Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

VTV 5 phỏng vấn

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-08-11

          Câu 1: Thưa bà! Trong thời đại hiện nay, ching chêng của người Êđê đã biến đổi như thế nào?

Wit la]:

Êlâo dih, djuê ana Êđê kno\ng hdi\p ho\ng ngă hma đui]. Ara\ anei, mnuih [uôn sang thâo pla leh du\m mta mnơ\ng sui hruê mlan, mse\ si: ksu, kphê, tiêu,…du\m klei ngă yang adiê, amâo lo\ đei dôk ôh, sơna\n klei tông ]i\ng ]har hluê du\m klei ngă yang anei kăn đei lo\ dôk lei. Kyua klei bi mlih, sơna\n ]ing ]har ăt mâo klei bi mlih hluê ana\n mơh.

(Trước kia, người Êđê chỉ làm lúa rẫy. Ngày nay, nguồn sống chủ yếu là các loại cây công nghiệp ngắn ngày hoặc dài ngày, như: mía, cao su, kphê, tiêu,…thì những lễ hội theo chu kỳ canh tác nương rẫy, bị mất dần đi, làm cho không gian để sử dụng cồng chiêng truyền thống dần biến mất. Chính sự thu hẹp ấy làm cho cồng chiêng phải biến đổi, hoặc là nó sẽ biến mất và không còn tồn tại nữa cùng với các nghi lễ truyền thống, các loại cây trồng truyền thống của người dân.) 

Câu 2: Thưa bà! Trong truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói chung, người Êđê nói riêng, thì khi nào họ diễn tấu ching chêng?

Wi\t la]:

Hlăm klei hdi\p mnuih [uôn sang, đưm êlâo dih adôk ktro\ êdi đa\o đing mâo lu yang adiê, sơna\n mâo lu êdi klei ngă yang adiê, đa kno\ng wăt đui], [ia\ dah đa mâo keli ngă yang pro\ng, truh kơ klei kdo\ mmui`- hlăp mbul. {ia\ dah, wăt amâo dah ngă yang hua\ blăm- mnăm thu\n, ăt mâo klei tông ]ing sơa\i. Kyua dah, ênai ]ing amra mtruh ho\ng yang adiê, hưn mthâo ho\ng mnuih [uôn sang klei mâo hlăm boh go\ êsei amâo dah hlăm [uôn sang.

(Trong vòng đời của những người thực hành tín ngưỡng đa thần có rất nhiều lễ cúng, có khi chỉ là lễ nhưng to hơn thì thành hội, nhưng dù là lễ hay hội thì vẫn phải gắn với tiếng ching char. Bởi vì ching là phương tiện để mà thông báo, giao lưu với thần linh, với cộng đồng, với con người, do đó lúc nào diễn tấu cồng chiêng đầu tiên đều để thông báo chuyện gì sắp diễn ra.)

Câu 3: Thưa bà! Việc đưa diễn tấu cồng chiêng thành một sản phẩm du lịch, bà thấy như thế nào?

Wi\t la]:

}ing ]har kri\ng Tây Nguyên mâo leh Unesco tu\ yap jing knhuah gru dhar kreh yuôm bhăn tar dlông ro\ng lăn. }i\ng ]har amâo djo\ hjăn pioh ba mtruh ho\ng yang adiê, atâo yang leh ana\n ho\ng mnuih [uôn sang đui] ôh. {ia\ dah, ara\ anei, truh 90% ( tpăn blŭ phần trăm) ênoh mnuih kmưn hlăm kri\ng Tây Nguyên hluê lu mta klei đa\o mkăn. Sơna\n, klei ba mtruh asăp ]ing ]har truh ho\ng yang adiê amâo lo\ dôk ôh. Kyua, ]ing ]har jing knhuah gru dhar kreh tar dlông ro\ng lăn, sơna\n brua\ kriê pioh, mđi\ mlar ]ing ]har jing brua\ ngă yuôm bhăn.

Kâo tu\ ư ba yua ]ing ]har tông- mdah kơ tuê ênguê nao dlăng, kyua dah anei jing knhuah gru dhar kreh jăk siam mơ\ng kri\ng lăn anei, sơna\n drei bi hưn mdah ho\ng tuê ênguê gơ\ thâo. Hluê kâo, si be\ drei hưn mdah pioh hlăm du\m gưl mdah klei tông ]i\ng ]har mâo mnuih nao dlăng. Brua\ ngă ana\n yuôm bhăn sơnăk, kyua dah klei dhar kreh grăp hruê mâo klei bi mlih n’nao. Hruê anei sơnei, hruê êdei mdê hi\n leh. Brua\ tông ]ing ]har mdah kơ tuê ênguê nao dlăng jing brua\ ngă yuôm bhăn êdimi ara\ anei.

(Cồng chiêng của Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể dại diện nhân loại, nó không chỉ là phương tiện để giao lưu, thông báo với các thần linh, với cộng đồng nữa. Bây giờ tới 90% dân số ở Tây Nguyên đã theo 1 tôn giáo khác. Vậy thì cái nhu cầu thứ nhất là giao lưu với thần linh không còn nữa. Nhưng nó lại là di sản của văn hóa tộc người, do đó việc bảo lưu, gìn giữ và phát huy nó là việc rất quan trọng và cần thiết.

Tôi tán thành với việc ching trở thành một phương tiện để phục vụ du lịch, vì đấy là một vẻ đẹp của văn hóa tộc người của vùng đất này, tại sao chúng ta không giới thiệu. Nhưng theo tôi, cách làm như thế nào, cách quảng bá như thế nào, để những lần tổ chức ấy có người xem, có khách thể có chủ thể giống như tinh thần của những lễ hội trình diễn cồng chiêng trước đây. Còn việc làm đó là quá tốt bởi vì văn hóa luôn biến đổi, văn hóa là sự sáng tạo của con người, là tâm hồn của con người, cho nên hôm nay nó như thế này, ngày mai có thể lại khác. Việc tổ chức diễn tấu cồng chiêng phục vụ cho du lịch là việc nên làm.)

 

 

 

 

[...]
Xem tiếp

Một chút về đọc sách

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-06-11

            Thuở bé . Sống giữa lòng Hà Nội. Nhờ có chú nhà thơ Ngọc Anh ( tác giả bài thơ Bóng cây knia) , bạn của mẹ, thường xuyên mua tặng, mà tủ sách nhỏ của tôi có rất nhiều những tập truyện cổ tích đủ loại. Hồi đó sách chưa nhiều như bây giờ, nên món quà là những cuốn sách được tặng khiến tôi trở thành đứa mê đọc sách. Lớn lên một chút, mang theo hành trang vào đời là những tuyển tập cổ tích Việt Nam , chuyện cổ Grim, chuyện cổ Andexen…Có lẽ vì lậm sâu trong cổ tích nên rất lâu, tâm hồn tôi vẫn luôn gắn bó cùng những câu chuyện đẹp như thơ, với những nàng tiên cá chung tình, nàng Vaxilisa xinh đẹp, Bạch Tuyết và bảy chú lùn chịu mọi gian khó để rồi đến được bến bờ tình yêu. Hay những cổ tích Việt Nam đủ cả vui buồn, hài hước như  Ai mua hành tôi, Thạch Sanh, Tấm Cám, Sơn TinhThủy Tinh….cái thiện thắng cái ác vừa lạ vừa quen. Qua thời tuổi trẻ, một thời gian dài tôi vẫn giữ thói quen mua sách cho con, rồi tặng cháu. Cho đến khi tivi, máy tính, smart –phone…lẫn việc đeo những chiếc cặp nặng trĩu sách vở đến lớp, chiếm lĩnh gần hết thời gian của bọn trẻ.

                Cổ tích là thể loại văn hư cấu. Đọc bằng mắt hay nghe kể chuyện ( nhất là nếu người đọc có giọng truyền cảm), rất dễ hình dung như bước vào một thế giới khác thực thực, hư hư. Nơi mà ở đó có những con vật biết nói tiếng người, những nàng công chúa tóc dài, mắt đen, xinh đẹp và nhân hậu. Hồi hộp lúc gặp thần tiên, khi hoảng hồn với phù thủy hay những gã khổng lồ độc ác… Đứa trẻ cũng có thể hòa vào không gian của những câu chuyện ấy, để rồi buồn, vui, sợ hãi hay căm giận cùng tâm trạng nhân vật hay nội dung câu chuyện…( Điều này tương tự với hình thức hát - kể trường ca ở Tây Nguyên : đã kể là phải kể cho đến hết.  Bởi cả người kể lẫn người nghe đều đắm vào không gian huyền hoặc của nhân vật chàng dũng sỹ Dam san, Jing Chơ Ngă…giỏi giang hết mình vì buôn làng, những nàng H’Bia, H’Nhi xinh đẹp và giàu lòng nhân ái…không muốn và cũng không thể dứt ra được).  Có lẽ cũng vì đọc nhiều cổ tích mà tôi tự thấy mình “lơ mơ” rất nhiều năm trong cuộc sống.  Và có lẽ cũng vì lớn lên trong những câu chuyện thần thoại tuyệt đẹp ấy, mà người Tây Nguyên,trẻ em, rồi thanh niên dân tộc thiểu số trước đây đều sống rất hiền hòa. Cổ tích mang tính hướng thiện là thế.

                Thời gian qua rất nhanh, cuộc sống hiện đại mang đến cho trẻ em thành thị nhiều thú chơi khác nhau, vẫn là có nhiều sách đấy, nhưng nội dung các câu chuyện đã biến đổi, gần với lối sống công nghiệp hóa, kỹ thuật số hơn. Các nhân vật vẫn mang sự huyễn hoặc, nhưng là của các sức mạnh siêu nhân, với sự trợ giúp của thế lực đặc biệt nào đó, khác với ông Bụt, bà Tiên…ngày xưa cũ. Hiện hình không chỉ qua từng con chữ, mà cả những chuyện tranh màu sắc rất đẹp. Gần đây Hà Nội & thành phố Hồ Chí Minh đều tổ chức những ngày hội sách, trong đó có rất nhiều sách đẹp dành cho tuổi thơ.

                Tuy nhiên, đó là việc của trẻ em ở thành phố. Còn nông thôn và các vùng dân tộc thiểu số và miền  núi thì có khác.  Tuổi thơ không chỉ thiếu hẳn những câu chuyện cổ tích từ bà, mẹ, mà còn thiếu sách đọc đến trầm trọng. ( Tháng 5/2017, tôi có cuộc điền giã ở làng của tộc người Rmam tại huyện Sa Thày, tỉnh Kon Tum. Một địa chỉ nằm sâu trong vùng lõi của Khu bảo tồn thiên nhiên Cư Mo ray. Ấy vậy mà trong cuộc phỏng vấn 120 hộ dân, chỉ còn có 1 bà mẹ đêm thỉnh thoảng kể chuyện cổ tích cho con nghe.Còn sách truyện thì cả làng đều không có. Thật đáng buồn)  . Mong biết mấy có những cuốn truyện cổ tích song ngữ bằng các thứ tiếng dân tộc ( cả miền núi phía Bắc lẫn Tây Nguyên), như những món quà quý dành riêng cho tuổi thơ dân tộc miền núi

                Những cuốn sách với những câu chuyện cổ từ mọi miền, chắc chắn sẽ đem lại cho các em những giấc mơ đẹp, những tư duy hướng thiện vốn có sẵn trong mỗi một nội dung mà biết bao thế hệ ông bà, cha mẹ từ ngày xưa đã gửi gắm cho mai sau. Cuộc sống sẽ đẹp hơn lên nếu con người ngay từ tuổi thơ đã được nuôi dưỡng trong cổ tích. Mong có những cuốn sách như thế đến với các em.

H’Linh Niê

[...]
Xem tiếp

" Bơng Ka Tê"

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-29-10

                Đó là một câu trong lời khấn mở cửa bằng tiếng Chăm của cả sư trước Tháp Pô Klong Ji Rai ( Ninh Thuận), trước hàng ngàn người Chăm gương mặt thành kính mang đồ lễ về nguyện cầu vây xung quanh tháp. Tiếng Ê Đê bơng có nghĩa là ăn. Tôi hỏi người phụ nữ Chăm trong trang phục truyền thống đứng ngay sau lưng có phải  như vậy không? Bà ấy xác nhận là đúng. Có nghĩa là ngày hội Ka Tê cũng giống như ngày Tết Nguyên đán của người Việt , với từ dân giã là “ ăn tết”, và như người Ê Đê nói rằng “huă blăm- mnăm thŭn– ăn năm uống tháng” vậy đó.

                Ka tê sẽ diễn ra ở ba không gian : đền, tháp và gia đình. Hai ngày đầu mọi nhà đều đóng cửa . Ngày thứ nhất các bậc cao cả trong plei cùng đông đảo bà con khiêng võng kiệu lên rước y trang của Bà Chúa tại làng người Răk Glay ( tương truyền rằng khi loạn lạc binh đao xảy ra, người Chăm đã mang đồ của hoàng gia lên gửi cho em út là người Răk Glay. Nên  mỗi năm một lần vào dịp Ka Tê, lại lên rước về cúng. Sau mấy ngày, lại rước lên gửi). Chúng tôi đi một đoạn theo đoàn người trang phục lộng lẫy với áo dài trắng của các cả sư, áo nhung của những già làng, áo dài, váy, khăn choàng các màu, đủ cả vàng, đỏ, xanh, cam…nét mặt hồ hởi, rước võng kiệu lên nhận y trang ở plei Mu Tan Ranh của người Răk Glay, về đền bà chúa Klăn Pô Y Nư Nương Gằn tọa lạc tại  thôn Tân Đức. Đoàn người trôi đi trong tiếng hát nhạc và múa rộn ràng của hơn 400 thanh thiếu nữ trên sân vận động ngay cạnh đó để chào mừng. Ánh mắt lúng liếng, thân hình và cánh tay cầm quạt, hoặc đội nồi đất uyển chuyển, các em gái Chăm, Răk Glay làm say đắm lòng du khách và các nghệ sỹ nhiếp ảnh.

                                                             Chuẩn bị đón lễ

Ngôi đền trong plei Tân Đức là nơi người Chăm từng làm lễ rước hồn bà Chúa từ Tháp Bà Pô Na Ga ( Nha Trang) về thờ. Đền đã được trùng tu lại khang trang. Ông Lộ Minh Trung người trong ban đón rước cho biết : Tối nay cả plei sẽ tụ tập tại đền. Ai có nợ nần gì bà hôm nay phải cúng trả. Để sau đó cúng cầu an, mong cho một năm mới mưa thuận gió hòa, làm ăn may mắn. Đây cũng là dịp để gia đình xum họp. Ông chỉ cho tôi nhóm những người anh em Rak Glay theo từ trên núi về, ngồi quây quần cùng nhau trong đền, bên cạnh những chiếc giỏ đựng hoàng bào. Nghệ nhân Thiên Đại Dốc nói thêm : Nhạc dùng cho lễ sẽ có hai trống ghi năng, 1 trống paranưng và 2 chiếc ching có núm.

Y trang của Bà Chúa trong giỏ bên phải cả sư

Ngày thứ hai tất cả các plei ở gần ngôi tháp nào, sẽ cùng nhau mang lễ vật tới đó và đợi chờ giờ phút linh thiêng. Ninh Thuận, Bình Thuận là nơi cư trú tập trung của người Chăm, nên có nhiều đền tháp. Nhưng tháp chính ở Ninh Thuận, nơi con dân Chăm hội tụ trong ngày Bơng Ka Tê, chính là tháp Pô Klong Jirai. Hàng trăm mâm lễ của các gia đình, mâm nào cũng có đủ gà & trứng luộc, các loại trái cây, rượu, nước trà…( Thật thú vị khi bắt gặp các gương mặt già trẻ, lớn bé, gái trai , cha kiệu con trên cổ, mẹ cặp bé ngang hông, con gái nắm chặt tay con trai, thậm chí cả chú chó nhỏ cõng bạn khỉ trên lưng …ai cũng đẹp, cũng sang, nô nức đổ về mọi nẻo đường cheo leo lên tháp). Chật như nêm. Mồ hôi đổ ròng ròng. Chen nhau. Lẳng lặng nhích từng bước. Lên xuống.Năm nay Ninh Thuận còn đón nhận bằng Di sản văn hóa cấp quốc gia cho Lễ hội Ka tê và gốm Bàu Trúc, nên đông quan khách hơn mọi năm.

 Sau khi cả sư khấn xin mở cửa tháp, những người phụ nữ chủ gia đình sẽ mang trầu cau và rượu lên sân cúng trước tháp, nhờ các thày khấn tên gia đình mình ( để trả nợ hoặc cầu an).Rồi kiên nhẫn, thậm chí đến chiều tối, chờ đến lượt nhà mình được vào tháp. Những ngày này cả làng vắng ngắt ( chúng tôi vào làng gốm Bàu Trúc, làng dệt Mỹ Nghiệp đều chẳng gặp được ai).

Ngày thứ 3 là ngày của gia đình. Nhà nhà xum họp tại gia, phụ nữ tập trung ríu rít làm những món bánh và món ăn truyền thống, đàn ông hồ hởi thăm hỏi, trò chuyện cùng nhau trong tình cảm thân thiết. Người bạn vong niên của tôi, nhà nghiên cứu văn hóa Chăm Bố Xuân Hổ ở huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, con cháu ông gửi hẳn chương trình làm bánh, cúng tại gia mời chúng tôi tham dự. Tiếc rằng các nghệ sỹ nhiếp ảnh đam mê với lễ hội của làng gốm đón nhận bằng Di sản văn hóa cấp quốc gia, nên bỏ lỡ lời mời gọi thú vị này.

Hình thức thì thế, nhưng sự cảm nhận sâu sắc từ tâm hồn tôi, đó là tương tự như Tết Chô Thnăm Thmây cổ truyền của người Khơmer, người Chăm cũng có một vài ngày trong năm để cháu con xum họp. Trong những ngày đó, mọi nghi lễ, mọi tập quán tinh hoa nhất liên quan tới tâm linh của Chăm hay Khơmer đều được bộc lộ một cách hào hứng. Từ phong tục, trang phục truyền thống, nghệ thuật diễn xướng cho đến nghệ thuật ẩm thực…đều có dịp phô bày, cho chính đồng tộc mình, gia đình mình thưởng lãm. Tôi yêu điều ấy quá. Nhưng cũng lại trạnh lòng. Tây Nguyên mình có hẳn Di sản quốc tế về văn hóa ( chứ không chỉ là Di sản quốc gia nhé), từng mỗi năm có tới hàng chục không gian diễn xướng lễ hội độc đáo, vậy mà có ngày nào trong năm để những đứa con xa xứ tìm về dưới mái nhà sàn, trong vòng tay thương yêu của gia đình và buôn làng, như các bạn Chăm và Khơmer không? Sự mất mát ấy từ đâu mà ra? Làm cách nào để mình lại có những ngày vui vầy như thế người Tây Nguyên ơi?

Đề án Bảo tồn văn hóa các DTTS của thành phố Buôn ma Thuột có một ý tưởng do người dân tự đề xuất, rằng : một năm , ở mỗi buôn, sẽ có một ngày Hội dọn bến nước ( những buôn nào không còn bến nước thì dự cùng buôn bên cạnh), ngoài những ngày lễ của đoàn thể chính quyền, cả buôn, thậm chí là các buôn, sẽ cùng nhau tụ hội, dọn dẹp sạch sẽ bến nước, buôn làng , tấu ching và ăn bữa ăn cộng cảm , như người Sê Đăng làng Kon H’Ring ( Cư M’Gar) vẫn làm. Nếu được vậy, sẽ có một ngày cho cháu con xa trở về, buôn sang ta gặp nhau trong tình cảm đồng tộc ấm áp nhất. Buôn Ma Thuột ơi, thực hiện đi nhé. Cho tiếng ching knah lại vang lên tự chính các buôn làng. Cho Hội bến nước cũng được xum vầy đông vui như Bơng Ka Tê, Chô Thnăm Thmây ấy….

Hẹn năm sau mình lại đi bơng Ka Tê nhé bạn.

 

                                                                                                                                                                                                             Ninh Thuận mùa Ka Tê 2017

 

[...]
Xem tiếp

ÔNG LÀ NHÀ GIÁO ƯU TÚ

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-10-10

Tôi biết ông năm 1973, sau những ngày hành quân đi bộ từ miền Nam vượt Trường Sơn ra Bắc học tập âm nhạc. Lúc ấy Măng Ngọc và H’Gớt là hai ca sỹ của Đoàn nghệ thuật B3, Quân khu 5, được gửi tạm về đoàn Ca múa Tây Nguyên ở Cầu Giấy, Hà Nội, để chuẩn bị hành trang vào trường Âm nhạc Việt Nam.

             

                Tham gia văn nghệ từ năm 16 tuổi, bước chân và giọng nam cao sáng khỏe của người ca sỹ ấy đã in dấu trên mọi chiến trường Tây Nguyên nóng bỏng. Không chỉ phục vụ bộ đội mà còn cả bà con các buôn làng. Ba lô trên vai không những là hành trang quân dụng mà còn cả các nhạc cụ tre nứa, ching trống phục vụ những đêm biểu diễn dưới ánh đèn măng xông. Vượt qua bom đạn giặc, trải qua cả những tháng ngày đói queo quắt thắt bụng đi làm rẫy lấy lương thực tự nuôi nhau , mà đêm vẫn cất tiếng hát hào sảng;             

Măng Ngọc sở hữu một giọng hát sáng, vang và rất truyền cảm.  Với kỹ thuật thanh nhạc được học, ông có thể hát được nhiều thể loại, từ âm nhạc cổ điển nước ngoài, những bài dân ca Tây Nguyên, những bản anh hùng ca hùng tráng và trữ tình. Những ca khúc “ Mặt trời của tôi” ( Italia), “Sông Đăk Krong mùa xuân về” ( Tố Hải)…từng nhận được những tràng vỗ tay kéo dài của khán giả mọi nơi ông đến hát.

          Tốt nghiệp đại học thanh nhạc tại Nhạc viện Hà Nội cũng là lúc đất nước đã thống nhất. Sau một vài năm công tác ở Đoàn Ca múa Đam San, ông là thế hệ đầu tiên trong những người thành lập Trường Trung cấp văn hóa nghệ thuật tỉnh Gia Lai. Khi ấy là trường của Bộ Văn hóa giành cho các tỉnh Tây Nguyên. Với trái tim và tâm hồn của nghệ sỹ, ông đem hết tâm lực cùng các giáo viên của trường bắt đầu từ những con số không, dựng nên không chỉ cơ ngơi mà còn cả những bộ giáo trình giảng dạy các chuyên ngành nghệ thuật giành cho Tây Nguyên. Hàng trăm lượt học sinh người các dân tộc khắp các tỉnh Tây Nguyên, đã có được cơ hội phát triển năng khiếu nghệ thuật của mình, trở thành những chiến sỹ trên mặt trận văn hóa một cách đúng nghĩa.

Với những cống hiến đầy nhiệt huyết của mình, ông được trao tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 2000 .

H'Linh Niê

 

[...]
Xem tiếp