượu. Người dân tộc mất đất, bị đẩy sâu vào rừng, rồi sinh ra phá rừng và bắt đầu du canh du cư. Cấu trúc làng xã bị phá vỡ. Rừng bị tàn phá.

Các tộc người Tây Nguyên cũng rất văn minh. Với họ, loạn luân được xem là tội nặng nhất vì làm ô uế tinh thần của làng. Họ đặt tinh thần cao hơn vật chất trong đời sống của họ. Như vậy không văn minh sao?

Họ có một nền văn minh rất đặc biệt mà người Kinh nên tôn trọng, học tập. Ngay từ năm 1937, hai anh em Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, qua tác phẩm Mọi Kontum đã viết, "Người Bahnar có những điều tốt hơn hơn chúng ta rất nhiều".

Xin nói qua từ mọi. Lâu nay chúng ta hiểu sai từ mọi và càng sai khi dùng từ mọi rợ theo nghĩa khinh miệt để chỉ các tộc người Tây Nguyên.

Thật ra, từ mọi vốn ban đầu không hề có ý nghĩa xấu. Nó bắt nguồn từ từ tơmoi trong tiếng Bahnar, có nghĩa là khách đến thăm nhà mình; hoặc khách mời từ một làng khác đến; hoặc kẻ thù hoặc người ngoại quốc theo từ điển Bahnar - Pháp của Guilleminet. Những người phương Tây đầu tiên lên Tây Nguyên là các linh mục Thiên chúa giáo. Họ đến được vùng người Bahnar ở Kon Tum, lập xứ đạo Kon Tum, là xứ đạo Thiên chúa giáo đầu tiên tại đây, đến nay vẫn là xứ đạo Thiên chúa lớn nhất và quan trọng nhất ở Tây Nguyên. Bấy giờ những người Bahanr Kon Tum đến gặp các nhà truyền giáo thường xưng là tơmoi, là khách. Các nhà truyền giáo lại hiểu rằng đấy là họ tự giới thiệu tên tộc người của họ. Về sau dần dần tiền tố  bị rớt đi, còn lại moi, moi nghiễm nhiên trở thành tên gọi người bản địa. Người Pháp gọi là moi, người Việt gọi là mọi, hoàn toàn là một danh xưng.

Nói tiếp chuyện văn minh. Tôi lấy ví dụ về nghệ thuật. Trong nghệ thuật Tây Nguyên, tượng nhà mồ Tây Nguyên là những tác phẩm đẹp tuyệt vời. Họ làm rồi bỏ hoang và để mưa gió tàn phá.

Tôi từng thấy một bức tượng gỗ tuyệt đẹp. Hỏi dò thì biết một thanh niên kia làm. Trong chờ bữa rượu, tôi hỏi chàng thanh niên đó xem ở nhà còn bức tượng tương tự nào không. Đột nhiên anh ta nổi giận: "Nói tầm bậy". Và những thanh niên trong xung quanh cũng bày tỏ thái độ như vậy.

Sau, tôi được anh Núp, một người bạn của tôi ở Tây Nguyên giải thích rằng với họ, làm nghệ thuật không phải để ngắm hay để bán mà làm vì có cái gì đó thôi thúc trong lòng, cần làm để bày tỏ lòng ngưỡng mộ với thần linh. Họ thăng hoa trong quá trình làm ra tác phẩm chứ không phải lúc tác phẩm hoàn thành.

Tôi chia sẻ điều này với một người bạn học nghệ thuật ở Frankfurt - Đức và cô rất ngạc nhiên bởi nó giống như quan điểm của nghệ thuật đương đại, tức nghệ thuật là con đường chứ không phải đích đến. Cô bạn lên Tây Nguyên khám phá rồi mời vị giáo sư của mình bên Đức sang. Vị giáo sư sang xong rồi lại dẫn cả lớp của ông ấy sang.

Sau năm 1975, giá như chúng ta dũng cảm giữ Tây Nguyên như một Bhutan thì thật tốt. Chúng ta sẽ có một tấm gương để học cách sống sao cho có hạnh phúc, sống thế nào để khiêm nhường với trời đất.

Ngày xưa người nông dân không dám làm điều ác, họ sợ thất đức. Ngày ngay, xã hội không còn khái niệm về thất đức nữa. Người nông dân, những người bình thường nhất, đã không còn sợ cái ác, không còn sợ làm điều ác. Và đây là điều đáng sợ nhất. Con người, ở giữa đất trời, sống vô thần và không biết đến trời đất thì nguy hiểm quá.

Nay tôi đã 84 tuổi, tính tuổi ta thì 85. Những năm cuối đời, tôi sẽ viết để kể với mọi người về một nền văn minh ở Tây Nguyên, rằng chúng ta có một nền văn minh như thế. Tôi sẵn lòng đi chia sẻ để nói tất cả mọi điều về Tây Nguyên. Tôi  mong khơi gợi trong các bạn lòng ham muốn hiểu về Tây Nguyên và tìm được người kế tục để sau cùng có thể cùng chung sức cứu được Tây Nguyên.

Đức Tâm theo TBKTSG Online

[...]
Xem tiếp

Truyền thống âm nhạc Đăk Nông

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-17-09

Đăk Nông, một vùng đất giàu không chỉ đẹp về cảnh sắc thiên nhiên , mà còn mang trong mình sự giàu có của một miền quê đậm đà bản sắc trong “ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – Kiệt tác Di sản văn hóa phi vật thể truyền khẩu của nhân loại”, trong đó kho tàng Di sản âm nhạc. Âm nhạc dân gian các dân tộc Đăk Nông như một nốt nhạc trầm trong bản hòa ca của âm nhạc cổ truyền Tây Nguyên, làm nên một tiếng nói riêng không dễ lẫn mà  vẫn hòa điệu cùng anh em trên một miền cao nguyên đất đỏ. Phát huy được một phần kiệt tác di sản đó chính là trách nhiệm không phải của riêng ai, đặc biệt là đội ngũ những người hoạt động VHNT.


  Cách đây 60 năm nhạc sỹ Nhật Lai viết bài hát “ Tiếng hát xứ MNông Ti bri”. Hàng chục năm dài, ca khúc này được các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp khắp miền Bắc biểu diễn thành công cả trong & ngoài nước . Lời hát có câu “ Pu Me Ra ơi, đất nước ta sáng ngời. Rẫy nương ta đẹp tươi. Rừng ong xưa luyến thương. Làng buôn ta vấn vương. Bến nước ta trong xanh. Lung linh bông hoa vàng”. 60 năm hát lại, tôi vẫn thấy trái tim mình rộn ràng theo nhịp điệu.

           25 năm trước nhạc sỹ Nguyễn Cường viết “Tình ca Krông nô”, rằng  “Đất nơi nào cũng đón mặt trời lên. Nhưng đất nơi này nâng bàn chân em. Gió nơi nào cũng trong lành như thế, nhưng gió nơi này mang hơi thở em.Gió ơi. Từ đây tôi có KRông Nô thật hiền, từ đây tôi có Krông Nô để nhớ từ đây tôi có Krông Nô để thương.”Có tình yêu nào được bộc lộ hết những cung bậc đắm say hơn thế ?

15 năm trước, theo đề nghị của người bạn Y Thịnh Bon Jok Ju, tôi viết “ Cha   sinh anh Krông Nô dũng mãnh. Mẹ sinh em, Krông Na dịu dàng. Tình yêu của đại ngàn xanh thẳm, ngân thành lời tha thiết Nam Nung ơi” . Là buổi chiều ráng đỏ hôm ấy tôi cảm nhận được hết sức mạnh thẳm sâu của tình yêu đại ngàn trong tâm hồn mình.

Sau này Đăk Nông chúng ta còn có những “ Lời ru Bunoong, Phố thị hoa vàng, Pit trơ trơ, Về đây em Đăk Nông, Những đứa con của núi …” , của nhạc sỹ Võ Cường đạt giải thưởng của Hội nhạc sỹ VN, giải của UBND tỉnh; Hợp xướng của nhạc sỹ Mạnh Trí “ Đăk Nông niềm tin và hy vọng”, nhạc múa của Võ Cường, Đình Ty…. Những bài hát và bản nhạc xanh mãi với thời gian ấy, có xuất xứ từ đường nét âm nhạc và bóng dáng văn học dân gian truyền miệng của một mảnh đất đầy nắng, tràn gió và trắng xóa những dòng thác. Đẹp một cách hoàn hảo và lộng lẫy, tạo nên xúc cảm sâu đậm cho tâm hồn cả người sáng tác, người hát lẫn người thưởng thúc âm nhạc. Những quãng trưởng,quãng thứ, những giai điệu lên bổng xuống trầm, điệu hát nói, những nhịp chưng và cả tính lặp lại biền ngẫu của văn học. Đã tạo nên điều kỳ diệu ấy.

Trong quá trình hơn 10 năm hình thành và phát triển, UBND tỉnh        Đăk Nông đã có sự quan tâm nhiều đến việc thúc đẩy, tạo dựng nên những tác phẩm VHNT tôn vinh, đề cao vẻ đẹp và sự phát triển của quê hương.  Bằng chứng cao nhất là việc trao giải VHNT của tỉnh lần thứ I, ngay trong năm thứ 10. (Trong khi Đăk Lăk phải đợi trình tới 17 năm, Lâm Đồng mới lần thứ I, Gia Lai & Kon Tum còn chưa xong nữa.) Trong giải thưởng đó có nhiều tác phẩm âm nhạc tốt về vùng đất Đăk Nông mà chúng tôi được vinh dự tham gia thẩm định.

Là một miền quê có 3 tộc người tại chỗ MNông, Ê Đê, Châu Mạ sinh sống tập trung. Ngày nay còn có thêm hàng chục tộc người thiểu số phía Bắc đang cùng cộng cư. Tộc người nào cũng có một bề dày văn hóa truyền thống thuộc nền văn minh nương rẫy từ lâu đời, làm nên sự khác biệt mà  những người hiểu và yêu vốn quý tinh thần đó nghe là nhận ra ngay. Tại hội thảo này, tôi muốn nói kỹ hơn đến âm nhạc dân gian của hai tộc người chính là Ê Đê và Mnông, từng là những chủ nhân đích thực của mảnh đất ngập nắng và tràn gió này.

Đối với dân ca Mnông, trong những bài chúng tôi sưu tầm được hàng chục năm qua, có ba điểm đặc biệt : nhiều hát nói tự sự mà ít có tính nhịp điệu và không hiểu vì sao có sự gần gũi với dân ca của tộc người Jrai hơn là với người Ê Đê cận kề, tính chất điệu thức thứ rất rõ. Với một vài làn điệu chính như tăm pớt, tăm hôr, ngơi lơi, yuôn yớ, chiêng kon, kuach jao, tâp ta vieo..

Ngược lại với dân ca Mnông, 2 đặc trưng cơ bản của dân ca Ê Đê là : mang tính trưởng, chỉ đôi khi ly điệu một chút sang thứ rồi lại về trưởng ngay. Có cả hát nói tự sự và hát có nhịp điệu quy chuẩn vào hai làn điệu chính là hát K’ưt & Arei.

Về văn học, cả hai tộc người đều có sự lặp lại không chỉ giai điệu mà còn cả ngôn ngữ theo lối biền ngẫu. Ví dụ như trong câu hát ru em “Em ta ơi, em mau lớn nhé/ Em ta ơi , em mau cao nhé / Em mau lớn cầm rổ xúc cá/ Em mau lớn cầm nỏ bắn sóc/ Em mau lớn lấy chiếu trải ngủ/ Em tôi ngủ với mẹ không lớn/ Em tôi ngủ với cha bị gầy/ Em tôi ngủ với anh mới mập to”. Tương đồng với sự lặp đi lặp lại trong ot n’rông Bông, Rong & Tiang , rằng “ Rong xấu hổ và tức giận/ Tức đến nỗi như không còn thở được/ Tức đến nỗi không nói ra lời/ Tức đến nỗi tim như ngừng đập

Về thể loại dân ca cả hai tộc người đều quy về mấy loại hình : hát khấn thần, hát kể tự sự, hát khóc, hát ru, hát đối đáp, hát giao duyên, …

     Về nhạc cụ, ngoài dàn chưng, ching đều có kèn 6 ống Mbuôt - đinh năm, sáo dọc wao – đing kliă , goong reng

Do nắm vững được không chỉ làn điệu mà còn cả âm hưởng, cả phong cách vận vần, biền ngẫu của ca từ, nên những ca khúc tôi vừa dẫn trên đều thành công. Không chỉ khác lạ, mà còn có sức sống lâu bền với bạn yêu nhạc gần xa. Trong khi đó, kể cả những nhạc sỹ có tên tuổi đặt chân tới miền đất này, vì chỉ được “ cưỡi ngựa xem hoa” với xúc cảm chưa thật “ chín” – chủ yếu xử dụng đường nét các quãng 2 thứ từ dân ca Jrai, Bâhnar Tây Nguyên chung chung, vốn đã là một lối mòn từ vài chục năm nay, đều không có được những tác phẩm phổ biến trong bạn yêu nhạc, như bản thân lẫn địa phương kỳ vọng & mong muốn .

Hơn 10 năm qua, UBND & Sở VHTT – DL, Hội VHNT tỉnh Đăk Nông, đã có nhiều sáng kiến trong việc gìn giữ, bảo tồn & phát huy vốn VHNT truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh. Như mời dự các trại viết sáng tác mới, phục dựng lễ hội, truyền dạy âm nhạc dân gian…Nhưng sao chúng ta vẫn cảm thấy như muối bỏ bể, trước sự mất mát diễn ra thường xuyên của một trong những nền văn minh  nương rẫy vô cùng độc đáo? Và thành thật mà nói, chưa có được những ca khúc có tầm vươn xa khỏi địa phận “tỉnh ca”. Phải chăng đã đến lúc cần có một chiến lược sâu hơn chăng? Từ những điều trên đây, chúng tôi muốn đề xuất một vài ý kiến nhỏ, ngõ hầu góp phần vào việc không chỉ gìn giữ, bảo tồn vốn âm nhạc truyền thống Đăk Nông, mà còn phát huy được tính độc bản của nghệ thuật diễn xướng tộc người của miền quê này .

Việc gìn giữ, bảo tồn & phát huy VHNT nói chung, âm nhạc dân gian các tộc người thiểu số nói riêng, vẫn là nên duy trì ở dạng “bảo tồn sống”. Nghĩa là cố gắng làm sao để “ Không gian văn hóa – Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể truyền khẩu của nhân loại”  tồn tại trong chính cộng đồng các tộc người, trước tiên bằng cách thức tỉnh lòng tự tôn dân tộc & sự thấu hiểu các giá trị lớn lao của Di sản ( kể cả không gian) . Điều đó chỉ thực thi được nếu hỏi ý kiến người dân, bằng chính tiếng nói của bon lan, để bà con hiểu đến ngọn ngành về việc giữ gìn cái gì? Làm thế nào để giữ ? Căn cứ vào ý dân mà xây dựng kế hoạch. Hãy tin ở người dân.

Nên xem lại Đề án lớn tổng thể của tỉnh, cụ thể hóa từng hạng mục cần bảo tồn và phát huy : văn hóa vật thể ( bến nước, nhà ở, các nghề thủ công, ẩm thực…), Văn hóa phi vật thể (trường ca , sử thi, âm nhạc, phong tục tập quán….), để có văn bản hướng dẫn, rút kinh nghiệm trong công tác bảo tồn, phục dựng. Cũng đã hơn 10 năm Unesco trao danh hiệu rồi, kiểm điểm lại là đúng đắn và gấp rút những gì đã làm được, cái gì chưa làm được để phát huy hoặc sửa chữa, bổ xung. Có thể thuê tư vấn, các chuyên gia chuyên sâu về lĩnh vực bảo tồn này hỗ trợ khảo sát & xây dựng bổ xung đề án.  Đừng để quá trễ.

Có thể ai đó nghĩ : vấn đề phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, an ninh quốc phòng vùng ĐNDTTS mới là những bức thiết, chứ văn nghệ đã là cái gì? Nhưng nghệ thuật diễn xướng là “ Kiệt tác Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”, nằm trong “KGVHCCTN” , mà một trong những tiêu chí để được công nhận là sắp biến mất khỏi đời sống cộng đồng rồi đấy. Và cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng chẳng đã từng nói “ mất văn hóa là mất tất cả” đó sao? Chính vì văn hóa truyền thống ( như luật tục) không còn, lớp trẻ tiếp thu trên mọi phương tiện thông tin rất nhiều yếu tố bạo lực, cùng với sự giao lưu văn hóa không chọn lọc, mà hiện tượng bạo lực diễn ra trong đối tượng thanh niên dân tộc ngày một nhiều lên đó thôi. Âm nhạc ngoài chức năng giải trí còn mang tính giáo dục hướng thiện nữa chứ.

2. Bên cạnh đó là truyền dạy – truyền khẩu âm nhạc trong chính cộng đồng. Như đã nói ở trên, dân ca Mnông ít tính giai điệu, nếu không biết tiếng rất khó học. Nhưng ở những năm 2006 đã từng có lớp dạy Ot n’Trong do Viện Nghiên cứu Văn hóa tổ chức cơ mà. Sao dân ca, nhạc cụ lại không dạy được? Chọn các nghệ nhân giỏi, những học viên nam nữ người dân tộc có năng khiếu âm nhạc & ca hát. Dạy luôn cả chế tác lẫn diễn tấu đàn , cả hát dân ca và diễn xướng ot n’trong. Ít nhất như Đăk Lăk bây giờ vẫn còn được vài vị trẻ hơn nối tiếp  các “ báu vật nhân văn sống” đã đi về cõi Mang Lung, như cụ Điểu Kâu, cụ Aê  Wưu và có thêm sự sáng tạo của riêng mình, để làm giàu cho kho tàng nghệ thuật diễn xướng truyền thống.

3.Ngành VH & GD tỉnh Đăk Nông đã từng phối hợp dạy dân ca trong nhà trường. Nhưng tỷ lệ các bài dân ca, nhất là dân ca Mnông, Ê Đê còn quá ít. Nếu không muốn nói là chưa có. Tôi cũng đã từng dạy cho GD Krông Na một lần như thế, bên cạnh việc hướng dẫn phương pháp dàn dựng, có chọn lọc tỷ lệ dân ca Tây Nguyên chung, dân ca cụ thể của địa phương nói riêng, cho các thày cô nòng cốt. Đăk Nông có nên cũng giải quyết việc này trong một đợt vài ba ngày hè nào đó cho giáo viên không.?

4. Việc tổ chức các trại sáng tác âm nhạc là vô cùng cần thiết, vì động viên được nhiều lực lượng mạnh. Nhưng rất cần cẩn trọng trong việc giới thiệu chất liệu âm nhạc nguyên bản, nguyên gốc, tạo được xúc cảm cho tác giả ngoài tỉnh, thì mới thành công. Bên cạnh đó cũng cần đào tạo đội ngũ sáng tác trẻ, nhất là cố chọn lựa lực lượng người dân tộc. 2-3 năm/lần/ lớp sáng tác văn học & âm nhạc.Chọn cả từ  chuyên nghiệp lẫn nghệ thuật quần chúng, biết viết sơ sơ đã, rồi sẽ có lúc thành tác giả. Chẳng cần mời đâu xa, cứ nhạc sỹ Đăk Nông, Đăk lăk cũng làm được việc này cho giảm kinh phí. Lâu nay chưa làm vì ta không tin anh em, hay vì chưa chú trọng đến việc chia sẻ, tạo nguồn? Mà Đăk Nông, tuy ít ỏi thôi, nhưng không kém đâu nhé : Nhạc sỹ Đức Tuấn là học trò cưng của chủ tịch Hội Nhạc sỹ VN TS Đỗ Hồng Quân, về khí nhạc và dân gian “ trên cơ” nhiều nhạc sỹ tự học ở Tây Nguyên khác. Nhạc sỹ Võ Cường cũng “ không  phải  vừa đâu”, dẫu học ngành Quản lý VH. Họ đều rất giỏi về âm nhạc Tây Nguyên lẫn nhạc bác học đấy chứ. Tỉnh chưa khai thác hết thôi. Cái gì cũng “ tự thân vận động” trước, trông chờ vào ứng cứu của TW cũng có khi phải “ hãy đợi đấy !” chăng .

       Không có ai  có thể đánh thức vẻ đẹp tiềm ẩn, độc đáo, kể cuộc sống đổi thay mạnh mẽ, tình yêu đằm thắm đối với con người và một vùng đất , thông qua nghệ thuật một cách rất hay, rất đẹp và đi sâu vô tâm hồn con người như những người nghệ sỹ  đâu. Cũng không có ai hiểu mình bằng chính mình, chính những nghệ sỹ đã gắn bó với văn hóa, âm nhạc của mảnh đất này hàng chục năm nay. Bằng sức sáng tạo, bằng cảm xúc chân thành,  phải nói chính xác rằng thông qua các tác phẩm VHNT,chúng ta mới có được những biểu tượng của Tây Nguyên từ âm thanh của ching chêng, đến các hình ảnh nhà Rông, cây Knia, hoa Plang, hình vóc những chàng trai cô gái “ da nâu mắt sáng vóc dáng hiền hòa ” đấy chứ. 

Từ 30 năm trước và cho đến tận bây giờ người ta vẫn còn hát “ Đăk Nông còn nhớ không? Bát ngát nông trường. Tiếng ca màu lá rừng, nhuộm hoàng hôn” ….đẹp lãng mạn và đáng yêu là thế !

Chúc cho Đăk Nông ngày càng có thêm nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng hay và đậm đà âm hưởng dân tộc quê hương.

[...]
Xem tiếp