Linh Nga Niê Kdăm
taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Cựu binh Yuir và hai cuộc “duy tân” làng

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-03-07

Đi đầu trong việc đưa cây cà phê về làng, đưa cá về nuôi, lập trang trại - cái gan dám chống lại Yang (trời) của A Drung Yuir (làng Klot, xã Kon Gang, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai) đã làm bừng sáng những khát vọng đổi đời cho một vùng đất hàng bao đời tự trói mình trong lệ tục…

 

                                                                                  Ông Yuir bên ao cá của gia đình     

Hai lần “bước qua lời nguyền”

Buổi sáng hôm ấy đi làm rẫy qua nhà Yuir, người làng Klot bỗng nghe tiếng đào đất rình rịch rồi tiếng máy nổ váng cả một góc rừng. Hỏi, hóa ra là Yuir đang đào hố trồng cà phê. Nhiều người nghe lạ tai quá xuống tận nơi coi thử. 

Quả là Yuir đang trồng cà phê thật. 

Thế này là nó định để Yang phạt chết cả làng hay sao? Đang định đi kêu thì già làng biết tin đã đến. Che bàn tay nhăn nheo lên con mắt để nhìn cho rõ chuyện lạ, giọng già làng rin rít: “Thằng Yuir, đừng có nghĩ mày đi bộ đội về thì được bỏ lệ người Bah Nar nhé. Đưa cây lạ về, mày muốn Yang làm đau chết cả làng hay sao? Nếu không muốn Yang giận, ngày mai mày phải làm thịt một con dê để cúng nhà rông!”.
Không thấy Yuir cãi, chỉ căm cúi đào hố. “Chắc là nó tính đường lảng. Không nghe lời thì còn phạt to nữa”- già làng giận dữ ném cây gậy vào hố rồi nhổ nước miếng đi về…

Nhưng bất ngờ là trưa hôm sau lại thấy Yuir đi kêu mọi người ra nhà rông uống rượu cúng Yang. Một con dê to. Không ai muốn bỏ qua dịp này. Già làng cúng xong, lẽ ra phải nói lời xin Yang tha tội, xin lỗi dân làng thì Yuir lại “tuyên truyền” cho cây cà phê. Xong lại quay sang chê dân làng  sống cùng đất, hưởng cùng nắng gió mà người Kinh làm giàu được, còn người Bah Nar thì chỉ biết ôm cây lúa của ông bà rồi kêu đói... Chuyện đúng thế nhưng nghe vẫn tức đầy cả ruột. Thấy có người tự ái định bỏ về, ông Yong đứng lên nói: Tôi là cán bộ tập kết, đi đây đi đó cũng nhiều, vậy mà cái đầu không nghĩ được bằng Yuir. Chỉ mai mốt tôi cũng phá “cái vườn lung tung” của tôi để trồng cà phê. Đánh cược với cả làng, nếu Yang không phạt tôi, phạt Yuir thì chịu đền gì? 

Không ai dám cược cả. Lũ thanh niên phá lên cười. Cuộc phạt vạ bỗng quay sang chiều hướng bất ngờ: làng nhất trí góp tiền đền lại cho Yui con dê…

Vụ cây cà phê chưa ai kịp quên thì Yuir đã lại tiếp tục “gây chuyện” nữa.

Tiếng máy gầm gừ lúc con gà chưa kịp đi ăn đã kéo cả làng dậy. Lại thằng Yuir giở trò gì rồi! Chẳng mấy lúc mà cái ngõ nhà Yuir đã đông kín những người. Thì ra nó đang thuê máy về đào ao. Người Bah Nar xưa nay có ai dám để cái hồ nước trong làng mình ở. Có nên phạt nó không? Hàng chục cái miệng bàn tán xôn xao nhưng rồi cuối cùng thấy chắc là không phạt được. Hồi trước Yuir đưa cây cà phê về trồng, định phạt thì bị nó nói cho không cãi được. Bây giờ lỡ ra… Thôi cứ kệ. Con cá xưa nay sống trong sông trong suối, giam nó trong hồ vào hồ thì chỉ con rắn, con chuột là được béo chứ gì. Cứ để nó “tự thua” thì hết chuyện thôi. Nghe có lý, mọi người lặng lẽ ra về. Mặc, chỉ lũ con nít là không cần biết. Suốt ngày chúng chầu hẫu xem cái máy quên ăn. Rồi khi cái ao hoàn thành, chúng nhảy nhót lặn ngụp reo hò váng cả làng. Cố không để ý mà ai cũng thấy trong bụng có cái gì nhộn nhạo không yên được.

Bắt đầu từ đốm lửa

Cái tin A Drung Yuir đi thoát ly 15 năm rồi trở về tay không, họ hàng ai nghe cũng thương. Mới 15 mùa rẫy, Yuir đã biết làm cách mạng bằng việc mua muối, mua thuốc tiếp tế cho các chú. Vì có một tay lính ngụy người làng chỉ điểm, Yuir bị bắt giam ở Plei Ku suốt một năm mới được thả. Rồi đó Yuir đi thoát ly bảo vệ Huyện ủy Mang Yang. Giải phóng, đang được cho đi học thì “xui” làm sao lại bị bệnh phải về làng. Biết thì thương vậy chứ làng nghèo quá. Miếng cơm còn phải bóp miệng mình thì biết giúp được gì. Trái với ý nghĩ người bà con, Yuir lại chẳng mảy may thắc mắc. Cái cần nghĩ bây giờ là làm cách nào cho hết khổ khi “vốn” trong tay chỉ vỏn vẹn con dao với cái cuốc cùn nhà vợ cho? Có hai vợ chồng với mỗi đứa con mà phải ăn cơm độn củ mì, sống trong cái túp lều còn thua chòi rẫy thế này thì nhục quá. Cảnh nhà đã vậy còn bà con dân làng nữa… Nhiều đêm trong đầu A Drung Yuir như có con gõ kiến mổ…

Nhưng không ai biết cả năm trời Adrung Yuir đã một mình lặng lẽ sang bên Nông trường Đăk Đoa học anh em người Kinh cách trồng cà phê. Yuir biết lắm, nếu cứ ôm khư khư cây lúa rẫy thì chớ mong thoát nghèo mà còn mỗi ngày mỗi đói thêm. Nhưng là người Bah Nar Yuir cũng quá hiểu tâm lý của dân tộc mình. Nếu không có người đi tiên phong thì đừng mong thuyết phục họ bằng lời nói. Yuir cũng hiểu sự việc ban đầu dù kết thúc “có hậu” nhưng nếu không có hiệu quả thực tế thì cũng đừng mong thuyết phục bà con. Với 600 cây cà phê lúc đầu, Yuir phát triển lên 1 ha, trồng xen 500 gốc bời lời. Vụ đầu tiên đã thu được gần hai chục triệu đồng. Rành mắt thấy người buôn vào tận nhà chở, trao tiền cho Yuir, chẳng muốn nhớ chuyện phạt vạ hôm nào đã đành, ai cũng đòi Yuir chỉ cách làm. Bây giờ thì khỏi phải vận động nữa, chỉ phải chạy đôn chạy đáo giúp bà con kỹ thuật thôi. Từ năm 200, phong trào trồng cà phê bắt đầu  từ các hội viên Cựu chiến binh rồi như một phản ứng dây chuyền lan rộng khắp làng. Bây giờ thì Klot hầu hết mọi nhà đều có cà phê. Cái đói được đẩy ra lùi, phần quan trọng cũng là nhờ “cây Yang phạt” ấy…

Còn cái ao cá, dẫu không “gay cấn” thì cũng nên kể

Chuyện là cũng trong những ngày đi học cách trồng cà phê ấy Yuir thấy anh em người Kinh nuôi cá. Cất lưới, cá chép con nào con ấy hai, ba ký, nhìn đã thấy sướng con mắt. Nhà mình, làng mình quanh năm cứ hết con cá hấp lại cá ươn ướp đá của người buôn trong khi điều kiện nước nôi tốt hơn nhiều, tại sao lại không nuôi chứ ? Nghĩ là làm, Yuir lấy hết tiền bán cà phê thuê máy đào ao. Vụ đầu  mua giống của người bán rong lại thiếu kinh nghiêm, vậy mà cũng thu được gần 1 tạ. Yuir không bán mà đem chia cho bà con nghèo trong làng.Tết đến, cầm con cá Yuir cho ai cũng ngỡ ngàng. Mấy lứa sau có kỹ thuật rồi, ao cá nhà Yuir đã trở thành nguồn cung cấp cá tươi duy nhất cho cả xã. Người nghèo có việc, Yuir vẫn cho không; người khá hơn chút thì bán rẻ. Chuyện qua lâu rồi mà mỗi lần cầm còn cá Yuir cho vẫn thấy ngượng ngùng làm sao ấy… 

Căn nhà xây hơn 200 triệu của A Drung Yuir trông ra ao cá lăn tăn gợn sóng. Bên bờ những hàng sầu riêng, vãi thiều trĩu quả soi bóng trên làn nước biếc làm dịu đi cái nóng bức bối ban trưa. A Drung Yuir dẫn tôi ra thăm vườn. Khu đất rộng chừng 4 ha, gần 20 năm về trước không một bóng cây nuôi sống được người, dưới bàn tay cần mẫn của ông đã trở thành trang trại.

Một người dân trong làng đến tìm ông, thấy tôi thì đưa mắt nhìn như có ý dò hỏi. A Drug Yuir bảo: Chắc là có việc gì không biết nên đến hỏi đó mà. Ngày nào mà chẳng có bà con đến đây. Người mua con cá, người xem vườn hoặc hỏi điều gì đó khúc mắc- mà nào chỉ việc làm ăn- A Drung Yuir cười.  Nào thì cãi cọ xích mích, trai gái ngoại tình đến cả tai nạn giao thông, việc gì họ cũng tìm đến nhờ hòa giải, phân xử dù tôi chỉ làm chủ tịch Hội Cựu chiến binh…

Tôi ngắm khuôn mặt khoáng đạt đầy kiên nghị của ông. Gió từ ngọn Chư Gang đã sởn lên trong nắng trưa bức bối. Nghe như trong gió  thoảng vị mồ hôi mặn hết mình vì cộng đồng của một con người…     

NGỌC TẤN

 

[...]
Xem tiếp

Thức dậy miền hoang vu

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-02-07

Từ một tộc người sống hết sức lạc hậu, nhưng bằng sự quan tâm trợ đỡ, bằng việc giao lưu và sự tự thức tỉnh, người Ma Coong đã vượt lên khốn khó, đánh thức miền đất một thời được coi là hết sức hoang vu.

 

N Những đứa trẻ xã Thượng Trạch

Từ Dốc 51, cách cửa khẩu hẻo lánh Cà Roòng sang nước bạn Lào khoảng 8km nhìn xuống, những ngôi nhà của người Ma Coong ở xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) trông như những hộp diêm xinh xắn nằm gọn gẽ bên con suối Roòng xanh ngắt. Những năm 1960 đổ về trước, do nằm cạnh tuyến Đường 20 - con đường huyết mạch tiếp viện cho chiến trường Miền Nam nối lên Tây Trường Sơn sang Lào bị Mỹ tập trung không kích mạnh. Do đạn bom, chết chóc, người Ma Coong đã phải vào rừng để náu thân. 

Cuộc sống bị phân tán, đói khổ triền miên đã đưa người Ma Coong vào vòng lạc hậu. Lẩn trốn, không tự chủ động lao động sản xuất được, người Ma Coong phải lệ thuộc vào tự nhiên. Thời gian trôi, dần dà họ đã trở thành 1 tộc người gần như “ăn lông, ở lỗ”. Nhiều lúc rau rừng, cá thịt sống đã là nguồn thức ăn của họ.

Nói về sự phát triển của người Ma Coong hiện nay, ông Đinh Hợp- Chủ tịch xã là người luôn được nhắc đến. Tới nhà ông, không ai có thể ngờ rằng, trước đây ông vốn là một người xuất thân từ cuộc sống “ăn lông, ở lỗ”. Hiện, ngoài diện tích ruộng nương, ông còn đang triển khai mô hình trang trại, làm tiền đề hạt nhân cho người Ma Coong học để làm theo. 

Với mô hình trang trại theo kiểu “cán bộ đi trước, làng nước theo sau” này, ông Hợp đã có 30 trâu bò được chăn thả. Năm ngoái, bằng việc lựa bán gia súc, ông đã có thu nhập cho gia đình tới 100 triệu đồng. 5 ha cao su công nghiệp, với sự đầu tư 25 triệu đồng/ha này của gia đình ông đã được phủ kín. Cây cao su đem từ miền Đồng Nai xa xôi cũng đang vươn lá, vươn cành, đón nắng gió ở cái miền tây xa lắc của tỉnh Quảng Bình này, thầm hứa những dòng nhựa trắng diệu kỳ ở các năm tiếp theo.

  Tuyến đường 20 là một tuyến đường gian khổ. Khó khăn nên nó đã làm cho xã Thượng Trạch, nơi có đồng bào Ma Coong sinh sống này chợt trở lên xa xôi với ngay cả huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình chứ chưa nói gì tới các vùng miền khác. Nhưng bằng ý chí, sức lực của mình nên người Ma Coong nơi đây đang tự mình “kéo” những sự xa xôi ấy dường như gần lại.

Hiện tại, từ một cuộc sống lẩn trốn, hoàn toàn dựa vào tự nhiên, trong thời gian ngắn ngủi, người Ma Coong đã biết ở nhà, làm nương và chăn nuôi gia súc, gia cầm theo mô hình gia đình. Ông Hoàng Văn Hùng, Phó Bí thư Đảng ủy xã, với khuôn mặt khắc khổ nhưng rất tự hào khi cho chúng tôi biết: Hiện tại, ngoài 500ha đất canh tác, tổng đàn gia súc của xã cũng đã lên đến gần 3.000 con. Xã và các thôn bản đã chấm dứt hoàn toàn việc trao đổi hàng hóa thông qua “hàng đổi hàng”.

Vì mới ra khỏi rừng, cái đói cái nghèo chưa thể xóa hết trong một thời gian ngắn với người Ma Coong ở Thượng Trạch. Nhưng đối chiếu với quá khứ và hiện tại, tôi thấy người dân và đất này đã có những sự vận động hết sức dữ dội cho việc đi lên, hòa nhập của mình. Cái vui nhất ở đây đó là việc tới trường của các em. Từ một nơi hoàn toàn giao tiếp bằng tiếng địa phương, 100% các hộ dân cũng như người dân chưa có lấy một từ phổ thông nào len lỏi vào thì nay trường lớp đã được dựng lên ở Thượng Trạch. 8 thôn bản, hàng ngày theo tiếng trống trường, học sinh đã đồng loạt đến lớp.

Hiện tại, ngoài mẫu giáo mầm non, Thượng Trạch đã có 500 em trong các lứa tuổi theo học bậc tiểu học. Trường tiểu học đã được phát triển, nhân rộng và “cắm” vào đến toàn bộ 8 thôn bản, kể cả các bản xa xôi như bản Bản Choi, Bản Aki, Bản 61. Trường dân tộc nội trú cũng đã theo thầy cô vào đến với đất này. Theo bước của 50 thầy cô, yêu nghề, vượt khó, 182 em học sinh tưởng như “nửa chừng đứt gánh” về cái sự học lại tiếp tục được đến lớp. Và sự học đất này càng vui hơn, khi vừa rồi cái xã xa lơ xa lắc này đã có 1 em thi đỗ Đại học Sư phạm Huế và đã có thêm 7 em dám “vượt rừng” ra tỉnh học tiếp hệ THPT.

Trước những đổi thay của xã mình, dân mình, ông Đinh Hợp bảo, “không ngờ người dân Ma Coong mình cũng làm được nhiều điều đáng ghi nhận lắm”. Gần 30 năm sau khi “ra khỏi rừng”, với sự hỗ trợ, với sự tự lực đi lên, hiện tại nhiều hộ gia đình người Ma Coong ở Thượng Trạch đã mua sắm được các phương tiện nghe nhìn để nắm bắt thông tin. Toàn xã đã có 32 hộ có tivi, 50 hộ đã tự mua được xe máy để đi lại và vận chuyển hàng hóa.  

 Đơn Thương

[...]
Xem tiếp

Âm nhạc của múa dân gian Tây Nguyên

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-26-06

Nhân đại hội  nhạc sỹ và múa liền kề, chúc mừng cả hai hội bằng bài viết này 

                Âm nhạc là linh hồn của múa. Trong nghệ thuật múa dân gian Tây Nguyên, múa bao giờ cũng gắn với âm thanh và nhịp điệu của các dàn ching chêng.

                Là một trong những nhạc cụ từng được coi là thiêng liêng, gắn với mọi nghi lễ của cộng đồng và suốt một vòng đời của con người,nên nhà nào cũng muốn có cho được một bộ ching. Do người Tây Nguyên không có truyền thống đúc đồng, nên ching thường mua từ bên ngoài về và rất chuộng những loại ching có chất lượng âm thanh cao.  Ching tốt nhất là mua của người Lào ( thường gọi là ching lao). Được ưa chuộng tiếp theo là ching của người Campuchia ( thường gọi là ching kuor) . Thứ ba, nghèo lắm mới sắm dàn ching có xuất xứ từ đồng bằng Trung bộ về ( thường gọi là ching Joăn). Ching mua từ bất cứ đâu về cũng phải chỉnh âm lại cho phù hợp với hàng âm của tộc người. Cao độ ( ton) các dàn có thể khác nhau, nhưng hàng âm thì luôn đồng nhất.

Mỗi một tộc người ở Tây Nguyên có một hệ thống thang âm, điệu thức hay còn gọi là hàng âm cơ bản riêng, mang tính thống nhất, diễn tả rất rõ trong các bài bản ching chêng và những bài dân ca của từng dân tộc.

Dân ca Jrai, Bâhnar và Sê Đăng với một số quãng 2 thứ, tạo nên  cả điệu thức trưởng và điệu thức thứ. Nhiều bải bản mang đậm tính chất trữ tình, có thể nói là êm ả, phù hợp với những điệu múa nữ tính mềm mại, nhịp điệu vừa phải. Những bài điệu thức trưởng rộn ràng, rạo rực, là nhạc nền cho múa  nam tính khỏe khoắn, hừng hực sức sống. Dàn ching chêng và trống sgơr của các tộc người Jrai, Bâhnar, Sê Đăng…luôn cùng di chuyển với đội múa , trong trạng thái diễn tấu động.

Hàng âm trong âm nhạc dân gian Ê đê không có quãng 2 thứ, thường chỉ ly ở một vài chỗ bất thường, rồi lại chuyển ngay về trưởng. Khi đệm cho múa nghi lễ, vẫn ngồi nguyên tại chỗ ( diễn tấu tĩnh), tăng phần nghiêm trang của lễ thức. Dân ca Mnông, K’Ho…ít tính nhịp điệu mang nhiều chất liệu thứ, mênh mang, vời vợi, khó phù hợp với múa hình thể có tiết tấu. Cả hai loại hình dân ca này đều phù hợp với trạng thái trang nghiêm trong các lễ nghi theo tín ngưỡng đa thần.

Các dàn ching chêng Tây Nguyên cho dù là hai chiếc như của tộc người Brâu, hay 15 chiếc như của người Jrai, đều có âm trì tục, nhiều bè. ( Ching của tộc người Brâu chỉ có 2 chiếc treo trên giá, do hai người đánh. Nhưng mỗi người xử dụng hai tay, hai dùi, nên vẫn tạo ra bốn âm chính và nhiều bồi âm khác khi các âm thanh va đập vào nhau) . Tuy nhiên, vì cơ cấu dàn ching số lượng khác nhau, nên có thể có một âm trì tục, nhưng cũng có thể có từ hai, hoặc ba âm trì tục, thậm chí  âm trì tục còn tạo thành giai điệu. Thường do những chiếc ching có núm, bè trầm đảm nhận. Ching núm càng nhiều, bè trì tục càng đông đảo. Nếu giai điệu ching bên trên là nhạc nền của múa, thì các âm trì tục bên dưới của bè trầm chính là tiết điệu của bài ching, là nhịp mạnh của bước chân múa. Sự đảo phách hay thay đổi giai điệu chỉ là ngẫu hứng của các nghệ nhân, không ảnh hưởng gì đến bè trì tục giữ nhịp cho múa. Đây cũng là một đặc điểm chung của âm nhạc vùng Đông Nam Á mà chúng tôi đã từng có dịp kiểm chứng ở một số nước trong khu vực, như Indonesia, Campuchia, lào, Thái Lan, Malaysia, Singapuar, Philipin hay Miến Điện….Cho dẫu dàn chiêng, trống hay ban nhạc của các nước này đã biên chế gọn lại, chỉ từ 1-2 nhiều nhất là 5 người diễn tấu.

Giai điệu và tiết tấu của dàn ching chêng, tùy theo môi trường diễn xướng mà buồn hay vui, nhanh hay chậm. Như trong đám tang thì âm giai thứ, tiết tấu chậm ( ví dụ như ching chêng trong đám tang của người Bâhnar rất chậm rãi, buồn bã mang đầy tính thê lương) . Chúc mừng điều gì ( kể cả trong lễ bỏ mả) thì tiết tấu nhanh, âm giai trưởng.  Chỉ riêng dàn ching knah của tộc người Ê đê với sự phức tạp của phức điệu, dẫu là diễn tấu trong đám tang hay trong lễ vui mừng đón khách, ăn cơm mới, vẫn giữ tiết tấu cực nhanh ( allegro vivace), cường độ lớn, mãnh liệt, dứt khoát, người nghe chỉ có thể cảm nhận biết khi nghe các bài bản.

                Trong múa khil – đao , tung khăk của người Ê đê, Jrai, chỉ dùng có ba chiếc chiêng không có núm, tiết tấu nhanh, mạnh. Tuy vẫn đứng tại chỗ nhưng thân hình và đôi chân nhún nhảy, tạo đà lẫn cảm hứng cho người múa. Tâm trạng người tấu nhạc và trình diễn múa được sự tương hỗ, nên tính ngẫu hứng và hứng khởi rất cao.

Âm nhạc ching arap của Jrai, tiết tấu nhanh hơn, nên nhịp nhún nảy hơn, động tác tay đẩy về phía trước nhanh hơn, nhất là trong múa suang cải tiến  “ chọc đu đủ”. Đám thanh niên chơi ching thỉnh thoảng lại hú hoặc hét lên vài ba tiếng theo tiết điệu của những chiếc ching trầm trì tục một cách rất sảng khoái, khiến cho nhịp điệu vòng suang thêm rạo rực, kể cả trong lễ bỏ mả.

Nhịp ching chêng Bâhnar tiết tấu chậm rãi, nên nhún trong suang mềm hơn, động tác tay đưa về phía trước cũng mềm mại hơn. Riêng tộc người Chăm Hroaih, dàn ching vừa diễn tấu vừa chuyển động thân hình ( quay hẳn người sang trái rồi ngược trở lại) và bước chân theo nhịp điệu múa, rất độc đáo.

Đôi khi với đội hình múa ít người, biên chế của dàn ching cũng được thu hẹp lại cho phù hợp với nội dung và tính chất của múa. Ví dụ như đệm cho múa khiêl, múa vỗ trống…

                Tuy cùng là một tộc người, cùng điệu thức và thang âm, nhưng mỗi làng lại có một phương thức và nhịp điệu diễn tấu ching khác nhau, cao độ của các dàn cũng khác nhau, nhưng luôn luôn đi kèm với đội hình múa. Chúng tôi đã từng được chứng kiến tại một lễ xoay cột cầu mùa của người Bâhnar Chăm ở Phú Yên  có 5 làng tham gia lễ hội. Dàn ching của làng sở tại có ba đội múa của ba thế hệ phụ nữ khác nhau về tháng năm là cao tuổi, trung niên và nữ thanh niên. 4 đội bạn mang theo dàn ching và 4 đội múa, đều là thiếu nữ trẻ. Vẫn là điệu thức 5 âm quen thuộc của tộc người Bâhnar với các quãng 4, 5 rất đặc trưng ở cuối câu nhạc, nhưng khi trình diễn khoe tài, dàn ching mỗi làng một tiết tấu khác nhau . Dàn ching trẻ nhất tiết điệu sôi động nhất, cả động tác tay lẫn chân múa cũng giậm giật nhất. Khi phối hợp, các đội ching của 5 làng đi thành vòng tròn nhỏ bên trong, vòng tròn lớn bên ngoài là các đội múa nữ . Tốp múa đi theo sát dàn ching nào, nhún chân và uốn tay theo nhịp của dàn ching đó. Do cùng điệu thức nhưng cao độ khác nhau, nên hòa âm của cả 5 dàn ching chêng lúc đó trở nên rất phong phú. Cũng như đội hình vòng múa rất đa dạng, với nhiều động tác lẫn nhịp điệu không làng nào giống làng nào, mà vẫn đều nhau chằn chặn theo nhịp ching chêng. Đó là thời điểm lễ đã qua hội đã tới, nên như đã nói ở trên, dàn ching nào, người nào mệt, đều có thể nghỉ ngơi, đợi thời gian khác trở lại. Người ở lại tay cứ nắm lấy tay, chân bước đều nhịp, mồ hôi túa ra cũng kệ, suang thâu đêm đến sáng là thế !

                Ngoài trang phục tộc người, có một loại vật dụng, không phải là nhạc cụ chính thức nhưng luôn luôn gắn liền với múa trên thân hình các nghệ nhân, trên trống cái, cầm trên tay theo bước dàn ching chêng. Đó là chùm quả nhạc lục lạc ( ring rieo) bằng bạc hay bằng đồng và các loại trang sức. Nam giới Bâhnar thường đeo bộ xà tích bằng bạc bên hông, hay dàn ching Sê Đăng, Ka Dong thậm chí làm hẳn một chiếc thảm khâu đầy các quả nhạc để giật theo tiết điệu của ching, hoặc đeo những chiếc vòng đồng, vòng cườm trên cổ. Nữ là hàng chục những chiếc vòng đồng ( kong), vòng bạc, hoặc những chiếc vòng cườm đeo rất dầy ở cổ chân, cổ tay, trên cổ, hoặc những quả nhạc nhỏ gắn trên vai áo .

Âm thanh của quả nhạc, vòng đồng, vòng bạc nơi cổ, chân, tay tác động trực tiếp đến thính giác của người biểu diễn lẫn người xem, tạo thêm sự hưng phấn, bổ xung cho âm thanh và âm điệu những câu nhạc đệm của ching chêng lặp đi lặp lại mà không nhàm chán. Để làm cho quả nhạc, những chiếc vòng bạc, vòng đồng, trang sức đeo trên người rung lên reo vui, người nhảy múa thường vận động thể hình ở mức độ nhanh,mạnh, đột ngột, có khi hạ thấp chiều cao cơ thể, có lúc rung toàn thân, nam thì nhảy tưng lên vươn thẳng đôi chân. Từ những chiếc vòng này, thi thoảng còn có động tác sát kong – cọ hoặc đập những chiếc vòng trên hai tay vào nhau cho phát ra âm thanh.

                Mặc dù có nhiều loại nhạc cụ tre nứa, thậm chỉ cả đàn t’rưng, nhưng trong sinh hoạt cộng đồng, duy nhất chỉ có dàn ching chêng luôn đồng hành cùng múa. Sau này, trong kháng chiến chống Pháp, các đội văn công chỉ có ít quân số, phải di chuyển chống càn hoặc theo bộ đội, không có điều kiện mang theo dàn ching chêng, nên mới xử dụng đàn t’rưng đánh các bài dân ca thành nhạc đệm cho múa khi tham gia biểu diễn đâu đó. Cũng như sau 1975, nhạc cụ đinh năm của người Ê đê, prelet của người Mnông vượt qua định kiến là chỉ được xử dụng trong tang ma, trong các lễ cúng trâu, đã dùng đệm cho hát và múa. Còn trong các lễ hội diễn ra tại buôn làng, tuyệt đối vẫn là dàn ching chêng.

Ching chêng là tiếng nói tâm linh, là tâm hồn của mỗi một tộc người. Âm nhạc ching chêng luôn song hành cùng với các thể loại múa nghi lễ, múa sinh hoạt, góp phần thể hiện một đời sống tinh thần phong phú và độc đáo của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Càng về sau này, các loại hình nhạc cụ truyền thống Tây Nguyên ngày càng được cải tiến, làm thêm chức năng của dàn nhạc đệm cho múa trong môi trường chuyên nghiệp. Ching chêng không còn là nhạc cụ đệm độc quyền cho múa nữa.

Đối với múa chuyên nghiệp, trong mọi ngữ cảnh, âm nhạc sẽ không phải chỉ là “ nền”, mà còn phối hợp nhịp nhàng nhằm diễn tả mọi trạng thái tâm tư , tình cảm của ngôn ngữ múa. Nhạc sôi động, náo nức, nếu nội dung múa diễn tả những trạng thái vui mừng ; nhạc tăng thêm tính chiến đấu cho múa khi cần thiết ; nhạc sẽ trở nên buồn bã, bi thương khi song hành cùng những nội dung múa tương ứng; âm nhạc còn mang tính dự báo  những diễn biến sẽ xảy ra của múa. Thông qua âm nhạc, người nghệ sỹ múa thăng hoa trong nghệ thuật biểu diễn, đem lại cảm xúc tuyệt vời cả bằng thính giác lẫn thị giác cho khán giả.

Mối quan hệ giữa dàn ching chêng và múa là quan hệ song song, mang tính nguyên bản, hỗ trợ lẫn nhau. Bài bản các dàn ching chêng của mỗi tộc người đều là âm điệu chung cho các thể loại  múa nghi lễ và múa sinh hoạt, là những thành tố chặt chẽ, hòa quyện không thể tách rời. Ở không gian đó, ching chêng làm nền, dẫn dắt, thổi hồn vào sức sống của múa trong từng nhịp điệu, từng động tác. Ngược lại, múa tôn vinh, nâng giá trị của hồn ching chêng lên một tầm cao hơn khi diễn tấu đơn độc. Nhưng để thực hiện được yêu cầu này, các thể loại múa tập thể và múa ít người sẽ có sự lựa chọn các bài bản ching theo cách thích hợp riêng. Cũng có thể thực hiện chung trên một âm điệu. Cho dù xử dụng cơ số phần đệm nhiều hay ít, bài bản và nhịp điệu khác nhau, âm nhạc vẫn mãi mãi là người bạn đồng hành của nghệ thuật múa. Thậm chí còn góp phần hoàn thiện không gian múa bằng chính nhịp chân và hình thể của những tác nhân tham gia diễn tấu ching chêng.

Sự hài hòa tôn vinh lẫn  nhau này tạo nên một môi trường diễn xướng riêng, độc đáo, mà mỗi thành tố là một hạt nhân, nếu thiếu yếu tố nào sự phong phú, rộn ràng của lễ, hội Tây Nguyên cũng giảm đi rất nhiều.

 

[...]
Xem tiếp