Linh Nga Niê Kdăm
taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Lặng lẽ một cuộc đời

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-27-08

Sẽ là rất thiếu sót nếu nói tới giới nghệ sỹ Tây Nguyên, mà không nhắc đến một người nữ ca sỹ , sang đến thế kỷ XXI này, vẫn là duy nhất của dân tộc Vân Kiều.  Người thứ hai trong số các nghệ sỹ của dãy núi Trường Sơn - Tây Nguyên ( sau cố NSND Y Brơm), tốt nghiệp chính quy nghệ thuật biểu diễn ở nước ngoài. Bởi lẽ nhiều người, ngay cả trong giới hoạt động nghệ thuật ở Tây Nguyên những năm 70-80 ( TK XX), cũng không biết đến chị, Hồ Thị Kha Y.


Quê ở Quảng Bình, cô bé Hồ Thị Khai tập kết ra Bắc khi còn như cái cây non khẳng khiu mới mọc giữa rừng. Cũng chẳng biết cơn gió nào đẩy đưa chị tới trường âm nhạc nữa. Khi Măng Thị Hội, Thanh Bình, Linh Nga Niê Kdam vào năm thứ nhất trung cấp thanh nhạc ở nơi sơ tán Yên Dũng ( Bắc Giang), chị đã bước sang năm thứ ba. Một năm sau, tốt nghiệp loại khá, chị đủ tiêu chuẩn lên đường sang Anbani học đại học thanh nhạc. Sau 7 năm tu nghiệp ở nước ngoài, chị về lại đoàn Ca Múa Tây Nguyên, từ lúc ấy, trên sàn diễn, nghệ danh của chị là Kha Y .

Không biết có phải tính cách quyết định số phận con người không? Nhưng trong trường hợp của Kha Y, tôi e rằng số mệnh có lý của “ nó”. Tính tình chị lặng lẽ, ít nói, rất hay bối rối trong mọi mối quan hệ giao tiếp. Nếu mạnh dạn, xông xáo hơn, cuộc đời chị có lẽ đã khác chăng? Ngay thời gian cùng học trường Âm nhạc VN, chị và ba đứa học trò mới chúng tôi, tuy cùng do Đoàn ca Múa Tây Nguyên tuyển và cử đi học, cùng hệ thanh nhạc, nhưng khác năm, nên cũng ít trò chuyện cùng nhau. Chỉ có sau này về nước, biết tôi đang theo học đại học thanh nhạc tại Nhạc viện Hà Nội, lại cùng chung sống ở một khu tập thể, hàng tuần, chị dành thời gian giúp tôi một số giờ luyện giọng cơ bản, chúng tôi mới có dịp tâm sự với nhau nhiều hơn. Tôi hiểu được rằng từ khi theo nghề, chị vẫn luôn mang mặc cảm là người dân tộc, lại mồ côi mồ cút, nên ít dám giao tiếp cùng ai, chứ thật ra trong giảng dạy chị rất nhiệt tình.

Thời gian theo học ở trường Âm nhạc tại nơi sơ tán, Kha Y chỉ thân thiết với mỗi mình chị Châu Ngọc Lệ, dân tộc Khơmer, nguyên là diễn viên múa, người duy nhất Đoàn Ca Múa Tây Nguyên cử đi học piano, bậc trung cấp. Chị là vợ của nhạc sỹ Nhật Lai. Mỗi quan hệ gắn bó thân thiết như chị em ruột này, về sau đã làm số phận cuộc đời Kha Y đột ngột rẽ sang ngoặt sang một ngả đường khác.

Trước khi Kha Y tốt nghiệp về nước hai năm, người chị kết nghĩa Châu Ngọc Lệ đột ngột qua đời, sau hai tuần điều trị một cơn bệnh tâm thần bộc phát. Cái chết của chị là nguyên nhân để Kha Y xin nghỉ hè bay về  chia buồn cùng anh Nhật Lai & cháu Chung Ly ( ngày ấy lưu học sinh đi học nước ngoài, nếu muốn có được tiền tài trợ về nước nghỉ phép, phải có lý do đặc biệt, hoặc tự túc lấy kinh phí chuyến đi và về). Đó là kỳ nghỉ hè định mệnh. Không biết có phải vì thương đứa cháu gái nhỏ côi cút như chính mình ngày tập kết ra bắc, hay tự gánh lấy trách nhiệm phải thay người chị nuôi chăm sóc anh và cháu, hoặc cô gái chưa một lần biết yêu gặp mối tình sét đánh? Không ai trong khu tập thể các đoàn ca múa ở Cầu Giấy  ( Hà Nội ) tìm hiểu. Chỉ biết rằng hai tháng sau, khi Kha Y trở lại Anbani để hoàn thành nốt khóa học, cư dân khu tập thể đã mừng cho bé Chung Ly có người mẹ kế hiền lành chăm sóc. Hai năm là khoảng thời gian đủ để có một đám cưới nhỏ trong nội bộ gia đình, sau ngày Kha Y tốt nghiệp về nước. Chính cuộc hôn nhân này lại càng làm cho Kha Y dường như mặc cảm điều gì mà sống khép kín hơn, ngay cả với anh chị em cùng đoàn Ca múa Tây Nguyên.

Học đại học chính quy chuyên ngành thanh nhạc thính phòng ở nước ngoài, giá chị về giảng dạy ở một trường âm nhạc sẽ phát huy tốt hơn, nhưng lại tham gia biểu diễn nhạc mới và nhất là dân ca Tây Nguyên, thật chẳng thích hợp chút nào. Cho dẫu những bài hát chị chọn biểu diễn, thường là những ca khúc nghệ thuật mang âm hưởng Tây Nguyên, như “ Em là hoa Plang” ( Đức Minh), hay “ Bóng cây Knia” ( Phan Huỳnh Điểu – Ngọc Anh) hoặc “ Mặt trời Ê đê” ( Nhật Lai)… Cho rằng không phát huy hết tài năng, nên sau một thời gian tham gia biểu diễn thử ở đoàn, nhạc sỹ Nhật Lai xin cho chị chuyển về Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam. Vào những năm của thập kỷ 70 ( TK XX), số người học thanh nhạc chính quy bậc đại học ở nước ngoài về không nhiều, Hồ Kha Y tốt nghiệp hạng khá ở nước ngoài, chất giọng chị lại rất khỏe và sáng, kỹ thuật cơ bản rất vững, cũng xinh gái nữa, về nhà hát Nhạc Vũ Kịch là rất thích hợp với chuyên môn….Nhưng như đã nói ở trên, do bản tính quá rụt rè, chị không thể hiện nổi những vai diễn trong các vở ca kịch ( opera) của cả trong lẫn ngoài nước mà Nhà hát từng có ý định giao chị đảm nhận. Kha Y bằng lòng với việc hát ở bè nữ cao trong dàn hợp xướng hàng trăm người của nhà hát cho đến ngày về hưu.

Sự ra đi đột ngột của nhạc sỹ Nhật Lai, khiến Kha Y thật sự chới với trong cuộc sống đời thường, bởi người phụ nữ trong chị đã quen với sự bảo bọc hoàn toàn của chồng. Không trụ nổi với đời thường giữa phố phường Hà Nội, chị bán hết tài sản, theo bạn bè của đoàn Ca múa Đam San vào Gia Lai, nhẫn nại nhưng rất yêu nghề, làm giáo viên của trường Trung cấp VHNT. Công việc dẫu chỉ là hợp đồng dài hạn, nhưng ổn định và đúng nghề, lại được tỉnh ưu ái phân cho một căn hộ trong khu tập thể của cán bộ, Kha Y một lần nữa như “ sống lại” trong tình mến thương của học trò.

Ở trên cao xanh kia, chắc chắn có rất nhiều những linh hồn phù hộ cho người đàn bà suốt đời lặng lẽ này.

 

 

 

 

[...]
Xem tiếp

Lương y trị bệnh miễn phí

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-14-08

Với nhiều người dân huyện biên giới Ea Súp, Đắk Lắk, Bác sĩ - Lương y Phan Thành Nguyên (thôn 06, xã Cư Mlan, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk) thực sự là “vị cứu tinh”, bởi ông đã cứu hàng trăm mạng người từ ngưỡng cửa cõi chết trở về miễn phí.

                                                   Lương y Phan Thành Nguyên chữa bệnh miễn phí

Trọn nghĩa lương y

Bác sĩ - Lương y Phan Thành Nguyên (SN 1940), quê ở Châu Thành, An Giang. Trích ngang của ông mà mọi người biết đơn giản thế này: Lên 6 tuổi, ông theo một người thầy thuốc trong làng sang Thái Lan học văn hóa đồng thời học thêm về đông y.

Đến năm 18 tuổi, Phan Thành Nguyên về Việt Nam học Đại học y khoa Sài Gòn, sau này ông học tiếp chứng chỉ lương y đa khoa của Trung tâm đào tạo và nghiên cứu Y dược học cổ truyền dân tộc. 

Năm 1961, ông xin vào làm cho một phòng khám nhân đạo ở An Giang, bắt đầu sự nghiệp từ thiện của mình. Lương y Phan Thành Nguyên bảo, ông biết khoảng 900 vị thuốc chữa bệnh nhưng chọn lọc lấy 150 vị để bào chế chữa các bệnh như: viêm gan, xơ gan, viêm xoang, gan máu nhiễm mỡ, thần kinh tọa, viêm đường tiết niệu, thoái hóa cột sống, gai cột sống, đĩa đệm, bệnh trĩ, huyết áp cao, tai biến, hành tá tràng, tiêu chảy, viêm loét dạ dày, sỏi thận, tiểu đường, thận ứ nước, rối loạn tim mạch… Những vị thuốc được ông dùng đa số được mua ở An Giang, thành phố Hồ Chí Minh, một số loại thì ông tự lên rừng hái và sao chế.

Mỗi ngày lương y Phan Thành Nguyên làm việc từ sáng sớm đến tối mịt, khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho cả trăm người, gần như ông không có thời gian nghỉ. Dù có thông báo chỉ khám bệnh từ thứ hai đến thứ sáu, thứ bảy, chủ nhật ông phải lên rừng hái thuốc, nhưng có bệnh nhân ở xa tìm đến, ông phải nán lại khám xong cho họ rồi mới đi. Vất vả, bận rộn nhưng ông chưa bao giờ từ chối, hay khám qua loa với một bệnh nhân nào.

Những ca đưa người bệnh vượt cửa tử

Một lần về quê chồng ở An Giang, bà Nguyễn Thị Tìa (1949, thôn 06, xã Cư Mlan, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk) kể cho ông Nguyên nghe trường hợp anh Nguyễn Thanh Nhất, ở gần nhà mình bị xơ gan đi chữa nhưng bệnh viện tỉnh Đắk Lắk, Bệnh viện Chợ Rẫy TP Hồ Chí Minh đều trả về và nói gia đình chuẩn bị tâm lý trước.

Cả ngày anh nằm dưới nền nhà vì bụng trướng to, không đi lại, ăn uống được, sức khoẻ ngày càng yếu. Mọi chuyện trong nhà một mình vợ anh lo, 3 đứa con đang tuổi ăn tuổi lớn, gia đình vốn nghèo giờ lại càng khó khăn hơn.

Sau một thoáng suy nghĩ, ông nói bà Tìa dẫn lên gặp anh Nhất. Ngay ngày hôm đó, ông Nguyên, bà Tìa đón xe khách đi thăm người bệnh. Đây là lần đầu tiên ông đến Đắk Lắk nhưng vô tình lại gắn bó với mảnh đất ấy cho đến tận bây giờ.

 Anh Nhất kể lại: “Khoảng tháng 5/2009, các bác sĩ ở Bệnh viện Chợ Rẫy khám và kết luận tôi bị xơ gan. Sau một tuần theo dõi, điều trị tôi bị trả về. Tôi nghĩ mình giờ chỉ nằm chờ chết thôi, chỉ buồn vì thương vợ và 3 con còn nhỏ.

                                                      ông Nhất đã hoàn toàn mạnh khỏe

Giữa tháng 7/2009 thì ông Nguyên đến. Sau khi khám, ông lấy mấy thang thuốc ra bảo, thang đầu tiên sẽ là thang quyết định tôi có qua được không, rồi tự tay ông đi sắc thuốc, nói tôi phải uống bằng hết chén thuốc đầu. Uống thuốc xong, 10 phút sau tôi bị nôn ra máu, máu cứ chảy ồng ộc không ngừng, toàn máu bầm đen.

Vợ con tôi khóc ầm lên, mọi người nhìn tôi thương xót nghĩ tôi không qua khỏi. Nhưng ông Nguyên lại thở phào, thoáng cười. Đến 10 giờ đêm, tôi uống tiếp chén thứ 3 trong thang thuốc đầu, bụng vẫn sôi nhưng tôi lại ngủ được. 

Mấy ngày đầu, ông Nguyên túc trực bên tôi 24/24 giờ. Ông bắt mạch, kiểm tra tình hình và không ngừng động viên tôi cố gắng. Tôi tiếp tục uống thuốc, một tháng sau, vợ con tôi không phải túc trực bên cạnh nữa, tôi gần như đã bình phục.

Từ đó đến nay đã được 5 năm rồi, bây giờ tôi khỏe hẳn, đi làm về ăn không biết no nữa. Lúc bị bệnh, nhà tôi phải bán sạch tài sản để chữa trị. Khi chữa bệnh cho tôi ông Nguyên không lấy tiền. Giờ tôi coi ông ấy như cha mình vậy”.

Sau lần ấy, rất nhiều người đến tìm nhờ ông Nguyên chữa bệnh và cùng thống nhất “bắt” ông ở lại. Chị Hoàng Thị Diệu ở gần nhà anh Nhất bị suy thận, tóc rụng, chân sưng phù không đi lại được đã mất khá nhiều tiền đi bệnh viện nhưng không có kết quả. Nhờ uống thuốc thầy Nguyên mà chân hết sưng, đi lại bình thường, tóc cũng không còn rụng nữa.

Bác Trần Văn Cừ (thị trấn Ea Súp) bị đau lưng, đi khám nhiều nơi nhưng không khỏi, sau khi khám và uống thuốc thầy Nguyên đã hết đau. Bác Cừ nhận xét “Thầy Nguyên là người có tâm với dân nghèo, đến nhà thầy khám tôi không bao giờ phải lo chuyện tiền bạc”.   

Tình cờ trong ngày chúng tôi đến phòng khám của lương y Phan Thành Nguyên thì gặp bệnh nhân Ngô Kim Đức (57 tuổi) ở Thụy Khuê - Tây Hồ - Hà Nội. Ông Đức bay vào Buôn Ma Thuột, đi taxi hơn 70 cây số vào nhờ thầy trị bệnh. Được biết ông Đức bị ung thư dạ dày, năm 1984 phải cắt bỏ 2/3 dạ dày đến năm 2011 thì cắt bỏ toàn bộ. Sau khi cắt bỏ dạ dày ông đã phải qua xạ trị 6 lần ở Bệnh viện K (Hà Nội).

Được ông Chiêu, bà Tìa giới thiệu nên ông Đức lặn lội vào đây khám và chữa. Sau khi khám, thầy Nguyên kết luận ông Đức bị thêm bệnh khớp. Mấy ngày sau tôi gọi điện thăm hỏi tình hình sức khỏe ông Đức, được biết ông đã khá hơn rất nhiều, mạch tốt, ăn uống đã cảm thấy ngon miệng.

Đồng hành cùng “thần y” trên núi

Vợ chồng ông Lư Văn Chiêu, bà Nguyễn Thị Tìa là chủ doanh nghiệp tư nhân chế biến lâm sản xã Cư Mlan, huyện Ea Súp, từng được ông Nguyên chữa khỏi bệnh.

Ông, bà cho biết: “Lúc ở An Giang nghe danh thầy Nguyên giỏi lại làm từ thiện đã lâu trong khi cả huyện Ea Súp không có một nhà thuốc Nam nào. Người dân ở đây nghèo, mắc bệnh không biết trông cậy vào đâu. Muốn giúp dân nên ông, bà mua đất mở phòng khám, nhập thuốc men rồi mời thầy về làm.

Từ ngày có thầy, bệnh nhân đến khám đông lắm. Một năm phòng khám nhập thuốc 3 lần, mỗi lần từ 10 đến 11 tấn dùng trong vòng ba đến bốn tháng là hết”. Ông, bà Chiêu, Tìa đã đầu tư cho phòng khám nhân đạo gần 2 tỷ đồng trong 5 năm qua để mua thuốc chữa bệnh cho người nghèo.

Bên cạnh “nhà tài trợ” không thể không nhắc đến người đồng hành, chị Bùi Thị Kim Quyên (SN 1981, tốt nghiệp Đại học Luật Huế). Bốn năm trước, thấy thầy Nguyên chữa khỏi bệnh cho dì và dượng của mình, khâm phục tài năng, y đức của thầy nên chị xin theo học đông y. Bỏ công việc ổn định, nhàn hạ ở thành phố vào nơi xa xôi, nghèo khổ nhưng chị Quyên rất vui với việc làm hiện tại.

Hằng ngày, chị là người dọn dẹp phòng khám, bốc thuốc, bào chế thuốc và lo hậu cần cơm nước. Cuối tuần, chị lại trèo rừng, lội suối cùng thầy đi hái thuốc.

“Để tiết kiệm chi phí, một số vị thuốc ở đây có, hai ngày cuối tuần tôi và thầy cùng một số người đi vào rừng hái thuốc đem về. Có những loại hiếm và khó như hoa thiên lý trinh, một trong những vị thuốc chữa viêm xoang, phải lấy vào đêm từ lúc 0 giờ cho đến 5 giờ sáng, mà loại này chỉ có vào tháng 2, tháng 3 nên phải lấy để dự trữ”. Chị Quyên kể.

Tận mắt chứng kiến ông khám, chữa, dặn dò, nhắc nhở từng người bệnh trong quá trình điều trị, chúng tôi hiểu và khâm phục hơn tấm lòng của người lương y. Rời xa mái ấm gia đình, đến nơi đất khách làm việc thiện ít ai biết vị bác sĩ đã 75 tuổi ngày ngày phải tự chăm sóc cho mình. Bữa cơm hằng ngày chủ yếu là rau, dưa nhưng ông luôn lạc quan, kiên cường vượt qua những khó khăn vất vả, hòa đồng cùng bà con miền núi.

Khi tôi hỏi vì sao ông gắn bó với nơi đây trong khi vợ và hai con hiện ở An Giang, ông cười hiền: “Người dân ở đây còn nghèo khổ, thiếu thốn quá, mắc bệnh mà không có tiền chữa trị nên tôi muốn ở lại giúp. Vợ con tôi luôn ủng hộ, động viên nên tôi rất yên tâm làm việc”.

Chủ tịch Hội đông y huyện Ea Súp, Trần Chính Hữu cho biết: “Lương y Nguyên đã nhận được rất nhiều bằng khen của Bộ trưởng Bộ Y tế, Ban chấp hành Trung ương Đông y Việt Nam, Ban chấp hành Hội Đông y tỉnh, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam… vì tinh thần làm việc cũng như những đóng góp của ông trong thời gian qua.

“Phòng khám nhân đạo” của ông đã khám, chữa bệnh cho gần 80 nghìn người, đa số là người nghèo. Khám, bốc thuốc không lấy tiền nhưng phòng khám hiện tại của ông có một thùng công đức để bệnh nhân ủng hộ tùy tâm. Số tiền ấy được dùng hỗ trợ cho bệnh nhân nghèo hoặc để mua, trả công cho những người đi lấy thuốc.

 

[...]
Xem tiếp

Mùa này dã quỳ nở rộ

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-14-08

                                                                                  Truyện ngắn H’Siêu Byă

 

Mình biết buồn khi Đăm – người thương đầu tiên trả lại chiếc vòng đồng hẹn ước. Chiếc vòng sáng choang có khắc hình đôi chim rừng quấn qu‎ýt. Chiếc vòng biểu tượng cho sức mạnh của tình yêu, sợi dây ràng buộc vững chắc giữa hai người. Người Êđê chỉ trao vòng cho nhau khi chắc chắn đối phương sẽ là người đầu ấp tay gối trong tương lai. Mình buồn quá, tay chân mềm nhũn như lá chuối hơ lửa, tan chảy và nghẹt thở. Tiếng gió rít u u không ngăn nổi tiếng vọng ban chiều:

-  Đừng nhớ Đăm nữa. Con gái buôn bên sắp qua nhà cầu hôn. Amí đồng ý rồi, năm sau dăm dei sẽ tiễn Đăm xuống cầu thang sang nhà vợ.

Và Đăm đi.

Vội vã, gấp gáp như nụ hôn Đăm đặt lên môi mình dạo ấy. Mình tròn mắt nhìn cho đến khi bóng Đăm lẫn trong đám lá quỳ xanh động đậy rồi mất hút.

Ngồi phịch xuống tảng đá, tảng đá cựa quậy, nhìn cánh đồng quỳ, cánh đồng quỳ cựa quậy, ngó đám mây, đám mây cựa quậy, liếc dãy núi, dãy núi cũng chao đảo ngả nghiêng.

Chiều lắm rồi. Buôn mình rục rịch nhóm bếp lửa chuẩn bị buổi tối, đám khói ngoằn ngoèo, chúng chụm lại và toác miệng như cười ha hả đắc chí về chuyện tình vỡ toang hoang như quả bầu khô của mình. Chiếc điện thoại trong túi tút tít reo, mặt mình đầm đìa nước và câu hát bỗng chợt ngân vang:

Anh với em

Vòng đã trao

Lời thề giữ trong lòng…

Mình ngước mắt lên, cánh đồng quỳ đã ngập trong màu tối, vài ánh sao nhấp nháy không đủ soi rõ con đường mòn về nhà, chiếc vòng trong tay rung rung, nó tự động xoay tròn ba lần bên trái, bảy lần bên phải rồi bật tiếng khóc ư hử. Lạ quá! Một đôi chim trong suốt, đuôi dài như đuôi chim trĩ, chim công bay ra. Đôi chim tíu tít bay quanh như muốn hút lấy hết mùi thơm trên cánh đồng quỳ hoang dại:

Củ nghệ vàng em tắm lúc chiều hôm

Đêm nằm anh càng thương, càng nhớ

Ơ! Đó là giọng của Đăm, Đăm hay hát như thế trong những lần hẹn hò, khi chờ mình đến . Giọng hát đã làm mình chao đảo, trái tim mình rộn ràng như hoa nở, cái đầu lúc nào cũng líu lo niềm vui. Mình mang tiếng hát ấy lên lớp học tiếng Kinh, mang khi ra bờ suối giặt váy và lúc tỉa bắp với amai adei trên đồi. Chưa hết ngạc nhiên, con chim mái hát đối đáp:

Gửi bông hành, bông nghệ nhớ không thôi

Em mong anh đã lâu

Như em mong chim phí

Em đợi anh đã nhiều

Như em đợi chim giong

Ơ! Đó là giọng của mình, mình đã bắt aduôn dạy nhiều klei duê về tình yêu ,khi mình bắt đầu biết cúi mặt mắc cỡ vì mặc tấm váy đẹp đi qua trước mặt thằng con trai. Aduôn mình đã già hơn cây M’nut cạnh bìa rừng, lưng còng hơn chiếc cần uống rượu, nhìn mặt người nhập nhoạng trắng đen, nhưng trong đầu aduôn lúc nào cũng đầy ắp klei duê. Mình biết Đăm khi hai đứa còn địu trên lưng amí đi khắp các quả đồi tỉa lúa rẫy. Đăm sinh ra đã là “Người có môi thần cho. Miệng thần tạo. Tai dính chặt với đầu. Là người có tài hát kưt, muin, ayray”. Yêu Đăm, muốn đắp tấm chăn cùng, đêm đêm được nằm trong đôi tay săn chắc và đen bóng của anh ấy mình phải học thật nhiều klei duê, hát airei đối đáp. Aduôn mình mừng vì con cháu chịu học câu nói xa xưa của ông bà. Ngày ngày ra dring giũ váy, xoã tóc cười tủm tỉm và hát airei.

Đôi chim nhìn nhau rười rượi buồn, gió thốc mạnh đưa tiếng dế rỉ rả ra xa, đưa ánh sáng đóm đóm lại gần, đưa tiếng hát chim đực bên trái, con chim cái lắng nghe bên phải:

Ơi em!

Một trái dưa chẳng quên

Một trái bắp cũng dành cho nhau là thế

Đừng quên anh khi mặt trời đỏ hửng

Nhớ nhau mãi cho đến lúc mặt trời khuất núi

Tim mình nhói quá, tựa không thở được, có con ma rừng đang bóp bên trong. Đôi chim lượn lượn một vòng tròn lớn quanh cánh đồng quỳ mênh mông rồi tiến thẳng về Vực Yang Tao. Đó là vực thẳm sâu hun hút, đứng cạnh vực này nhìn buôn tây thấy bầu trời tối mịt, ngó buôn đông thấy sấm chớp nổi giận đùng đoàng. Chưa một ai nhìn thấy đáy . Đó là khu vực người già cấm kị nhất trong vùng thảo nguyên của tù trưởng Ma Đrăk, nghe nói nhiều đôi trai gái đã gieo mình xuống dưới chết chung, vì tình duyên không thành. Có lần Đăm kể cho mình nghe về chuyện tình Y’ Du và H’ Jan “Cách đây không lâu Y’ Du, H’ Jan đã nhảy xuống dưới Vực Yang Tao. Cuộc hôn nhân của họ không được người già chấp nhận. Buôn Y’Du và buôn H’ Jan có mối thù nặng như ghế Kpan mười người khiêng, như tảng đá to trăm người vác. Vết khắc trên cây Tang vẫn còn, trí nhớ của người già chưa hết, bến nước hai buôn vẫn còn ngăn. Buôn H’ Jan không được rước Y’Du về, buôn Y’ Du không cho phép con trai làm rể bên nhà buôn ấy. Vậy là họ rủ nhau chết chung. Năm ấy dã quỳ thi nhau nở rộ kín mít, trải dài đến chân núi, sáng rực cả một vùng trời. Một đêm trời nhuốm màu đen đặc, rơi những hạt mưa to như nước trút, quất những trận gió lớn dữ dội. Người ta không thấy Y’Du và H’Jan trộm yêu đương nữa. Người già nhất buôn mơ thấy Yang Bến Nước về báo mộng. Ngài giận, uống rượu cần xoay lưng, con cháu đưa chén thịt không thèm nhìn, chén cơm trắng muốt chẳng buồn ngó. Ngài giận vì mối thù lâu lắc, hàng trăm con trăng rồi mà mọi người chưa quên để giờ làm khổ con cháu. Vậy là sáng hôm sau người ta không thấy vết khắc trên cây Tang đâu, bến nước đã hoà cùng dòng chảy, hai buôn đã chịu nhìn mặt nhau, trai gái tự do hò hẹn.”  

 Mình nức nở khóc từ khi câu chuyện chưa dứt. Đăm dỗ nín hoài. Mình không thương cho Y’ Du, H’ Jan, ít ra họ cũng bên nhau cho đến lúc chết. Mình thương mình. Mình yêu Đăm nhiều quá, lỡ một ngày anh ấy bỏ mình đi...

Rồi mình chạy theo đôi chim về phía Vực Yang Tao. Nhành cây ven đường kéo tay, cây gai kéo áo, cục đá ven đường níu giữ đôi chân. Chẳng ích gì, mình không muốn sống nữa. Không muốn nghe thấy tiếng ching rộn ràng đưa Đăm xuống cầu thang. Không muốn nghe tiếng cười nói của dăm dei Đăm khi nhận của cải “bắt chồng” từ đàng gái. Không muốn khóc mỗi một mùa quỳ nở rộ, lúc ấy năm nào Đăm cũng ngắt một bông to nhất cài lên tóc xoăn tít của mình. Tha lỗi cho con gái hư khi không thể giặt váy lúc amí vào tuổi xế chiều. Tha lỗi cho con gái hư khi không thể giúp ama gùi nước đổ vào vào ché mỗi khi khách tới chơi... Mình sẽ chôn vùi tình yêu, kỉ niệm, chiếc vòng ... tất cả những gì thuộc về Đăm xuống Vực Yang Tao. Sẽ thả người rơi tự do từ trên cao xuống theo đôi chim lạ. Chắc không đau vì người ta nói rằng Vực Yang Tao không có đáy, mình không sợ. Mình vắt nụ cười lắt lẻo trên ngọn cây cao trước khi chìm nghỉm vào giấc ngủ chập chờn....

Hôm nay nhà sàn thật đông, người lên xuống cầu thang không biết bao nhiêu mà kể, amí nói làm lễ cúng sức khoẻ cho mình trước khi xuống dưới Sài Gòn học làm cô giáo. Trong nhà cũng không ai dám nhắc tên Đăm, họ sợ chạm vào vết thương đang ri rỉ máu, họ không muốn nhìn mình lại nằm bất động cạnh Vực Yang Tao cách đây mấy hôm.

Lễ cúng bắt đầu, chinh k’nă sẵn sàng chờ nhau vào nhịp. Thầy Cúng bắt mình ngồi xoay về hướng đông, gần ba ché rượu cần nấu ba tháng, cạnh cây nêu vẽ máu heo cách đây hơn ba giờ. Thầy vẩy nước tung toé lên tóc, lên áo và lên váy. Nước mát được lấy từ giọt sương đêm, đựng trong chén bằng đồng sóng sánh. Mình nhìn thấy mặt Đăm trong đó, anh ấy đang ngắt đoá quỳ và cười. Nước mắt lăn theo bài cúng, dứt rồi lại chảy dài theo những nhịp chiêng bay bay. Mọi người nhìn mình ái ngại. Trong góc bếp amí lấy vạt váy châm chấm lên mắt. Mình ngồi im. Câm lặng như người chết trở về.

Ngày lên xe, amí cũng rưng rưng, amí nói đã đuổi được con ma xấu trong chiếc vòng hẹn ước. Ri – em mình đã kể cho amí nghe chuyện mình trộm đôi vòng đồng trong hòm “Amai trao vòng đồng cho anh Đăm, còn thề nếu không sống được chung nhà, cả hai sẽ nhảy xuống Vực Yang Tao”. Amí nói mình bị chiếc vòng đồng xui khiến, nó là vật linh thiêng, vật có linh hồn. Aduôn đã mua của người Chăm bán dạo để bắt chồng cho con gái lớn, chiếc vòng sẽ hành động dựa trên cảm xúc của người bị bội ước.

Hôm ấy, amí kể nếu Đăm không báo kịp thì không ai biết mình nằm ngất xỉu cạnh Vực Yang Tao. Mình tức khi amí nhắc đến Đăm, mình hận, mình quyết định xuống thành phố học để bắt đầu cuộc sống mới.

Chiếc xe khách lăn bánh, mình khóc nức lên như một đứa trẻ lần đầu xa nhà. Mưa tầm tã, tấm kính nhoè nước rỏ thành giọt long tong ngoài của sổ, mình lấy tay lau để nhìn rõ cánh đồng quỳ đang thụt dần phía sau nhưng sao mờ quá. Chiếc xe chạy xa dần, xa dần rồi khuất núi. Mình mang một gùi nặng những u uất, giận hờn, nhớ nhung xuống thành phố.

Sài Gòn bao dung đón nhận, tống vào đầu mình nhiều suy nghĩ, nếp sống mới lạ. Họ nói quên sạch sẽ thằng con trai xấu tính trên thảo nguyên ấy đi, dưới này nhiều trai đẹp và giàu có. Son thật thà, duyên dáng, mang nét hoang dại của núi rừng các “đại gia” xối xả chạy theo chứ chẳng đùa. Trở thành vợ đại gia rồi Son hãy trở về thảo nguyên, bằng xe hơi trắng tinh hẳn hoi nhé. Nhớ phả khói vào mặt thằng con trai xấu tính từng phản bội Son... Họ làm chiếc gùi sầu muộn bớt nặng dần, mình đã nhoẻn miệng cười, bắt nhịp với cuộc sống ồn ào như thác nước, cho đến một ngày nhận điện thoại của amí.

- Thằng Đăm chết rồi, hồi sáng. Nó bị hư gan nặng. Người ta sẽ chôn nó giữa cánh đồng quỳ...

Điện thoại trong tay mình rơi. Lời của amí ngắt quãng giữa chừng. Tiếng tút tút kéo dài và chìm vào khoảng không tĩnh lặng. Mặt lạnh và tái. Nước mắt không chảy, ứ lại giữa hai hốc mắt đang mở to nhìn trừng trừng về phía dãy nhà cao tầng màu trắng. Mình thấy Đăm giữa cánh đồng quỳ vàng rực, tóc bồng bềnh theo làn gió, anh ấy cười và say sưa hát airei.

Trở về thảo nguyên giữa mùa quỳ nở rộ. Mình mặc áo, quấn tấm váy có đường hoa văn mặt trời Đăm thích đứng trước mộ. Tháo chiếc vòng trên tay thả vào ché. Vòng rơi xuống đáy leng keng, âm thanh vang vọng thật dài.

Mình đứng đó nhớ Đăm – người thương đầu tiên .

27/3/2014

 

 

 

 

 

[...]
Xem tiếp