Linh Nga Niê Kdăm
taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Trầm bổng dân ca Pa Kô

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-03-09

Đội văn nghệ xã Tà Rụt, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị do Kray Sức và một số người am hiểu dân ca Pa Kô sáng lập đã không ngại khó khăn, gian khổ cất công sưu tầm những lời ca nguyên bản nhằm bảo tồn và chuyển tải nét văn hóa đặc sắc của đồng bào đến với công chúng. 

 
Một buổi sinh hoạt hát múa dân gian Pa Kô

Tinh hoa đời sống

Bên bếp lửa bập bùng giữa căn nhà sàn đơn sơ dưới chân đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ trong đêm khuya thanh vắng, tiếng hát và nhịp đàn của nghệ nhân Hồ Văn Việt - thành viên Đội văn nghệ xã Tà Rụt hòa quyện âm thanh núi rừng vang xa: Anh ơi hãy đến ta cùng chung một lời ca - Hãy đến đây cùng thức ngắm trăng - Em mong mỏi chờ anh sao anh không đến... Em ơi, anh nghèo, anh không dám đến - Áo vá mười lỗ, khố chắp mười đốt... Buông phím đàn Ta lư an trum, nghệ nhân Hồ Văn Việt chậm rãi nói: “Đó là điệu Xiêng ngọt ngào, thể hiện nỗi nhớ nồng nàn, tha thiết của cô gái Pa Kô với người yêu sợ phận nghèo không mang lại hạnh phúc lứa đôi nên không dám cùng cô thức ngắm trăng bên bờ suối vắng…”.

Dân ca Pa Kô - loại hình văn hóa dân gian hình thành trong quá trình lao động sản xuất. Trong đó, làn điệu Ka lơi ca ngợi tình đoàn kết giữa dân tộc, ca ngợi tinh thần cộng đồng, cùng giúp đỡ nhau xây dựng cuộc sống. Làn điệu Cha chấp cất lên mừng Đảng, mừng xuân, mừng cuộc sống mới… Muốn thể hiện “hồn” trong từng lời ca cần có đầy đủ các loại nhạc cụ: Bộ gõ gồm trống (Acưk), cồng (Coong) thanh la (Tale). Bộ hơi gồm sáo đôi (Amam), tarial (Tiare), kèn Pi (sáo Pi mo), kèn môi (Adon), tù và (Tăng coi) và khèn bè. Bộ dây có Âmpreh, Ta lư a trum. Ngoài ra còn có lục lạc, chuông và mõ. Tất cả hòa quyện trong những âm thanh khi trầm, khi bổng, lúc rộn rã vui tươi, khi đượm buồn ai oán, đưa con người chìm đắm vào những giai điệu khác nhau của cung bậc cảm xúc. Đó là tinh hoa trong đời sống tinh thần đồng bào Pa Kô kết tinh từ lao động sáng tạo và đấu tranh vượt lên sự khắc nghiệt của thiên nhiên, tạo hóa để tồn tại và phát triển.

“Mồi lửa” bảo tồn

Dân ca Pa Kô gắn với những lễ hội dân gian liên quan đến phong tục thờ cúng của đồng bào. Trong đó, Pul Boh Ariêu Pling (lễ bốc mả) tổ chức khá rầm rộ, đó là ngày hội lớn của đồng bào Pa Kô ở Trường Sơn. Ngoài ra đối với người Pa Kô hàng năm có hai lễ hội chính đó là ngày lúa mọc bằng ngón tay và vào kỳ thu hoạch. Lễ hội to hay nhỏ đều có vật hiến sinh, năm được mùa thì tổ chức đâm trâu, đánh cồng, chiêng, uống rượu cần và múa hát tập thể. Ông Hồ Trọng Biên, Bí thư Đảng ủy xã Tà Rụt chia sẻ, còn rất ít người lớn tuổi ở Tà Rụt am hiểu tường tận ý nghĩa sâu xa trong từng lễ hội của đồng bào Pa Kô. Mai này chẳng may những con người ấy mất đi, e rằng những nét đẹp văn hóa ấy sẽ bị mai một. Bao trăn trở âm ỉ bấy lâu nay may sao được Kray Sức - cán bộ văn hóa xã Tà Rụt “mồi lửa” bằng trái tim đầy nhiệt huyết, luôn mong muốn giữ gìn, phát huy những nét đẹp truyền thống về văn hóa của đồng bào Pa Kô nên đã cần mẫn sưu tầm và truyền dạy cho thế hệ trẻ. Kray Sức sưu tầm được gần 100 chiếc cồng, chiêng và các loại nhạc cụ truyền thống như trống Toong, sáo Khui, khèn Bè, sáo Tirel… Đồng thời, vận động các nghệ nhân dân ca Pa Kô trong vùng sáng lập Đội văn nghệ xã Tà Rụt và dìu dắt, đào tạo 12 người trẻ tuổi biết đánh cồng chiêng, 8 người đánh đàn Âmpreh, 5 người biết thổi khèn, 14 người hát các làn điệu dân ca dân tộc Pa Kô…

Dân ca cùng các điệu múa là điểm nhấn, yếu tố không thể thiếu trong các dịp lễ hội tạo bản sắc văn hóa Pa Kô. Mà văn hóa chỉ “sống được”, tồn tại được đến muôn đời chỉ khi đã ăn sâu vào chính cộng đồng dân tộc ấy chứ không phải được dàn dựng biểu diễn trên sân khấu hay nỗ lực bảo tồn của số ít nghệ nhân. Chúng tôi vượt qua mấy đoạn dốc dựng đứng vào thung lũng A Vương tìm gặp nghệ nhân Kray Sức và được ông cho hay, đã trực tiếp đến tận nhà của các nghệ nhân lão làng tìm hiểu, ghi chép tỉ mỉ từng làn điệu dân ca, điệu múa... cũng như cách thức, lễ nghi trong hệ thống lễ hội của người Pa Kô. Từ đó, ông thành lập Đội văn nghệ xã Tà Rụt dàn dựng thành các tiết mục để đi biểu diễn nhiều nơi. Theo Kray Sức, về lâu về dài, muốn gìn giữ, lưu truyền dân ca, điệu múa, cách làm, sử dụng nhạc cụ cũng như các lễ hội của người Pa Kô thì còn quá nhiều việc để làm, ví như mở các lớp để nghệ nhân truyền dạy cách làm, sử dụng nhạc cụ, các điệu múa, làn điệu dân ca Pa Kô cho lớp trẻ; xây dựng điểm sinh hoạt văn hóa cộng đồng, là nơi để nghệ nhân biểu diễn các điệu múa, làn điệu dân ca Pa Kô cho trai, gái bản trên, bản dưới thấy hết nét đẹp dân ca dân tộc mình mà tự nguyện tìm hiểu, học hỏi; đầu tư mua sắm các loại nhạc cụ cho Đội văn nghệ xã Tà Rụt, bởi hiện tại mỗi lần đội văn nghệ đi biểu diễn đều phải mượn nhạc cụ của nhiều gia đình trong các bản...

Kray Sức cho biết thêm: “Giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc hiện nay hết sức khó khăn. Nhưng không học hỏi, gìn giữ những làn điệu dân ca là có tội với cha ông, với tổ tiên. Mình phải nhanh chóng đưa cái “hồn” dân ca Pa Kô về cho bản làng. Mai này lớp già ra đi, lớp trẻ kế tục kế thừa và phát huy”.

 
 

 mở lớp dạy dân ca Pa Kô - Vân Kiều

Trung tâm văn hóa tỉnh Quảng Trị đã tổ chức chuyến sưu tầm, tìm hiểu các làn điệu dân ca Vân Kiều, Pa Kô - hai dân tộc thiểu số sinh sống tập trung ở phía Tây Quảng Trị. Đoàn đã có cuộc gặp gỡ, tiếp cận với các nghệ nhân là hạt nhân phong trào văn nghệ quần chúng để tìm hiểu về các thể loại cũng như nội dung các làn điệu dân ca. Trong đó, 4 làn điệu dân ca Ka lơi, Cha chấp, Adên và Tà oải của hai dân tộc Pa Kô và Vân Kiều đã được các nghệ nhân sưu tầm, thể hiện và dịch từ tiếng địa phương sang ngôn ngữ thuần Việt. Qua đó, tạo cơ sở để mở lớp dân ca của hai dân tộc Vân Kiều, Pa Kô trong thời gian tới tại địa bàn miền núi phía Tây Quảng Trị.

 
 

VĂN THẮNG

 

[...]
Xem tiếp

Ma nữ' và già làng

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-31-08

Đồng Nai Thượng có gần 100% dân là người Mạ, Stiêng..., trước đây là vùng căn cứ kháng chiến rất nổi tiếng của tỉnh Lâm Đồng. 

                            Nữ dũng sỹ diệt Mỹ người dân tộc Stiêng Điểu Thị Lôi (Năm Lôi) trong bộ quân phục tại ngày lễ trọng của làng

Ở đó có một nhân vật nữ du kích là dũng sỹ diệt Mỹ rất lẫy lừng tên là Điểu Thị Lôi mà kẻ địch từng gắn cho bà cái biệt danh “ma nữ”. Ở đó còn có một già làng người Kinh chính hiệu tên là K’Quy do dân làng đặt cho (còn tên thật của ông là Nguyễn Văn Quy).

 Xã Đồng Nai Thượng nằm phía tận cùng của huyện Cát Tiên - huyện tận cùng của tỉnh Lâm Đồng, giáp với tỉnh Bình Phước. Từ Đà Lạt muốn đến được Cát Tiên phải vượt gần hai trăm cây số theo quốc lộ 20 đến đoạn thị trấn Madaguoil (huyện Đạ Huoai) rồi rẽ trái hơn 40km. Từ trung tâm huyện Cát Tiên, tiếp tục rẽ trái thêm một lần nữa và đi khoảng 40km tiếp theo với vòng vèo qua nhiều cánh rừng già mới đến được xã Năm (Đồng Nai Thượng) anh hùng.

Chuyện trong kháng chiến

Lâu lắm rồi tôi mới gặp lại chị Điểu Thị Lôi (Năm Lôi). Chị năm nay đã hơn 70 tuổi nhưng trông vẫn còn rất nhanh nhẹn, hoạt bát... và đặc biệt là vẫn còn đủ sức để “nhu rnơm” (uống rượu cần) với khách đến “chếnh choáng men rừng” mới thôi. Buổi trưa, lúc dân làng làm lễ đón khách, chị Năm Lôi mặc bộ quân phục trên ngực áo lấp lánh những tấm huân huy chương. Chiếc áo với những tấm huân huy chương đó tôi biết chị chỉ mặc trong những buổi lễ trọng.

 Hơn hai mươi năm trước, lần đầu tiên gặp chị, tôi chỉ được chị mở tủ lấy chiếc áo ra... khoe chứ không mặc. Bữa đó, chị bảo: “Mình là du kích nữ, theo kháng chiến từ hồi còn con gái vừa mới lớn, chỉ mới mười lăm, mười sáu tuổi thôi. Ở xã Năm, nhiều người cũng như mình làm cách mạng để đánh đuổi Mỹ, để dân làng bình yên. Chuyện cũng bình thường thôi mà. Có điều, thằng Mỹ thằng ngụy lại gọi mình là ma nữ...”. Trong bữa tiệc đón khách, chị Năm Lôi ngồi kề bên Bí thư Huyện ủy Cát Tiên Huỳnh Văn Đẩu (vừa về hưu) và nguyên Bí thư Đồng Nai Thượng Nguyễn Văn Quy (anh Hai Quy, “già làng” K’Quy). Tôi ngồi ở bàn kế bên. Chị Năm Lôi đứng dậy sang bàn bên cạnh, đặt tay lên vai tôi và hỏi han nhiều thứ, rồi bảo tôi chuyển lời thăm hỏi của chị đến một vài người là dân báo chí đã từng đến với Đồng Nai Thượng. Tôi cất lời: “Trông chị mặc bộ quân phục lúc này chẳng khác nào lúc hai chị em mình đi Gia Lai (hồi năm 2005). Chị chẳng già đi chút nào hết!”. Chị cười và vung tay đập mạnh lên vai tôi: “Nhưng mà hồi con gái mười sáu cái mùa rẫy thì khác đấy!”. Tôi hiểu, ý chị muốn nói cái thời lặn lội giữa rừng sâu ở xứ sở thần linh của người Mạ Đồng Nai Thượng để nuôi cán bộ, để cùng với cán bộ đánh Mỹ.

 Câu chuyện về chị Năm Lôi cùng du kích Điểu K’Lôi (nay là già làng K’Lôi) lọt vào ổ phục kích của địch hồi gần năm mươi năm về trước cứ như là một huyền thoại vậy! Bữa đó, Năm Lôi cùng Điểu K’Lôi từ rừng về buôn tổ chức dân đưa gạo tiếp tế, xong nhiệm vụ, cả hai cùng trở lại rừng thì lọt thẳng vào ổ phục kích của địch. Ngay khi tiếng súng đầu tiên phát ra từ một nòng AR15, cả hai du kích Năm Lôi và Điểu K’Lôi nhanh như hai con sóc rừng lặn xuống bên một tảng đá lớn rồi nhanh chân luồn qua một triền đồi và bọc lên trên, phía sau toán biệt kích. Kẻ địch mất dấu mục tiêu, nổ vu vơ vài tiếng M16. Bỗng từ phía sau của kẻ địch, đồng loạt hai họng súng AK nổ giòn. Mấy tên giặc ngã khụy. Rồi, bỗng im bặt. Mấy tên địch còn sống xông lên, men theo hướng vừa phát ra tiếng súng. Mùi thuốc súng AK vẫn còn vương vất nhưng không thấy cộng sản đâu cả, toán địch ngơ ngác nhìn quanh. Đúng vào lúc ấy, bỗng đồng loạt hai họng súng AK nhả đạn từ hai phía chênh chếch theo thế gọng kìm. Dăm tên địch lại gục xuống. Và sau đó là im bặt! Năm Lôi và Điểu K’Lôi đã nhanh chân rút xa lên núi. Về sau, kẻ địch nhiều lần tổ chức hành quân với mục đích “tiêu diệt trọn ổ nhóm Việt cộng Đồng Nai Thượng nhưng không thành công. Lúc thì dân làng “tiêu thổ kháng chiến”, lúc thì chỉ có người già và trẻ nhỏ nên kẻ địch không làm gì được. Cũng có lúc địch huy động cả máy bay từ Đồng Nai, Bình Phước sang để tìm diệt nhưng núi rừng Đồng Nai Thượng, xứ sở thần linh Đồng Nai Thượng chở che một cách chắc chắn những dấu chân trần của những du kích xứ này.

Nữ du kích Điểu Thị Lôi ở xứ sở thần linh Đồng Nai Thượng được phong dũng sỹ diệt Mỹ tự những năm đó! Và, chị Năm Lôi của xứ sở Mạ thần linh trở thành “ma nữ” giữa rừng già trong mắt kẻ thù là vậy!

 Múa võ bằng xà beng

Mấy hôm ở Đồng Nai Thượng, tôi có nhiều lần đến nhà anh Hai Quy. Cứ rảnh tí là anh Sáu Đẩu Bí thư Huyện ủy Cát Tiên lúc ấy lại rủ tôi đến nhà anh K’Quy ở gần trụ sở UBND xã Đồng Nai Thượng. Ngôi nhà anh Hai Quy bây giờ được xây kiên cố rồi chứ không còn tranh tre nứa lá như cách nay hơn hai chục năm tôi vào. Anh Hai Quy còn bảo với tôi, hôm nào rảnh, vào đây ở lại nhiều ngày mà câu cá. Cá trong hồ nhà anh bây giờ nhiều loại lắm, cứ thả cần xuống là giật. Tôi cười: “Thế thì chỉ cần vác rổ xuống mà xúc chứ câu làm gì cho... mang tiếng!”. Anh cũng cười: “Biết làm sao được, cá mẹ đẻ cá con, cá lớn cá bé cứ gọi là nhóc cả ao mà!”. Anh Sáu Đẩu nói vui: “Cá nhà ông Hai Quy nặng đến năm, bảy chục ký, chỉ để chưng thôi!”. Nghe anh Sáu Đẩu nói vui, tôi giật mình nhận ra mái đầu anh Hai Quy mới đó mà đã trắng phếu.

Già làng K’Quy (Nguyễn Văn Quy) - người ngoài cùng bên trái

Hồi lần đầu tiên tôi vào xứ sở thần linh của người Mạ Đồng Nai Thượng, Hai Quy vẫn còn sung trẻ lắm. Dạo đó, chắc anh chỉ mới trên dưới bốn mươi. Chuyện của K’Quy (tên thân mật được dân làng đặt cho anh Nguyễn Văn Quy) ngày cũ hiện về trong tôi: Sau khi định cư nhóm dân miền Trung vào Cát Tiên, anh Hai Quy lội rừng vào với thôn Năm (Đồng Nai Thượng) rồi lập trại xây nhà và... làm Bí thư xã. Một già làng thấy bỗng dưng có một Kon Duôn (người Kinh) lừng lững ngạo mạn khẳng định chủ quyền của mình ở xứ sở thần linh đã vác xà gạt đến gặn hỏi: “Kon Duôn kia là ai, ai cho phép đến xứ sở này làm nhà? Kon Duôn này xem ra không sợ cọp beo, cũng không sợ cái xà gạt này?”.

Hai Quy vốn là dân cách mạng nòi và là dân Bình Định võ nghệ đầy mình nên đã múa mấy đường quyền bằng cây xà beng sẵn trong tay rồi hỏi lại già làng: “Tôi vào đây là để giúp bà con mình trồng cái cây điều để đổi lấy gạo, giúp bà con mình đào cái giếng để là lấy cái nước nấu cơm, cọp beo nào dám ăn thịt tôi, cái xà gạt nào dám lia ngang cái đầu tôi?”. Nhìn Hai Quy đi mấy đường võ, già làng cảm phục. Hôm sau, già làng sai mấy chục thanh niên trong làng đến dựng nhà giúp cho Hai Quy.

Ngày ấy, anh Hai Quy là Bí thư Chi bộ, chị Năm Lôi là Phó bí thư. Công cuộc vận động bà con trồng cây điều gian khó vô cùng. Bí thư Huyện ủy Cát Tiên Trần Đình Nhung lúc bấy giờ gần như van bà con dân làng rằng hãy trồng lấy cây điều mà cải thiện đời sống chứ cứ bám riết cái nương cái rẫy thì biết đến khi nào mới đủ ăn. Ban đầu, chẳng mấy ai nghe theo. Anh Hai Quy nói với bà con: “Cái bắp trên nương chỉ là tạm thời. Cái hạt cây điều mới đổi đủ gạo để mà còn nhu rnơm!”. Mà, trồng cây điều là phải bón phân. Ban đầu, tuy có nghe lời ông cán bộ người Kinh K’Quy, bà con có phát đồi dọn nương trồng cây điều nhưng lại không chịu bón phân. Vì, nếu xem cây điều giống như cây lúa thì bón phân sẽ làm dơ bẩn cái cây đổi hạt gạo, nên bà con không được phép làm. Đã đến lúc chị Năm Lôi “ra tay”: “Cái phân của con bò con trâu cho cây điều cũng giống như thức ăn thức uống hằng ngày cho con người vậy. Kon Chau (người thiểu số) mình hằng ngày phải ăn, phải uống. Cái cây điều đổi gạo cũng thế, nó cũng phải uống, phải ăn hằng ngày chớ!”. Vừa nói, chị Năm Lôi vừa làm mẫu để bà con noi theo. Và cuối cùng, hơn sáu trăm hecta điều ở xứ sở thần linh Đồng Nai Thượng như một phép màu...        Rồi, đến lúc đào cái giếng để lấy nước sinh hoạt, dân làng bảo làm như thế thì động đến thần rừng, sợ thần quở phạt. Chị Điểu Thị Lôi căn dặn lớp cháu con phải biết giữ gìn truyền thống của dân tộc mình Anh Hai Quy giải thích cho bà con: “Có cái nước gần nhà để đỡ vất vả cho phụ nữ, khỏi phải đi lấy nước ở xa. Có cái giếng, nước ngay sát nhà lúc nào cũng có. Trước khi đào cái giếng, mình làm con gà xin phép thần rừng, thần rừng đồng ý thì không còn gì phải lo lắng cả”.

                                                            Điểu Lôi dặn dò con cháu 

Có thể nói, cây điều và cái giếng nước ở xứ sở thần linh Đồng Nai Thượng những năm đầu chín mươi của thế kỷ trước thực sự là một cuộc cách mạng. Đó có thể xem như là một huyền thoại trong đời thường nối tiếp những huyền thoại trong chiến tranh của người Mạ, người Stiêng ở xứ sở Đồng Nai Thượng. Và, những người đi tiên phong trong cuộc cách mạng ấy là những “mũi nhọn” K’Quy, Điểu Thị Lôi...

Tôi bất giác nhìn lên hai mái đầu của hai con người ấy. Mới đó mà tóc trắng đã phủ khắp... Và, đó là nền tảng cơ bản nhất để xứ sở thần linh người Mạ, người Stiêng... Đồng Nai Thượng phát triển đến tận giờ, để đói nghèo thực sự lùi xa...

 KHẮC DŨNG

[...]
Xem tiếp

Nối giữ hồn chiêng

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-27-08

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2005, vinh dự là di sản thứ hai của Việt Nam sau nhã nhạc cung đình Huế. Nhưng những năm gần đây một bộ phận thanh niên ở các dân tộc vùng Tây Nguyên cũng đã bắt đầu tỏ ra thờ ơ, thậm chí tự ti với các nhạc cụ dân tộc của mình. Những giá trị văn hóa rất tự hào đang đứng trước nguy cơ phai nhạt và ngày càng mất dần bởi mặt tiêu cực của cơ chế thị trường. Trăn trở trong vấn đề gìn giữ và bảo tồn loại hình nghệ thuật đặc sắc của dân tộc mình, một số người tâm huyết đã tìm cách duy trì không gian văn hóa ấy.

Gửi “hồn” cho thế hệ trẻ

Tại làng Kontum Kpơng (phường Thắng Lợi, TP Kon Tum), tiếng chiêng vẫn đều đều ngân xa vào mỗi buổi chiều khi mặt trời đã khuất và người trên nương rẫy đã về. Và đó cũng là lúc đội cồng chiêng nhí do bà Y Blưh trực tiếp giảng dạy rộn rã cả lên.

Chúng tôi gặp Y Blưh khi bà đang say sưa bên những đứa trẻ, dạy từng nhịp điệu múa xoang và bẻ nắn từng âm thanh của tiếng chiêng cồng. Mặc dù năm nay đã 64 tuổi nhưng niềm say mê với âm nhạc truyền thống của dân tộc đã thôi thúc bà đứng lên trực tiếp giảng dạy với mong muốn bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng cho các thế hệ trẻ tiếp theo. Bà chia sẻ: “Đội cồng chiêng được thành lập từ năm 1988 bởi ông A Ngơ, năm nay ông A Ngơ đã ngoài 80 tuổi, không còn đủ sức truyền dạy cho các em nên tôi tiếp nối công việc”.

 
 
                                          

Hàng ngày những đứa trẻ sau giờ tan học hay những buổi chiều lên nương rẫy cùng cha mẹ, chúng lại tụ họp và trở về sân nhà bà Y Blưh để học đánh chiêng. Dạy cồng chiêng cho lứa tuổi nhí này rất khó, một phần vì các em còn chưa ý thức được việc gìn giữ và bảo tồn, phần vì các em còn ham chơi. Có nhiều em tập được một, hai buổi thấy khó bắt đầu nản. Những em không mang nổi chiếc cồng trên người đi loạng choạng vì nặng. Hay những em phải bỏ tập luyện để phụ mẹ lên rẫy, lên nương khiến việc duy trì tập luyện gặp khó khăn. Thế nhưng để thanh thiếu niên trong làng không rời xa những âm thanh truyền thống trong cuộc sống hiện đại, ông A Ngơ, bà Y Blưh và các giáo viên phụ trách của trường tiểu học trong phường đến nhà vận động các em và phụ huynh. Lúc đầu chỉ một vài em, sau đó nhờ sự động viên khuyến khích của cha mẹ, các em đã theo học ngày một nhiều. Bà Y Blưh kể: “Mình phải kiên nhẫn động viên để các cháu hiểu và yêu thích cồng chiêng. Phải tập cho các em nam biết các giai điệu khi đánh cồng, tập cho các em nữ múa xoang phải ăn khớp nhịp điệu, tiết tấu với bài cồng chiêng”.

Tình yêu với cồng chiêng và các điệu múa của dân tộc mình luôn thôi thúc bà tìm cách duy trì và bảo tồn, cho nên bà đã mời các em nhỏ ở Trường Tiểu học Võ Thị Sáu - nơi bà công tác giảng dạy trước đây về nhà để tập luyện. Chồng bà cũng hết mực ủng hộ nên đã mua 2 bộ, 1 bộ nhỏ tiếng vang, thanh, bổng gọi là Chêng Chrang; 1 bộ to tiếng trầm gọi là Chêng Brông. Không thể mang cồng chiêng đến trường để các em tập luyện được vì khá nặng và cồng kềnh nên bà đưa các em nhỏ về nhà tập vào mỗi buổi chiều tối hàng ngày. Ngày đó đội cồng chiêng rất nổi tiếng đi tham dự các cuộc liên hoan, giao lưu với bạn bè trong và ngoài tỉnh. Bây giờ các em đó đã lớn và có gia đình. Tiêu biểu trong số đội cồng chiêng ấy là Kali Chan. Hiện tại Kali Chan đang theo học đánh đàn T’rưng hiện đại ở TPHCM. 

Đến nay đội cồng chiêng nhí trong làng đã có hơn 30 em, tự tin trình diễn trong các dịp lễ hội của làng như: Phục sinh, Giáng sinh, mừng lúa mới, mừng nhà rông mới, lễ hội gùi nhỏ (ca ngợi chiếc gùi có ích cho đời sống của bà con dân tộc), Tết Trung thu, Tết Nguyên đán, các hội thi, ngày hội văn hóa các dân tộc thiểu số do thành phố tổ chức hay các cuộc giao lưu ở các trường... và là niềm tự hào cho cả làng mỗi khi có dịp đi biểu diễn.

Lan rộng mô hình 

Cồng chiêng không chỉ được bảo tồn ở làng Kontum Kpơng, cách thành phố Kon Tum hơn 20km về phía Tây, khi nhắc đến cồng chiêng người ta còn nhắc đến đội cồng chiêng nhí ở làng Lung Leng, xã Sa Bình, huyện Sa Thầy. Nơi lớp học đánh chiêng được mở vào mỗi buổi chiều và các thanh niên dân tộc Ja Rai đang hòa quyện say sưa cùng tiếng chiêng với tất cả niềm đam mê, say đắm.

Ông A Kiuh, già làng trực tiếp giảng dạy với sự hợp tác của Ban giám hiệu Trường Tiểu học Lê Văn Tám, lớp học đánh cồng chiêng được tập luyện vào mỗi buổi chiều. Thời gian đầu các em còn rất ngỡ ngàng, đánh chưa đúng vị trí và sai giai điệu, người truyền dạy phải kiên nhẫn, hướng dẫn từng động tác chậm rãi, làm lại từng điệu để các em dễ hiểu, dễ nhớ. Còn đội múa xoang thì được các bà, các mẹ trong làng chỉ dạy nhiệt tình, các em nữ đã nhanh chóng múa dẻo, nhịp nhàng theo tiếng cồng chiêng.

Nhớ lại khó khăn ban đầu vận động các em tập luyện, ông Nguyễn Minh Thuận, Chủ tịch UBND xã Sa Bình không quên nhắc lại: “Lúc đầu những đứa trẻ không thích nối nghiệp của ông cha, bởi thời buổi này có nhiều loại hình âm nhạc khiến trẻ thích hơn. Nhưng sau quá trình thuyết phục các em nếu không nối nghiệp thì loại hình văn hóa của dân tộc mình sẽ mất. Sau đó, các em tỏ ra rất thích thú với loại hình này. Đến tháng 9 năm nay, chúng tôi sẽ nhân rộng mô hình cồng chiêng nhí ra hai làng nữa là làng Kà Bây và làng Khúc Nar”.

Đội cồng chiêng nhí của làng đã đi vào nề nếp, cứ mỗi buổi chiều trước giờ tập các em lại rủ nhau đến đông đủ trước nhà già làng. Trẻ em háo hức, người già thì phấn khởi bởi họ tin một điều rằng loại hình âm nhạc truyền thống của dân tộc mình sẽ không bị thất truyền vì rất nhiều người trẻ còn nhiệt huyết và đam mê với cồng chiêng Tây Nguyên. Và đã bao lần trở lại với đại ngàn, đã bao chiều tôi lang thang đi tìm nữ thần Mặt trời và mỗi khi đứng chân trên mảnh đất này phóng xa tầm mắt, tôi lại thấy: Ôi! Tây Nguyên của mình sao hùng vĩ quá.

THÀNH SƠN

[...]
Xem tiếp