Linh Nga Niê Kdăm
taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Giải cứu người Chứt: Cổ tích Rào Tre

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-29-05

Những cuộc tình tội lỗi đẩy người Chứt ở Rào Tre vào bóng tối, nhưng lại có những câu chuyện tình tựa như cổ tích mở ra những tia hi vọng giải thoát đồng bào Chuyện tình hay hơn tiểu thuyết

                Một ngày giữa tháng Tư vừa rồi, bản Rào Tre xẩy ra một sự kiện mang tính chất lịch sử. Lần đầu tiên sau 25 năm hòa nhập với thế giới văn minh, đồng bào người Chứt có đám cưới đầu tiên với một người ngoài bản. Con gái ông Hồ Pắc tên là Hồ Thanh Mai đồng ý làm vợ chàng thanh niên người Kinh tên Lê Xuân Công, một anh lính biên phòng xuất ngũ. "Đó là một đám cưới vô cùng đặc biệt", trung tá Nguyễn Văn Sâm, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Bản Giàng vẫn còn rất hồ hởi khi kể lại. Trung tá Sâm chính là vị chủ hôn trong "đám cưới lịch sử" được tổ chức vào ngày 7/4, ngay tại Trạm biên phòng Rào Tre. Đó cũng là lần đầu tiên người Chứt chứng kiến một đám cưới đúng nghĩa.

                                                                     Đám cưới của Hồ Thị Xuân Mai & bộ đội

Bốn năm trước, cũng vào những ngày tháng Tư đổ lửa miền biên ải, trong một đêm giao lưu văn nghệ ở trung tâm xã Hương Liên (Hương Khê, Hà Tĩnh) họ đã gặp nhau. Khi ấy Công là anh lính nghĩa vụ đầy nhiệt huyết, lý tưởng, còn Mai là cô nữ sinh của Trường Phổ thông dân tộc nội trú huyện Hương Khê. Dường như định mệnh đã sắp đặt sẵn, họ cùng hát song ca một bài trong chương trình văn nghệ, cùng nhau tham gia những trò chơi, cùng nhau tham gia buổi giao lưu giữa các cơ quan với dân bản... Và cùng để ý đến nhau.

Sau lần gặp gỡ ấy, Công trở về đơn vị còn Mai tiếp tục đi học. Ở Rào Tre, nơi mà muốn trẻ con đi học còn phải đến tận từng nhà để gọi thì việc Mai học đến cấp ba là chuyện hiếm hoi vô cùng.  Mai lại còn là cô gái xinh nhất bản. Vì thế, trước cổng gia đình ông Hồ Pắc đêm nào cũng có 4-5 bó củi của đám thanh niên dạm hỏi Mai theo tục lệ đồng bào. Rất nhiều người đánh tiếng với gia đình ông Pắc, nhưng đã từ lâu, suy nghĩ của Mai đã vượt ra khỏi bóng tối đang bao trùm lên bản. Cô biết, những cuộc hôn nhân cận huyết thống đang bào mòn giống nòi người Chứt ở đây. Cô biết, trong những bó củi hằng đêm đặt trước cổng nhà mình có không ít chủ nhân là anh em trong họ.

Học hết cấp III, cô trở về làm Phó Bí thư Chi đoàn, tham gia các lớp dạy bổ túc cho trẻ em trong bản. Một năm sau Công xuất ngũ. Anh khoác ba lô lên bản Rào Tre tìm Mai với quyết tâm thổ lộ tấm lòng mình. “Khó khăn lắm em mới nói được lời yêu với Mai nhưng ban đầu cô ấy không đồng ý. Lúc đó em đã rất thất vọng, nghĩ rằng Mai không có tình cảm với mình nên lập tức xách ba lô quay trở về gia đình rồi đi vào Nam làm ăn.  Một thời gian sau, thông qua Hồ Tình, một người bạn cùng đơn vị, cũng là người ở bản Rào Tre em mới biết Mai từ chối vì vẫn còn mặc cảm mình là người dân tộc thiểu số.  Phải mất một thời gian dài sau đó, khi em trở về quê, thường xuyên đi lại, quan tâm, thuyết phục Mai mới đồng ý. Có lẽ là thấu hiểu được tình cảm chân thành của em nên một thời gian sau Mai đã nhận lời", Công kể, còn Mai chỉ biết ngồi cười tủm.

 Tưởng như trắc trở thế đã qua, nhưng không, tất cả mới chỉ bắt đầu. Ngày Công và Mai yêu nhau, từ chính quyền địa phương đến cánh bộ đội biên phòng cắm bản tìm nhiều cách động viên, giúp đỡ, vun vén thêm hạnh phúc đôi trẻ, nhưng cản trở lớn nhất như nhiều người vẫn dự đoán, đến từ gia đình của chàng trai. Quê Công ở xã Phúc Đồng (huyện Hương Khê), vùng bán sơn địa cách bản Rào Tre gần 50 cây số. Bố anh mất sớm, mẹ già con một nương tựa lẫn nhau, từ nhỏ Công đã phải xa quê bôn ba đủ thứ nghề kiếm sống. Ngày Công đưa Mai về ra mắt, biết cô là người Chứt ở Rào Tre, anh em họ hàng trăm người như một ra sức phản đối. Họ nhất quyết cự tuyệt cô gái đến từ Rào Tre, một nơi mà đời sống thường xuyên lên đài báo, ti vi bởi những hủ tục, lạc hậu, đói nghèo... Tôi hỏi Công: Làm rể người Chứt thấy thế nào? Anh trả lời: Ban đầu thì cũng có nhiều cái lạ lẫm, giao tiếp còn khó khăn, nhưng bây giờ thì đã quen, em thấy cũng bình thường. Mấy năm yêu Mai và bây giờ thành chồng vợ, thỉnh thoảng vẫn thấy Công nói tiếng Chứt như người đồng bào, đánh đàn Trơ bon, một nhạc cụ của người Chứt hay ra phết. Không cần uống nước, ăn chiếc kẹo của đôi bạn trẻ, cả họ bỏ về hết, chỉ còn lại Công, Mai và bà mẹ già ngồi thẫn thờ nhìn lên di ảnh chồng trên chiếc bàn thờ cầu cứu. Thương con lắm, nhưng bà không thể chống lại các bậc cao niên trong họ. Bao năm nay, khi Công biền biệt, bà chẳng sống nưa tựa vào họ là gì? Biết không thể thuyết phục được mọi người, Công dẫn Mai đến quỳ trước mặt mẹ già xin đưa Mai quay trở lại Rào Tre. Anh nói với mẹ mình, hai đứa sẽ tìm đất lập nghiệp trên đấy, bao giờ ổn định sẽ làm lễ cưới và đón mẹ lên. Gạt từng giọt nước mắt khô, bà mẹ gật đầu, bà biết tính con, hắn đã quyết cái gì thì không bao giờ thay đổi.

Hai năm sau, ngày 7/4/2015, đám cưới của họ được tổ chức trong một không gian ấm cúng do Đồn Biên phòng Bản Giàng dựng nên. Treo thưởng cho các cặp uyên ương Trung tá Nguyễn Văn Sâm tâm sự rằng, giữa đồng bào người Chứt và Bộ đội Biên phòng dường như có một sợi dây tình cảm vô cùng đặc biệt. Có một câu chuyện mà anh em luôn nhắc nhở nhau về trách nhiệm đối với đồng bào, trước đây, khi người Chứt vừa được phát hiện, một đoàn công tác của tỉnh Hà Tĩnh do ông Đặng Duy Báu, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh lúc bấy giờ dẫn đầu, khi khảo sát ở Rào Tre đã phải ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Làm sao để cứu giúp được tộc người Chứt bây giờ?”. Lúc ấy chỉ có Bộ đội Biên phòng dám đứng ra "trả lời" câu hỏi ông Bí thư Tỉnh ủy. Trung tướng Võ Trọng Việt, lúc ấy là đại tá, Chỉ huy trưởng Bội đội Biên phòng tỉnh Hà Tĩnh đã đưa ra những lời quả quyết: “Bộ đội Biên phòng Hà Tĩnh sẽ hồi sinh dân tộc Chứt, bằng mọi giá đưa tộc người này tiếp cận với xã hội văn minh…”.

Tinh thần ấy, 25 năm sau, trong lúc các phương án giải cứu người Chứt đang gặp quá nhiều khó khăn, vẫn còn đang dang dở thì Bộ đội Biên phòng Hà Tĩnh âm thầm hành động. Nếu cứ để người Chứt bị cô lập mãi thế này thì không có cách nào thoát ra được. Chưa có người Chứt nào lấy chồng, lấy vợ bên ngoài thì bộ đội biên phòng phải tiên phong hỏi cưới người Chứt trước. Trước đám cưới của Công và Mai ở Rào Tre, người Chứt ở bên bản Giàng cũng đã chứng kiến những câu chuyện tình rất đẹp. Anh lính biên phòng Đặng Tuấn Anh quê ở Nam Định nên duyên với cô giáo người Chứt Hồ Thị Loan năm 2011, đến nay họ đã có 2 người con. Hai năm sau, cũng ở bản Giàng, lại thêm một chiến sĩ biên phòng tên Thành kết hôn với cô gái người Chứt tên Hồng... Đến nay, cuộc sống của họ đang vô cùng hạnh phúc.

 Trung tá Sâm nói rằng, để động viên, hỗ trợ điều kiện tối đa cho các cặp uyên ương xác định gắn bó với mảnh đất này, Bộ đội Biên phòng Hà Tĩnh đã lên phương án vận động, treo thưởng, đặc biệt là xin chính quyền địa phương cấp đất, hỗ trợ làm nhà cho họ ổn định đời sống. Tất nhiên là trên cơ sở các cặp đôi có tình cảm với nhau. Ngoài ra, sau khi họ nên duyên, anh em biên phòng cũng thường xuyên giúp đỡ trong sinh hoạt, SX. Khi chúng tôi rời Rào Tre, trung tá Sâm nắm tay hẹn: Chúng tôi vừa có thông tin, trong bản hiện đang có một đôi đang tìm hiểu. Anh chàng người Kinh ngoài xã Hương Liên yêu cô gái Chứt trong này. Sắp tới nếu họ cưới nhau sẽ mời anh lên dự.  

HOÀNG ANH

[...]
Xem tiếp

“CẦN CÓ MỘT TẤM LÒNG”

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-27-05

Thông thường thì 5 năm bạn bè trong ngành mới được gặp nhau đông đủ một lần, nên người ta đến Đại hội để …trò chuyện là chính. Nhưng trong Đại hội VII của Hội Văn nghệ dân gian VN tổ chức ở Hà Nội,  bản tham luận của Thạc sỹ Nguyễn Quang Tuệ ở Gia Lai, gây được sự chú ý của đông đảo hội viên và giới báo chí . Theo lời giới thiệu của GSTS Khoa học Tô Ngọc Thanh, thì “ đây là một kinh nghiệm rất hay và  là một việc làm đầy tình nghĩa”.

Điều cần nói lại cho chính xác ở đây là sau những chuyến  “ về làng”, xót lòng trước sức khỏe và cuộc sống nhọc nhằn của các nghệ nhân ngày một “ thê thảm”, Ths Nguyễn Quang Tuệ đã lên tiếng về ý tưởng “ trả lương” cho nghệ nhân này trên web của mình và trên báo Gia Lai, đồng thời kêu gọi sự đóng góp của những người yêu Tây Nguyên. Chỉ 300.000đ / người/ tháng thôi,chí ít là đủ mua gạo. Ngay lập tức lời kêu gọi lan tỏa rất nhanh. Thạc sỹ Nguyễn Quang Tuệ thông báo, tính cho đến chiều 27/5, “quỹ  lương tháng” dành cho các nghệ nhân hát – kể sử thi –trường ca ở Gia Lai – Kon Tum của Tuệ đã có được 60.000.000đ. Và chắc chắn vẫn đang không ngừng tăng lên. Không để lỡ thời gian, phụ tấm lòng bè bạn, nhóm của Tuê đã kịp thời trao tháng lương đầu tiên cho 6 nghệ nhân ở hai tỉnh Gia lai & Kon Tum, trong đó có 4 cụ đã được nhận nuôi dưỡng suốt đời. Bởi có rất nhiều người quan tâm tới “ số phận lay lắt” trước gió của các “ Báu vật nhân văn sống”.

                                                                         Các nghệ nhân TN là " báu vật nhân văn sống"

Nhưng cái chính là từ Tuệ đến các cụ nhận được sự ủng hộ của những tấm lòng hảo tâm xa gần; chứ không phải từ một chủ trương của tổ chức nào rồi Tuệ đứng ra kêu gọi và đây là việc làm của Chi hội Gia Lai…vv…như có người “ học lại” với tôi khi nghe thông tin này.

Tham luận của Tuệ có tựa đề “ Làm xã hội hóa có khó?” nên vấn đề đặt ra là “ Còn tỉnh nào ở Tây Nguyên được như thế nữa không ? Có ai tiếp bước theo Tuệ mà phát lời kêu gọi như thế nữa không? Có chính quyền nào nhân đấy mà đặt vấn đề “ làm thật” một cách nghiêm túc không? E là khó đấy! Cứ lấy Chi hội VNDG của Tuệ ở Gia Lai ra mà xem : có 5 người thì chẳng ai đóng góp. Cơ quan của Tuệ ( nơi quản lý các Di sản), thì có 1 vị góp cho 100.000đ.

Theo mình, việc XHH, cá nhân thì được chứ ( vì tùy theo lòng hảo tâm và cái túi của mỗi người) chứ tổ chức nào đứng ra e còn lâu đấy. Nội thủ tục xin được phép thôi cũng nhiêu khê lắm nhé ( cho dù vận động 1 cửa). cứ xem chủ trương chi hàng tỷ đồng cho việc bảo tồn “ Di sản KGVHCCTN” ấy, có chữ nào tương tự việc Tuệ làm không? Hay như việc trao danh hiệu NN Ưu Tú, NN Nhân dân ấy, Hội VNDGVN làm hàng chục năm nay rồi, bây giờ Nhà nước mới đang tiến hành xét, chứ chính sách nuôi dưỡng các cụ thì…hãy đợi đấy !

Nhạc sỹ Trịnh Công Sơn có câu hát “ sống trong đời cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi” . Nguyễn Quang Tuệ làm được điều này vì anh ấy không chỉ có tấm lòng, mà còn bởi anh tôn xưng nghệ nhân là Thày, những người Thày đã tạo cho Tuệ cả tâm thế lần tư thế trong làng khoa học văn nghệ dân gian. Cám ơn Nguyễn Quang Tuệ !

 

 

[...]
Xem tiếp

Sưu tầm Văn nghệ dân gian Tây Nguyên,đi từ không đến có

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-23-05

26/5 - 27/5 Đại hội Hội VNDG VN lần thứ VII sẽ diễn ra tại Hà Nội,  xin điểm danh 1 lần đội ngũ tại TN             

  Kho tàng văn nghệ dân gian các dân tộc ít người Tây Nguyên không chỉ đồ sộ mà còn vô cùng độc đáo. Đó  là những “ Bảo tàng sống ” về đời sống xã hội của một tập hợp phong phú các tộc người thuộc hai ngữ hệ chính tương đối đồng nhất là Malayo -Polynisieng & Môn Khơmer ; của tín ngưỡng “ Vạn vật hữu linh” – đa thần giáo ; của hệ thống các phong tục tập quán riêng biệt ; của những áng văn chương truyền miệng dài hơi mà các nghệ nhân hát kể “ suốt ngày dài đêm thâu”; của nhịp điệu ching chêng & vòng xoang quyến rũ những bàn chân trần, những đôi tay mềm nâu màu nắng; của những câu hát giao duyên ngọt ngào trong điệu sáo, tiếng ting ning những đêm trăng cao nguyên vời vợi....làm mê đắm không biết bao nhà sưu tầm nghiên cứu và các tác giả đi tìm cảm xúc thăng hoa cho tác phẩm của mình.

                                                                Văn hóa TN diệu kỳ luôn cuốn hút các nhà sưu tầm

Ngay từ những năm đầu tiên của thế kỷ XX , khi người Pháp đặt chân đến miền đất Tây Nguyên, bề dày & tính độc đáo của văn hoá dân gian Tây Nguyên đã cuốn hút các ông bà Tây mắt xanh mũi lõ.Không phải ngẫu nhiên mà một nhà văn hoá lớn như Comdominas nhiều năm sau, sang tận thế kỷ XXI còn nặng lòng khát vọng trở lại với vùng văn hoá anh em Mnông Gar ( Đăk lăk). Hoặc một Sabachie đã gần như lãng “ quên” cả vai trò công sứ, khi sưu tầm và dịch sang tiếng Pháp không chỉ Trường ca Dam San,mà còn cả bộ luật tục hàng trăm câu bằng vần của người Êđê.Hay Anne De Mautecloque ăn dầm nằm dề để hiểu và viết “ Người Êđê, một chế độ  mẫu quyền ” Hoặc một Đức Cha Jacques Dournes yêu đến chấp nhận từ bỏ tất cả, sống và chết với Tây Nguyên ....

Cũng từ những năm tháng ấy, bước chân các học giả, các nhà nghiên cứu các miền như Nguyễn Đổng Chi, Cửu Long Giang, Toan Ánh... đã lần lượt bước sau nối tiếp bước trước hành trình tìm đến Tây Nguyên , để có những “ Mọi Kon Tum” ( nay được xuất bản dưới tên gọi “ Người Bâhnar ở kon Tum) ,  “ Buôn làng cổ truyền xứ Thượng ” cho đến hôm nay vẫn còn là những tác phẩm khiến người đọc phải lưu tâm bởi tính xác thực của những tư liệu gốc.....Còn tại Hà Nội, khi đất nước đang bị tạm chia làm hai miền, những bản trường ca, sử thi bất hủ của Tây Nguyên ra mắt dưới dạng tác phẩm văn học( Dam San, Xing Nhã, Dam Phu...), những điệu múa, làn điệu dân ca độc đáo... đã được các nhà sưu tầm nghiên cứu giới thiệu với bạn yêu văn học nghệ thuật trong & ngoài nước.

Cho dẫu Hội Văn nghệ dân gian VN được thành lập ngay từ năm 1966, nhưng do sự cách trở của núi sông tạm chia cắt và bẵng đi một thời gian rất dài bận rộn với công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, VNDG dường như rơi vào quên lãng ; văn hoá truyền thống Tây Nguyên cũng cùng “ chịu chung số phận ” chẳng được ai ngó ngàng gì đến. Chỉ từ sau 1975, việc sưu tầm nghiên cứu văn hoá cổ truyền Tây nguyên mới được đặt thành trách nhiệm của nhiều ngành, nhiều người, và dần trở thành đích đến không thể thiếu của những người làm công tác nghiên cứu  khoa học văn hoá, văn nghệ dân gian.

Năm 1982, trước khi hoạt động của Hội VNDG được khôi phục lại,với sự quan tâm của chính quyền địa phương, ngành văn hoá các tỉnh Tây Nguyên , với sự giúp đỡ của Viện nghiên cứu VHNT thành phố Hồ Chí Minh ( do Giáo sư Tô Vũ làm Viện trưởng),  đã tổ chức các lớp KPVAC ( khai thác, phát huy văn hoá âm nhạc cổ truyền) tại Đăk Lăk, đặt những dấu ấn đầu tiên cho công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hoá - văn nghệ dân gian các dân tộc ít người Tây Nguyên, ngay tại địa phương.Lần đầu tiên bài học vỡ lòng của phương pháp sưu tầm có “ bài bản ” qua đo đạc, ghi âm,ghi hình, ghi chép...được các thày tỷ mỷ hướng dẫn, trò trân trọng tiếp thu, rồi vui như tết và ngạc nhiên đến sững sờ khi thực hành trên thực địa. ( Tôi vẫn nhớ rõ cảm giác sửng sốt của cả thày lẫn trò khi chứng kiến một người phụ nữ  Êđê ở xã Krông Jing - huyện M’DRăk, tỉnh Đăk lăk- ngắt những cọng rạ còn tươi lần lượt đưa cho 6 người phụ nữ để hình thành bộ kèn Đinh Tut, mà chiếc ống rạ đầu tiên có thanh âm đồng nhất với thanh mẫu nhạc sỹ Nguyễn Văn Hoa mang theo). Lớp học ngày ấy có cả anh chị em yêu thích công tác sưu tầm văn hoá của không chỉ Tây Nguyên, mà còn ở các tỉnh Bình Định , Phú Khánh, Quảng Ngãi...tham gia. Đó có thể được coi là những hạt giống đầu tiên của công tác sưu tầm văn nghệ dân gian, được nâng niu gieo xuống miền Trung & mảnh đất đỏ bazan  màu mỡ .

Đúng như tên gọi của đại hội II ( Đại hội HỒI SINH), từ ngày Hội VNDG hồi sinh, năm 1989, Tây Nguyên ngay lập tức trở thành một trong những địa chỉ được đặc biệt chú trọng của công tác sưu tầm, nghiên cứu. Hình ảnh các giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, Chu Thái Sơn, Ngô Đức Thịnh, Đỗ Hồng Kỳ, Phan Đăng Nhật... miệt mài, lặn lội ghi âm, chỉnh lý;  các Giáo sư Trần Quốc Vượng, Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Xuân Kính say sưa trên bục giảng ươm gieo không chỉ kiến thức mà còn cả sự tận tuỵ với nghề.... như những tấm gương trên con đường dài vạn dặm dẫn đến với văn hoá cổ truyền Tây Nguyên. 

Hạt giống các thày gieo xuống đất màu đã nên cây, mỗi ngày thêm xanh và ra hoa kết trái.Từ lúc phải mời các nhà khoa học Trung ương của các Viện văn hoá nghệ thuật, Nhạc Viện Hà Nội vào thực hiện các đề tài...cho đến lúc có được hai hội viên đầu tiên là Linh Nga Niê Kdam và Nguyễn Hữu Đức, Đăk Lăk, rồi Gia Lai, Kon Tum... dần thêm hàng chục anh chị em cán bộ trong ngành Văn hoá và Giáo dục khắp các tỉnh Tây Nguyên, tham gia hoạt động . Dù ban đầu mới chỉ dừng ở bước sưu tầm, nhưng các kết quả vẫn được Hội TW nâng niu, động viên. Số lượng những người vì mến yêu mà đến với công tác sưu tầm, phát huy văn hoá truyền thống Tây Nguyên cứ mỗi năm một đông dần lên, say mê với nghề hơn. Tuy vậy, “ vạn sự khởi đầu nan”. Những tháng năm ở thuở ban đầu ấy, đâu phải lãnh đạo địa phương nào cũng đã hiểu cho tầm quan trọng của công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hoá truyền thống, nhất là sự tập hợp của một số văn nghệ sỹ vào một tổ chức của một Hội nào đó ở TW xa lắc. Vậy nên Chi hội VNDG đầu tiên ở Tây Nguyên đã được thành lập ở Trường Cao đẳng sư phạm Đăk Lăk, vài năm sau mới được công nhận là thành viên của Hội VHNT địa phương.Tiếp đó là chi hội Kon Tum, rồi chi hội Gia Lai...lần lượt ra mắt.Chỉ riêng với tỉnh Lâm Đồng, dù cho cả hai vị chánh phó chủ tịch Hội là các giáo sư Tô Ngọc Thanh và Trần Quốc Vượng, cùng “ thủ lãnh vùng” Linh Nga Niê Kdam qua lại mấy lần, mãi đến đầu thế kỷ  XXI mới  thành lập chi hội được. Đội ngũ rải rác khắp Tây Nguyên vẫn đã có nơi chốn tập hợp lại để hỗ trợ nhau cho cùng một mục đích : bảo tồn văn hoá truyền thống.Đến những năm đầu thế kỷ XXI này, con số hội viên Hội TW đã là 40 người.

 Tôi luôn nhớ  về những người bạn đồng nghiệp, như thạc sỹ Tấn Vịnh : từ lúc chỉ là những bài viết kể lại một sự việc vừa tròn  một trang vở học trò, gửi đến chương trình văn nghệ của Đài PT-TH Đăk lăk, cho đến lúc là  tiến sỹ...vẫn thuỷ chung với kho tàng văn hoá dân gian các dân tộc Trường Sơn-Tây Nguyên. Hay nhà thơ Văn Công Hùng, từ chỗ chỉ tò mò kể lại một cách vô tư ( thậm chí còn hơi ác cảm) những tập tục, đã dần chuyển sang tình cảm yêu mến & trân trọng những giá trị nhân bản của văn hoá phong tục Tây Nguyên. Hoặc NSƯT Vũ Lân, nhà sưu tầm Trương Bi ( Đăk lăk) , cố nhạc sỹ Phạm Cao Đạt ( Kon Tum), cố nhạc sỹ Y Sơn Niê ( Đăk Lăk), nghệ sỹ nhiếp ảnh Trần Phong ( Gia Lai), K’Ra Zan Plin ( Lâm Đồng)  ... mê mải tháng năm với những cây đàn, điệu múa, mảng hoa văn cổ, những bức tượng nhà mồ... như người bới  tro tìm ngọc, đưa ra ánh sáng, cho di sản văn nghệ Tây Nguyên chói loà lên trong ánh nắng mặt trời rực rỡ của cao nguyên. Rồi những nghệ nhân già, những người đắm say “ giữ hồn của rừng” như nghệ nhân Điểu Kâu, các cụ Điểu Klứt, Điểu Glung ( Mnông), A Lựu, Gang ( Bânar) , Âe Wưu, Y Yơn ( Êđê) , mà không ít cụ đã bay về cõi ông bà xưa......Kể không hết được những người đã sát cánh  trên con đường góp phần gìn giữ tinh hoa của đời sống văn hoá truyền thống trên mảnh đất cao nguyên. Những tấm lòng ấy thật đáng trân trọng biết bao.Chỉ tiếc, ngoài các nghệ nhân, số anh chị em người dân tộc bản địa làm thực sự gắn bó, đam mê công tác sưu tầm nghiên cứu để gìn giữ và bảo lưu văn hoá truyền thống của chính mình vẫn còn quá ít

Với tấm lòng của những người đi trước , với sự động viên, hỗ trợ của BCH Hội VNDG, Hội VHNTDTTS Việt Nam đội ngũ những người làm công tác sưu tầm nghiên cứu văn nghệ dân gian Tây Nguyên đã đi từ không đến có, không chỉ được tập hợp lại, mà còn ngày một trưởng thành về nghề nghiệp, đủ sức đứng vững trên nhiệm vụ công tác và niềm say mê của chính mình, mà các giải thưởng hàng năm của Hội VNDG Việt nam, Hội VNDTTS Việt Nam trao cho Trương Bi, Tấn Vịnh, Linh Nga Niê Kdam...hay thế hệ tương lai từ những các Tiến sỹ Thu Nhung Mlô Dun Du, Tuyết Nhung Buôn Krông, các thạc sỹ  trẻ người dân tộc bản địa dấn thân vào con đường nghiên cứu văn hoá dân gian Tây Nguyên như  Lý Vân Linh Niê kdam, Y Chen Niê ( Ê đê) , Kpă Tố Nga ( Jrai), Y Tuyn Binh ( Mnông) , Phạm Văn Hoàng ( Sê Đăng)  ...là những minh chứng.

Mừng đội ngũ mỗi ngày mỗi đông, vui với những tác phẩm, những công trình nghiên cứu giới thiệu vẻ đẹp của văn nghệ dân gian Tây Nguyên ngày càng xuất hiện nhiều hơn trên văn đàn.Tiếc lắm những nghệ nhân – Báu Vật Dân Gian đã mang theo cả kho tri thức Tây Nguyên khổng lồ đi về cõi Mang Lung. Thương lắm tấm lòng những con người ngày đêm lặng lẽ gạn đục khơi trong , làm sống lại cả một nền văn minh nương rẫy Tây Nguyên , trong đó có không gian văn hoá cồng chiêng, đã được thế giới công nhận là “ Di sản văn hóa phi vật thể ” của nhân loại.                                                               

[...]
Xem tiếp