Linh Nga Niê Kdăm
taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Một số hình ảnh Tết Khơmer ở Sóc Trăng

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-18-04

Chùa Peng Sâm Rưt ở huyện Mỹ Tú

 

Lễ trao bình bát & phong sa di 

 

Lễ tắm Phật

 

Lễ cầu siêu cho cộng đồng

 

Núi cát trong huyền thoại " 1 ngàn ngọn núi"

 

Tưới nước cho mát mẻ tháp chứa di cốt tổ tiên

 

Dàn nhạc ngũ âm của nhà chùa

 

Tết Khơmer không thể thiếu bánh gừng

[...]
Xem tiếp

Ấm áp, thân thương quê chồng

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-18-04

Sáu năm trước, cháu ngoại đầu của chị gái chồng tui, xin mẹ cho đi tu. Thiệt tình hồi đó đang kỳ tuyển nghĩa vụ quân sự, nên tôi có thoáng nghĩ “ hay đó là kế của hai mẹ con” chăng ? ( Vì đi tu ở chùa với thanh thiếu niên Khơmer là chuyện thường, muốn nhập, muốn xuất lúc nào cũng được. Ngay ông xã tui, cũng như mọi đứa trẻ trai mới lớn khác, đều từng có thời gian từ 2-3 năm làm tiểu tập sự ở chùa liền kề tại ấp. Thời gian tập tu đó, không chỉ học giáo lý hướng thiện của nhà Phật, mà còn học chữ Khơmer, trước khi vô trường tiểu học ). Cháu rời vòng tay mẹ vô chùa được tiếp nhận ngay. Một năm sau về Sóc Trăng dự lễ Cho thnăm thơ may, đã là một ông lục có tương lai.

          5 năm rồi tui mới lại về Sóc Trăng dịp năm mới của người Khơmer. Sư Phi Long nay đã lên chức Tì Khieu, tu tại chùa Peng Sâm Rưc ở Giồng Chùa, quê chồng. Sau rất nhiều những hoạt động trong Tết, như thực hiện lễ “phong chức” sa di cho sư trẻ, tắm phật, cầu siêu…sư rất hoan hỉ khi được rảy nước thơm chúc phúc cho bà ngoại và vợ chồng tui. Ăn tết xong, sư sẽ đến chùa Xẻo Quýt ngồi thiền chừng 2 năm để đạt tới sự siêu thoát nào đó, rồi mới về lại chùa quê. Nghĩa là đã rất an lòng được gửi thân nơi cửa Phật. Âu đó cũng là phúc phận của dòng họ ?

Ấp Giồng Chùa sau năm năm trở lại, đã có nhiều đổi thay. Vẫn là chạy xe trên con đường beton dọc bờ kinh ngày ấy, nhưng tâm trí tui cứ bay lâng lâng như reo ca. Trước tiên là vì đường rợp cây xanh, khiến bóng râm tỏa suốt ba cây số dọc từ chùa về tới ấp. Gió mát lộng khiến không khí trong lành đến không nén được phải hít thật sâu vô lồng ngực. Vẫn còn đôi cây cầu khỉ để nhớ câu ca dân gian “ cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi”. Nhưng những cây cầu beton bền chắc đã lần lượt nối đôi bờ kinh, cho thày giáo cháu tui chạy xe máy từ ngôi trường bên kia dòng kinh rèn rẹt về  lối xóm. Bày vịt xiêm núc ních trắng toát xục giữa đám lục bình tím rịm trải đầy dòng kinh. Yên ả, thanh bình đến lạ.

Đường rợp bóng cây

Từ năm 2013, điện đã về thắp sáng toàn ấp. Cháu trai chồng tui khoe “ Hổng có mất tiền kéo đường dây đâu mợ. Nhà nước cho hết. Chỉ xài tháng bi nhiu, trả tiền bí nhiu thôi”. Điện thực sự đã góp phần đổi thay hình ảnh một miền nông thôn Khơmer mới ngày nào chỉ toàn những ngôi nhà vách, mái lá dừa trống huếch, phất phơ trong gió. Cả dòng họ Lý nhà chồng tui ở Giồng, tất tần tật đều đã xây nhà gạch. Nhà lá dừa chỉ còn là chái phụ, hay bếp chờ sửa.Chương trình tivi tiếng Khơmer vang vang trong gió mát rượi, đem “ cả thế giới đến ngôi nhà” của những người bà con trong dòng tộc tui. Như Cà Duộng, đứa cháu gái làm ăn giỏi nhất dòng họ - tui đã có lần viết bài cho tạp chí Dân tộc – ngôi nhà xây của Duộng đẹp nhất ấp – hồ hởi : “ tivi hướng dẫn mình mần ruộng, nuôi heo. Con thấy cả mợ trên đó nữa…(?)”.

Hồi năm 1976, lần đầu đưa con về quê chồng, tui sợ chết khiếp cái món chờ đêm tắm nước trên cây cầu bắc qua liếp. Bây giờ cả ấp vẫn còn những chum lớn chứa nước mưa để uống, nhưng đã có các giếng khoan dùng máy bơm đưa nước lên bể chứa.Có nhà tắm, nhà vệ sinh. Bếp nhà các cháu tui đều đã xử dụng ga để nấu ăn. Bắt cặp vịt xiêm nấu cháo đãi cậu mợ mà chỉ nửa tiếng là đã ngồi nhậu dzô dzô ngoài nhà hậu, giữa gió đồng mát rười rượi.

Chỉ tay ra cánh đồng chỉ còn trơ gốc rạ, mênh mông thông thống tới tít bờ tre xanh mờ phía xa, Duộng tít mắt khoe : nhà con 3 vụ lúa, năm nay thu 1T/công đó cậu mợ. Anh Rết ruộng gần, nước dễ, 1.5T/công kìa. Hai tuần trước cậu mợ zìa vui lắm, máy gặt chạy ầm ầm suốt ngày”. Thấy tui băn khoăn vợ chồng cô ba con chị năm vừa làm nhà nước, vừa   gieo cấy 6 công ruộng, chân mềm tay yếu sao làm nổi. Anh cháu thày giáo cười “ Hổng phải như hồi xưa đâu. Bây giờ dễ ợt mợ ơi.  Máy móc nó mần hết, từ sạ cho tới gặt. Vợ chồng con bận công chuyện Nhà nước, mướn cuối cùng mà cũng một ngày là xong hết. Gặt đập. Rê. Vô bao. Chở ra bờ kinh, xuống ghe cho thương lái. Nhận tiền cái rẹt luôn. Một vụ thì thua, chớ ba vụ cũng dư ăn, dư bán . Mình cắt lúa bằng tay người ta còn ép giá vì chê lúa không sạch đó mợ”.

Tất nhiên là không phải mọi việc với ai cũng toàn màu hồng. Nào là không phải vùng quy hoạch của tỉnh nên không nhà nào sạ lúa xuất khẩu, chỉ toàn giống tự tiêu, giá bán rẻ rề. Nào mua thuốc trừ sâu không ai hướng dẫn nên trừ không hết bệnh, thất vụ. Nào là mướn máy thì phải chi phí nhiều hơn, nên có vụ chỉ hòa vốn. Chuyện mấy con nhỏ hồi đó đi làm nhà máy thủy sản giờ mất việc, giờ ở nhà mần guộng – ruộng hết, chẳng đứa nào thèm đi học lên cấp cao hơn. Bao nhiêu trai gái thiếu đất bỏ xứ đi mần ăn xa, Sài Gòn, Campuchia đều có…Nghe cháu Út than thở “ Hồi nẳm làm còn có ăn, mợ. Bi giờ con đông, nên vợ chồng tui mần vất vả mà chỉ huề thui”. Thấy ra chuyện đẻ nhiều con cũng đã được bà con lối xóm mình để ý tới. Tui dặn Duộng “ mấy nhà góp nhau mua cái máy vi tính cho con Sa Bện – đứa cháu duy nhất trong ấp học hết lớp 12 rồi đi làm công nhân thủy sản - tìm thông tin về thuốc trừ sâu bệnh trên mạng, có hết mọi thứ đó”. Hy vọng rồi cuộc sống nơi quê chồng sẽ ngày một mới mẻ hơn, như cái chuyện cả ấp mướn máy mần ruộng thay chưn tay đó.

Điều làm tui vui nhất là 5 năm về trước, ngày thứ ba của Tết Cho thnăm thơmay, chỉ có gia đình chị năm tui và ông anh hai lên chùa dự lễ cầu siêu và ăn bữa trưa cộng cảm. Thì năm nay, cả ấp đều kéo nhau mang cơm lên dâng sư, cùng ăn tại chùa, cùng thành kính dự lễ tắm Phật, ngửa mặt đón những giọt nước đầy hương hoa các sư rảy xuống chúc phúc, cùng sư đọc kinh cầu siêu cho cộng đồng và từng gia đình, rồi tưới nước cho mát mẻ vong linh ông bà ở tháp di cốt. Tối đó, Duộng còn rủ tui ở lại ra chùa xem múa lăm thôn. Tiếc rằng mới chớm tới giờ hát múa – đã có vài chàng trai giang rộng đôi tay uốn lượn theo tiếng nhạc, khiến ông xã tui – vốn dân múa gộc- ngứa ngáy chưn tay , đang định phóng ra sân – thì xe taxi tới đón (  phải kêu xe từ thành phố Sóc Trăng cách 7 km vô ), khiến cả nhà phải chia tay.

Bữa cơm cộng cảm cả dòng họ trên chùa

Đêm mùng 1 tết, thật thú vị vì sau gần 40 năm mới lại được xem hát du kê ( năm 1976, tui về, mấy đứa cháu đã đưa đi coi ở chùa Peng Sâm Rưt). Thứ kịch dân gian này tui từng mê tít chị năm của ông xã đóng vai công chúa, hát từ hồi nảo hồi nao ở trường dân tộc bên Gia Thượng, Gia Lâm. Mấy lần trước cũng các dịp tết về, em Vĩnh Phương học trò múa của chồng tui 30 năm trước, nay là Thạc sỹ - PGĐ Sở VH – chịu không đưa đi coi được, vì Đoàn nghệ thuật của tỉnh chỉ diễn ở vùng xa thôi. Thì bữa nay coi được ở chùa Kh’leng, một trong những ngôi chùa lớn tại thành phố Sóc Trăng, nghệ nhân dân tự lập nhóm trình diễn, bên cạnh sân khấu ca nhạc. Chỗ nào cũng đông nườm nượp, ngồi rất trật tự. Mà thú vị ghê : dù ban nhạc rất đơn giản, hát nhạc mới hay dân ca, hoặc ca kịch cổ, cũng chỉ thấy toàn bằng tiếng Khơmer, không hề có những ca khúc vẫn được gọi là “ nhạc trẻ thời thượng” toàn chuyện yêu đương phổ biến bây giờ, như ở bên Campuchia hay Tây Nguyên của tôi mỗi đêm lễ hội. Nhờ truyền hình tiếng Khơmer làm rất tốt chương trình văn nghệ sao? Hay đúng là “ Phú quý sinh lễ nghĩa”? Đời sống no đủ gọi văn hóa truyền thống sống lại?

                                                                 Dù kê ở chùa Khleng

Qua một mùa Cho Thnăm Thmay. Tận mắt thấy bà con người Khơmer cùng gia đình, dòng họ chồng qua một mùa no đủ, thấy văn hóa truyền thống hồi sinh.  Ấm áp, thân thương tận đáy tâm hồn. 

[...]
Xem tiếp

Đam mê âm nhạc truyền thống

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-12-04

Không khí trong gia đình nghệ nhân Rơ Chăm Tih lúc nào cũng rộn ràng bởi âm thanh của những loại nhạc cụ truyền thống. 

Với tình yêu văn hóa truyền thống, nhiều nghệ nhân dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên đã dành phần lớn thời gian để nghiên cứu, gìn giữ bản sắc của dân tộc mình. Trong đó, ông Rơ Chăm Tih (dân tộc Jarai) ở làng Jút, xã Ia Dêr, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai là một điển hình.

Không khí trong gia đình nghệ nhân Rơ Chăm Tih ở làng Jút, xã Ia Dêr, huyện Ia Grai lúc nào cũng rộn ràng  bởi âm thanh của những loại nhạc cụ truyền thống vang lên, xen lẫn tiếng cười nói của các lớp học trò. Đến chúc Tết thầy, nhưng học trò vẫn say mê với các loại nhạc cụ yêu thích như đàn T’rưng, Ting Ning, Klông Pút…

Hàn huyên về công việc năm cũ và dự kiến năm mới, nghệ nhân Rơ Chăm Tih cũng không quên nhắc nhở học trò những chỗ còn thiếu sót. Thầy và trò cứ mải mê với nhạc cụ truyền thống, với những chi tiết của cây đàn T’rưng, Ting Ning, Klông Pút… cần phải chỉnh sửa để đạt chuẩn về âm thanh, nốt nhạc.

Chăm chú vào những động tác của nghệ nhân, lắng nghe từng điệu nhạc, anh Siu Tết ở làng Jút 1, xã Ia Dêr cho biết: “Tôi học Ting Ning được 6 tháng rồi. Thầy chỉ cho tôi kỹ lắm, tôi cũng tiếp thu được nhiều. Tôi mong muốn học để bảo tồn văn hóa truyền thống. Bà con người J’rai thì luôn gìn giữ và phát huy tốt truyền thống văn hóa của mình”.

                                                              Rchăm Tih ( ngoài cùng bên trái) hướng dẫn làm đàn t'rưng

Nghệ nhân Rơ Chăm Tih chia sẻ, tình yêu với nhạc cụ truyền thống đã ngấm vào máu thịt ông từ lúc còn rất nhỏ. Qua các mùa lễ hội ở buôn làng, qua năm tháng miệt mài dõi theo các cụ già trong làng vót những ống tre, ống nứa làm đàn, đến năm 12 tuổi, Rơ Chăm Tih đã tự chế tác được một số nhạc cụ đơn giản. Và cho đến 12 năm sau, tên tuổi và tài năng âm nhạc dân tộc của Rơ Chăm Tih thực sự được nhiều người biết đến.

Đó là vào mùa hè năm 1997, tại Liên hoan nghệ thuật quần chúng toàn quốc ở Huế, mọi người thực sự ngưỡng mộ trước tài năng chế tác và biểu diễn nhạc cụ dân tộc rất tài hoa của Rơ Chăm Tih, mang về tấm Huy chương vàng cho đoàn Gia Lai.

Mới ngoài 40 tuổi, nhưng bộ sưu tập huy chương của ông thật đáng trân trọng, với 10 Huy chương vàng và 1 Huy chương bạc trong các kỳ Liên hoan nghệ thuật quần chúng.

Nghệ nhân Rơ Chăm Tih nói: “Hồi còn nhỏ, tôi rất thích nhạc cụ truyền thống. Rảnh rỗi lúc nào tôi cũng chạy đến chỗ các nghệ nhân để nghe, nhìn cách nghệ nhân chế tác nhạc cụ. Lúc đó, tôi rất thích”.

Theo nghệ nhân Rơ Chăm Tih, một dàn nhạc cụ đầy đủ của người Jarai hay Bana phải đủ 15 loại, nhưng ông tự chế tác được 14 loại từ tre nứa, riêng cồng chiêng là phải mua. Ngày xưa, người già làm một cây đàn T’rưng phải tốn rất nhiều thời gian, công sức. Tre chặt ở rừng về phải ngâm dưới bùn ao đến 3 năm mới có thể mang lên để làm đàn. Ngày nay, tuy thời gian được rút ngắn hơn, nhưng các công đoạn chế tác cũng không kém phần công phu. Tre chặt về, phơi nắng 3 tháng, rồi đem luộc, sau đó lại đem sấy trên dàn bếp. Những đoạn tre già, thẳng và chắc mới đủ tiêu chuẩn làm đàn.

Sau những lần biểu diễn ở các nơi, có nhiều người yêu thích, hỏi mua cây đàn T’rưng của nghệ nhân Rơ Chăm Tih. Ông rất vui mừng và tự hào vì âm nhạc truyền thống của dân tộc mình vẫn được nhiều người yêu thích, cần phải tìm cách phát huy và truyền bá rộng rãi. Từ đấy, nghệ nhân thành lập Hợp tác xã sản xuất hàng mỹ nghệ Tây Nguyên, đồng thời mở lớp truyền dạy cho thế hệ trẻ. Nghệ nhân Rơ Chăm Tih rất phấn khởi, vì sản phẩm của hợp tác xã làm ra tới đâu, khách hàng đến mua hết từng đó, học trò theo học ngày càng đông.

Từ niềm đam mê âm nhạc truyền thống, nghệ nhân Rơ Chăm Tih đã tạo ra công ăn việc làm với thu nhập ổn định cho nhiều người, vừa góp phần lưu giữ, phát huy và quảng bá được văn hóa truyền thống của dân tộc mình./.

 

Công Bắc

 

[...]
Xem tiếp