Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Những chiếc ché nói gì

Được viết bởi : Admin | Ngày 2018-20-04

                Người Việt có câu “ miếng trầu là đầu câu chuyện”, thì rượu ủ trong ghè, uống bằng cần ( nên gọi là rượu cần) của người Tây Nguyên cũng có  hoàn cảnh giao tiếp với con người tương tự  như thế. Khách đến nhà, dù là khách gần hay xa, dù thân cận hay xa lạ. Dẫu tới để  thăm hỏi, giúp đỡ ( trong các ngày diễn ra lễ nghi)  hay gây chuyện ( như Mtao Ak trong Sử thi Dam San) , hoặc để giải quyết một sự việc bất kỳ nào…chủ nhà cũng phải cột một ghè rượu để giao lưu trước khi câu chuyện được bắt đầu. Tùy theo vai vế hay số lượng khách mà ghè rượu to hay nhỏ được buộc vào gâng và đổ nước từ nồi đồng vào ché. Rượu uống ngay có thể làm bằng củ mì. Lâu hơn một chút thì bằng bắp. Lâu nữa ( vài ba tháng) thì làm bằng gạo. Tất cả ủ bằng men lá, củ rừng. Muốn để lâu và ngon, rượu gạo phải đem chôn xuống đất ( hạ thổ), thậm chí có khi hàng năm trời.

Được tham gia thẩm định gần một trăm chiếc ghè, cùng các nhân sỹ Ê Đê và một vài nhà sưu tập đồ cổ ở Đăk lăk, thật thú vị.  Những chiếc ché cứ lần lượt được mang ra, đặt lên bàn, để xác định tên gọi và niên đại, cũng như hoàn cảnh được mang ra xử dụng. Này là ché tang kroa ( ché có hình con rùa chìm hay rùa nổi ), tang ana êra tal ( có tuổi đời từ đã gần 300 trăm mùa rẫy), kia là ché ba (có 8 chiếc “ tai” chỉ dùng để cúng những gì liên quan tới Mẹ lúa), ché tang điết có hình 2 con rồng quấn quanh. Cặp ché ktiăm diŏ ( có 2-3 hàng hột nổi , 8 chiếc “ tai” và hoa văn hình tròn) niên đại từ  thế kỷ XIX.Chiếc ché Tuk lớn duy nhất, chỉ nhà giàu mới có thể đặt riêng, đổi bằng bao nhiêu con bò mới có nổi. Đây là ché ba kñĭ  ( 6 “ tai”, màu vàng đã lợt lạt theo thời gian). Đó là ché tang mrâo mới có từ cuối thế kỷ XX…Ché từ Đồng Nai, ché có xuất xứ từ gốm Cây Gòn Sài Gòn mang phong cách Trung Hoa, Ché Nam Ổ từ Quảng Nam, ché Chăm từ Ninh Thuận…được thu thập về từ M’Drăk, Cư M’gar, Krông Bông, Krông Pak…

Ché nào thì cũng dùng để uống. Nhưng có những chiếc ché chỉ được dùng trong các lễ thức.  Có ché được cột bất cứ thời gian nào khách đặt chân lên nhà dài. To, nhỏ, bầu, dài, đáy lõm, đáy bằng…kiểu dáng khác nhau. Ché Jrai, ché S’Tiêng, ché K’Ho, Mnông…tin nhắn, hình ảnh qua lại để xác minh. Cả những câu chuyện lạ kỳ như Amí nói với người sưu tập “ ché đặt ở đầu kpan, cho ngủ mới được ngủ” ( uống hết ly cối cà phê vẫn ngủ li bì. Cạn cả chai rượu mắt vẫn mở chong chong). Hay anh bạn đâu đó nhắn hỏi “ sao hàng đêm nghe trong ché như có tiếng lao xao”?...Chợt nhớ có lần đi sưu tầm ching của người Mnông Preh cùng thạc sỹ Nay Kỳ Hiệp, hai mợ cháu tiếc hùi hụi vì không thể đi xe đạp mà khiêng chiếc ché Rlung còn nguyên vẹn, từng đổi bằng 5 con bò, bị vứt bỏ lấm  lem bùn đất ở bìa rừng….

Biết bao nhiêu điều mới mẻ thậm chí là kỳ lạ từ những chiếc ghè, ché tưởng như không biết nói . Mới từng đó thôi đã làm mê đắm cả hàng chục người ngồi quanh. Hãy lắng nghe những chiếc ghè kể câu chuyện xa xưa của thuở văn hóa rừng độc trị . Thực hay hư ảo? Huyền thoại hay tâm linh? Không lý giải được. Nhưng yêu biết mấy “ Không gian văn hóa” của miền quê hương cao nguyên đất đỏ tràn nắng, ngập gió; những ngày lễ hội chung chiêng vòng suang trong nhịp ching ngân, ngất ngư say bên những ghè rượu cần đắng ngọt men lá . Thương biết bao nhiêu sự ra đi không trở lại của những Di sản tưởng chừng như nhỏ bé mà giá trị vô cùng lớn lao của tâm hồn, tính cách các tộc người bản địa Tây Nguyên.

Xin các Yang linh thiêng cho con được nhiều sức khỏe để tiếp tục gắn bó với niềm đam mê này dài lâu hơn.

 

[...]
Xem tiếp

MÌNH BIẾT CÁCH LÀM RỒI NHA

Được viết bởi : Admin | Ngày 2018-18-04

 Y Thái được 5 mùa rẫy, Buôn Ma Thuột giải phóng. Cuộc sống mới tràn về mọi buôn Ê Đê, khác hẳn những ngày chỉ quanh quẩn với nhau trong mỗi buôn làng,  Y Thái lớn dần lên theo quê hương, từ thị xã trở thành thành phố Buôn Ma Thuột. Tận mắt thấy thành phố mình ngày một xanh, sạch, đẹp, thấy cuộc sống của buôn làng và gia đình cũng khác xưa. Từ chỉ canh tác lúa rẫy theo từng mùa mưa, chuyển hẳn sang trồng cà phê có áp dụng khoa học kỹ thuật để tăng năng suất và sản lượng. Từ chỉ chuyên canh cây cà phê, tới biết trồng xen cây hồ tiêu, cây ăn trái… Từ quần tụ hàng chục nhà sàn chuyển sang dựng nhà gạch trong mỗi khu vườn cây xanh.  Rồi từ đi học đến sau ngày cưới rời buôn Ko Tam về nhà vợ ở buôn Km’rơng Prong B. Có con. Con lớn, có cháu…từ cái tên Y Thái bây giờ chuyển sang Ama Nhim ( cha của Nhim), rồi đến Âe Lin ( ông của Lin)… Cứ thế mà tuần tự chuyển biến.

                Ngày nhỏ ở buôn, Y Thái rất thích theo xem ông chú đục gỗ. Từ việc đục đẽo làm Kpan nguyên một cây gỗ độc mộc, đến mỗi khi có gia đình nào làm nhà mới, hoặc có lễ cầu mưa ở buôn, người ta thường mời ông chú tới đục gỗ. Chiếc cầu thang đực, cầu thang cái nơi đầu nhà sàn, thường có  đôi bầu vú, con rùa bằng gỗ làm tay vịn. Hai bên sàn có hình dạng  nồi đồng hay chiếc gùi, nơi chiếc cột kmeh đầu tiên hay trên xà nhà, khắc hình con rùa, con kỳ đà …Chú làm giỏi nhất, chỉ có một chiếc xagat, một con dao dlông nhỏ mà làm sao những con vật cứ như đang vẫy đuôi ngoe nguẩy  bò đi nhỉ? Còn đôi bầu vú gỗ mà căng mọng như của bà, của mẹ. Chu cha là đẹp.

                Người Ê Đê không có làm tượng người ở nhà mồ như tộc người Jrai hay Bâhnar đâu ( thường ở mồ chỉ có cột nêu thôi), nhưng những khi trong buôn có lễ cầu mưa đầu mùa thì khác, người già trong buôn chọn chú để làm các hình người, hình con vật nho nhỏ cao chừng hai, ba gang tay thôi, cho thày cúng – mjao làm lễ khấn các yang. Y Thái mê lắm. Lúc rảnh cứ hý húi với chiếc rìu, con dao và những khúc gỗ như một trò chơi vậy.  Yang cho tay ai người đó được. Chú không dạy đâu,  thậm chí còn dấu, không muốn cho đến gần xem đục nữa kia. Thái thích nên cứ lén nhìn, lén làm thôi.

                Y Thái sẽ vẫn giữ cho riêng mình cái “ trò chơi” hồi nhỏ ấy, vui vẻ cùng vợ con chăm sóc 9 sào cà phê, lo tưới sao cho đủ nước, chăm sao cho đủ phân, hoa trắng nở đầy cành để cuối năm trái chín đỏ dày đặc, đủ tiền cho bốn đứa con hai gái, hai trai  mặc đồng phục đến trường, hết phổ thông đến học nghề. Cho mãi tới năm 2015, tỉnh Đăk Lăk tổ chức lễ hội cà phê, trong đó có mục thi tạc tượng.  Ban tổ chức hỏi buôn Km’rơng Prong B có người nào biết đục gỗ thì đăng ký tham gia,Y Thái liều nói với buôn trưởng cho mình đi thi thử . Đó là lần đầu tiên Y Thái biết đến hai chữ “ tạc tượng” ( trước anh chỉ gọi “ đục gỗ” thôi). Lần đó người ta phát cho mỗi người một thân cây gỗ dài hơn năm gang tay ( chừng 1m),  theo cách đo của người Ê Đê, bảo muốn đục gì thì đục. Y Thái làm cái hình người đánh ching. Vậy mà lần đó tượng của anh giành giải nhất đấy nhé. Rồi năm 2016, Sở Văn hóa cử một mình anh đại diện cho cả tỉnh Đăk lak đi tham gia thi tạc tượng tại Tuần văn hóa dân gian 5 tỉnh Tây Nguyên ở Kon Tum. Mồ hôi chảy ướt đầm áo Knuk ky, vì Ban tổ chức phát cho một cây gỗ rộng 2 gang tay, cao gần tới đầu Thái. Lần đầu tiên phải làm một bức tượng lớn như thế Y Thái lo lắm. Cũng may, người ta hỗ trợ máy cưa, đoàn cử thêm một người nữa phụ việc, nên mới làm nổi cái tượng người đánh ching to bằng thật luôn. Lần đó Y Thái chỉ đạt giải nhì thôi.

                Qua năm 2017, lễ hội cà phê lại được tổ chức. Lần này là cuộc thi của hơn 20 nghệ nhân đến từ 7 tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Cũng một cây gỗ cao ngang đầu người. Nhưng bây giờ thì Y Thái tự tin lắm ở chính mình lắm rồi, lại ngay “ sân nhà ” nữa. Cứ thỏa sức mà đục đẽo, Y Thái làm cụm tượng hai người thày cúng và người đàn bà phụ cúng. Nhưng lần này vì “ mình thì mới, nhiều nghệ nhân giỏi các tỉnh, ngay tại Đăk Lak cũng có tới 10 nghệ nhân, nên chỉ được giải nhì thôi ”.

                “Ở nhà nhớ cái đục, cây dao quá, nhưng tập quán không cho làm tượng người để trong nhà đâu, nên đành chịu.  May mắn cho mình, được chị Linh Nga Niê kdam giới thiệu khách ở Hội An lên tìm đặt hàng.Lúc đầu mình vẫn cứ làm tượng lớn như ở các cuộc thi. Nhưng họ nói rất khó mang đi, khó xử dụng nữa, yêu cầu tượng nhỏ chỉ cao hơn 20 phân thôi, để dễ bán, dễ vận chuyển, nên mình chuyển  sang làm ngay. Tượng nhỏ vừa đỡ tốn nhiều gỗ, lại có thể để chỗ nào trong nhà cũng không sao, trúng việc mình yêu thích nữa. Cứ thế mà làm. Chu cha, đâu ngờ từ đó mà có lần đóng gói gửi đi lô hàng tới 16 triệu luôn. Mừng lắm”.

Nói  là mới chính thức tạc tượng từ 2015, chứ vì mê từ nhỏ nên Y Thái rành rẽ các loại gỗ lắm. Ngày trước chú làm toàn bằng camxe, chiliu hay cachit, những lọai cây có độ bền rất cao, tượng lâu bị mối mọt. Còn bây giờ rừng không có, Thái phải dùng gỗ cây muồng đen, muồng vàng, cũng thuộc loại gỗ nhóm 2 đó chớ. May mà cây muồng trước giờ trồng ngăn gió cho cà phê, nay người  ta trồng xen canh các loại cây khác, nên chặt bỏ, mình mua được gỗ đó dự trữ luôn. Mừng lắm. Rồi học cách làm sao cho tượng không bị mối mọt ăn nữa.

                Ừ, Y Thái mừng vì nghề truyền thống của buôn làng Tây Nguyên mình bây giờ có thể kinh doanh được rồi.  Lại thỏa sức mà sáng tạo. Cách làm tượng của người Tây Nguyên lạ lắm. Cầm khúc gỗ trên tay, có khi chưa biết mình sẽ làm cái gì, nhưng chạm dao vô đó là cứ thế mà đục, mà khoét thôi. Nhiều nghệ nhân tạc tượng ở nơi khác cũng nói như Y Thái, rằng “ Như có cái gì đó nhập vô để phải làm cho đến lúc xong mới thôi, mới biết mình làm ra cái gì.” Nói thì vậy chứ bây giờ Y Thái cũng có sự sắp sẵn ý đồ, tự mình sáng tạo được rồi. Mới đây, anh làm một bộ tượng 6 người đánh ching knah từ nhỏ đến lớn ( theo thứ tự của dàn ching Ê Đê), người ta lấy tất cả, 5 triệu đồng luôn. Khách thích thứ gì làm thứ đó nhiều hơn, chẳng cái nào giống cái nào, vì có phải bỏ vô mà đúc đâu.

                Đến nay Y Thái đã có mấy lô tượng gỗ gửi đi tận Sài Gòn, Huế, Hội An… “ Mình biết cách rồi đó nhé, cứ làm, trưng bày đó, chụp hình gửi cho người ta coi, họ thích lấy cái nào thì bọc giấy báo cho khỏi sứt mẻ, bỏ vô thùng giấy, chèn thêm cho kỹ, gửi theo xe đò , ghi rõ tên, địa chỉ, điện thoại nữa, họ nhận được thì chuyển tiền qua tài khoản cho mình”. Thấy cha làm ăn được, các con mua cho chiếc điện thoại tốt. Lúc đầu chỉ biết gọi điện liên lạc thôi, sau thì biết chụp, biết nhắn tin nữa. Mấy ngày gần đây con gái lập cho một tài khoản riêng trên Facebok để giới thiệu và giao tiếp. Y Thái vui vẻ mở điện thoại cho xem các hình đã chụp. Nhà đầy tượng : tượng lớn ngoài cửa, tượng nhỏ trên kệ, trên tường, góc nhà; xù xì, không đánh bóng, nhưng “ hồn con người” thì thấy rõ lắm. Chỗ nào cũng có trong hình, kể cả bọc giấy, đóng thùng xong, cũng chụp hình  cho khách yên tâm hàng đã gửi đi nữa.  

Thấy làm ăn được, Y Thái khuyên nhủ và dạy luôn đứa con trai út trong gia đình theo cùng làm với cha. “ Anh chàng đục cũng có hồn lắm rồi nha”. Còn trẻ, tiếp thu nhanh, biết rủ cha lên mạng tìm cách gìn giữ tượng tròn lớn để ngoài trời sao cho khỏi mối mọt, tượng nhỏ cần đánh bóng hay để nguyên gỗ thô. Hai cha con làm số lượng sẽ nhiều hơn, vì ngoài số khách đã quen,lấy thường xuyên, lại có thêm mấy khu du lịch ngay trong tỉnh đặt hàng nữa, có cả Facebok để quảng bá… chắc chắn là bán được.

Nhà Y Thái bây giờ, còn có tiêu, bơ, chuối trồng xen  trong vườn. Hàng ngày, vợ Thái cắt  chuối mang đi bán, mùa tiêu, mùa bơ, sầu riêng… đều có thương lái đến thu mua.  Chỉ thu hoạch cây trái trồng xen, hàng năm cũng có được hơn 60 triệu đồng. Kinh tế không phải trông chờ vào mỗi năm một vụ cà phê nữa, cũng không lo đến mùa chạy tiền cho phân bón, cho nước tưới. Gia đình Y Thái bây giờ còn có thêm một nguồn thu nhập ổn định nữa từ những bức tượng gỗ của hai cha con anh.Các con đều hết lớp 12, có việc làm ổn định, đứa có học làm công ty, đứa phụ bán quán cà phê, đứa lái xe thuê….So với đời sống trước đây là hơn nhiều lắm.

                Tạc tượng, chạm khắc gỗ là một trong những nghề truyền thống đã từng rất phổ biến ở khắp các tộc người tại chỗ Tây Nguyên. Những bức tượng vô cùng sinh động cao gần bằng người thật, diễn tả những hình ảnh gần gũi và mọi nỗi buồn vui của con người, thường chỉ đặt ở khu nhà mồ, để bầu bạn cùng người đã khuất, cho không gian nghĩa địa bớt quạnh quẽ ( không phải là hình tượng nô lệ cho người giàu mang theo về thế giới bên kia phục vụ, như có nhà báo đã từng nêu). Tuy nhiên theo tập quán, tượng chỉ để ở nhà mồ, không được đem về nhà. Do sự chuyển đổi tín ngưỡng, thậm chí do không còn gỗ rừng để làm tượng, nên nghề ngày càng mất dần.

Từ năm 2006, được sự hỗ trợ của Quỹ Phát triển văn hóa Việt nam ( quỹ For , thông qua Ceveen ), tỉnh Đăk Lăk đã từng được nhận tài trợ để mở tới 4 lớp truyền dạy nghề tạc tượng cho các nhóm Ê Đê, Sê Đăng và Jrai . Cũng là nơi khơi mào tổ chức trại sáng tác tạc tượng dân gian, cả chuyên nghiệp các tỉnh Tây Nguyên lần đầu tiên vào năm 2007, 2008. Sau đó Gia Lai rồi Kon Tum cũng liên tiếp mở các trại hoặc lớp truyền dạy tạc tượng gỗ, hình thành các vườn tượng ở Khu du lịch Bản Đôn tuôr, Daruco, Đăk Lăk ; thị trấn Măng Đen, Kon Tum; Khu du lịch Đồng Xanh, Gia Lai ….Nhưng đều là tượng tròn, nguyên thân cây lớn, nhỏ. Đã có dự kiến vận động bà con làm tượng mỹ nghệ phục vụ du lịch, nhưng nhiều năm nay chưa thực hiện được, bởi còn vướng tập tục và quan niệm tượng chỉ được để ở nhà mồ, không thể đem về tại nhà.  

Y Thái cũng như bà con người Ê Đê buôn Km’rơng Prong B, xã Ea Tun thành phố Buôn Ma Thuột, vượt qua sự ấu trĩ của canh tác nương rẫy thuở ban đầu, đều đã biết thế nào là thâm canh, xen canh cây trồng, sao cho có năng suất và sản lượng cao, tăng thu nhập phụ, phát triển kinh tế bền vững. Gần như 80% gia đình trong buôn đã làm được nhà xây thay nhà ván cũ hỏng. Chỉ một số hộ sửa nhà sàn truyền thống giữ văn hóa ông bà thôi. Y Thái cũng  chính là người dân tộc Tây Nguyên đầu tiên vượt qua được tư duy và tập quán cũ, không chỉ biến tượng thành hàng thủ công mỹ nghệ gỗ dân gian làm quà lưu niệm độc đáo, mà còn biết cách tìm cách tự mình quảng bá, kinh doanh; và  mở ra con đường phát huy nghề truyền thống của văn hóa tộc người.

    Như lời Hoa hậu hoàn vũ năm 2017 người Ê Đê,  H’Hen Niê khi về buôn, nhắn nhủ mọi người,  “ Anh ấy làm được rồi”. Chúc mừng Y Thái

H’Linh Niê

[...]
Xem tiếp

GIẤC MƠ VỀ MIỀN CAO NGUYÊN

Được viết bởi : Admin | Ngày 2018-12-04

GIẤC MƠ VỀ MIỀN CAO NGUYÊN

         Tôi bất ngờ khi lần đầu tiên nghe Anh Tú hát trên sân khấu lễ kỷ  niệm 100 năm ngày mất của N’Trang Lơng tại thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông. Biết Tú đi hát từ khi còn học chưa xong Trung cấp Piano, nghĩa là còn đang học phổ thông, nhưng chưa bao giờ thực sự được nghe Tú hát. Một giọng nam cao tuy hơi khàn, âm vực rộng, rất khỏe khoắn nhưng cũng rất nồng nàn nhạc cảm. Nghe Tú hát  ngỡ như cả sức sống mãnh liệt lẫn giai điệu du dương của rừng của suối đại ngàn đang tràn về cuốn trôi cả sân khấu . Lúc ấy tôi đã nghĩ, dù không sinh ra ở quê hương, nhưng dòng máu Tây Nguyên trong huyết quản con, đã làm nên một giọng ca đầy nội lực như thế. 

Hai gia đình chúng tôi vốn từ lâu không chỉ là bạn bè mà còn là anh chị em. Ba của NSƯT Ê Ban Quý ( mẹ Anh Tú), quê ở Buôn Ma Thuột , nguyên là y sỹ ở nhà đày Buôn Ma Thuột, vì giúp đỡ thuốc men cho các tù chính trị mà bị Pháp lưu đày sang Thái Lan. Ông về Việt Nam từ khi Hồ Chủ Tịch kêu gọi Việt kiều về nước tham gia xây dựng quê hương. Về tới Hà Nội, chính phủ cấp cho bà con một vùng đất gọi là  kinh tế mới ở Ba Vì. Chỉ có mình Ê Ban Quý là con một, nên già Y Som Ê Ban cho Quý về học tại trường Dân tộc. Chúng tôi thường cùng nhau đạp xe từ Cầu Giấy , Hà Nội về Ba Vì thăm ông. Khi nào về cũng lủng liểng trên xe đạp mấy trái dứa ngọt lịm do ông trồng. Còn Hoàng Phi Long ( cha Tú) là bạn cùng đội múa của Đoàn Ca múa miền Nam với chồng tôi. Chúng tôi sống cùng nhau hàng chục năm ở Khu tập thể văn công Cầu Giấy lẫn nơi sơ tán trên Bắc Giang. Cho mãi tới ngày đất nước thống nhất, mới chia tay Vợ chồng Long – Quý theo đoàn về thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng tôi đưa nhau về Buôn Ma Thuột.

Anh Tú là đứa con đầu tiên của cả nhóm múa trẻ Đoàn Ca múa miền Nam, nên tất cả chúng tôi đều rất cưng bé. Tú theo cha mẹ lên sàn tập múa, theo các cô chú nhạc công lên phòng hòa nhạc, lũn cũn theo tôi đến phòng luyện thanh của đội ca…âm nhạc cứ hồn nhiên mà thấm vào tâm hồn bé nhỏ ấy. Để bắt đầu những năm tháng của tuổi thơ bên cây đàn piano.

 Có lần NSND Hoàng Phi Long, cha Anh Tú gọi điện hỏi :

-         Em à , Tú nó ham hát lắm . Sắp xong trung cấp piano rồi, anh bối rối quá. Về chuyên môn em nghĩ sao?

-         Em đã có lần nghe cháu chơi đàn, có hồn lắm. Lại còn đánh thử cho em nghe một khúc biến tấu sáng tác của chính Tú nữa. Nhưng chưa từng được nghe Tú hát. Em nghĩ anh động viên Tú thi lên đại học sáng tác nhạc, hợp lý hơn, vì vẫn phải học Piano. Đàn giỏi hỗ trợ cho sáng tác tốt lắm anh ạ.

  Bẵng đi một thời gian, qua các thông tin từ bạn bè, tôi biết Tú quyết tâm theo con đường ca hát. Đầu năm 1999, Tú bất ngờ gọi điện cho “ mẹ Nga” báo tin đang dự thi Giọng hát hay toàn quốc ở Hà Nội và nhờ tư vấn chọn bài. Lần ấy, với tất cả trí tuệ lẫn niềm đam mê, chẳng ai ngờ với ca khúc rất kinh điển “ Binh Trị Thiên khói lửa” ( Nguyễn Văn Thương) Anh Tú giành giải nhất, vượt trên cả nhiều sinh viên Nhạc viện Hà Nội, dù Tú chưa hề theo học thanh nhạc chính quy. Trải qua các thử thách từ nhiều cuộc thi hát, Tú đầu quân về được Nhà hát Nghệ thuật dân tộc Bông Sen, tp Hồ Chí Minh, ngay từ khi còn chưa học xong trung cấp piano; chính thức bước vào con đường ca hát, rồi mới học đại học thanh nhạc.

     Mẹ Ê Ban Quý đã có lần đưa hai anh em về Buôn Ma Thuột tìm lại quê hương và dòng họ. Những giấc mơ khao khát về một miền cao nguyên đầy nắng, đầy gió, phóng khoáng mà lại vô cùng đẹp đẽ ấy, dường như là sự ám ảnh và ưu ái trao cho Tú một giọng hát đầy đam mê mà vẫn không kém sự trữ tình. Dòng máu Tây Nguyên chảy trong Tú không chỉ tràn đầy sinh lực, mà còn khiến Tú “ một mình một ngựa” sống giữa thành phố Hồ Chí Minh sôi động, lại  “chuyên trị” những tác phẩm âm nhạc viết về cao nguyên. Anh làm nên một giọng hát lạ, vẫn cháy bỏng đấy mà không giống y chang các phiên bản Y Moan, Y Zăk, Siu Black…Có lẽ bởi Tú còn là một võ sư, huấn luyện viên võ thuật. “Anh là thầy đứng nhiều lớp võ thuật từ cơ bản đến nâng cao cho các khóa học tự vệ đặc biệt là lực lượng công an thành phố. Chính vì chú trọng giữ gìn thể lực, giữ gìn nhân cách, giúp anh phát huy hết sắc vóc của một giọng hát mà nếu tình cờ được nghe, bạn sẽ ngỡ ngàng vì độ "căng" hết cỡ cũng như độ phiêu linh tuyệt vời của nó.”

Các bạn của Eban Tú cho biết, con là một thành viên nhiệt tình tham gia các phong trào, các chương trình ca hát thanh niên và tuổi trẻ. Hình như được hát đối với Tú đã là niềm hạnh phúc.  Sống đam mê, đầy nhiệt huyết và đầy trách nhiệm, Tú luôn được các nhạc sĩ tin cậy, yêu quý, gửi gắm thực hiện nhiều dự án âm nhạc bằng tiếng hát khỏe khoắn, nồng nàn rất Tây Nguyên mà cũng rất Sài thành của mình . “ Làm việc với các phòng thu lúc nào anh cũng đúng giờ và sẵn sàng làm việc với cường độ cao cho đến khi các nhạc sĩ hài lòng, thu được bản mix hay nhất thì thôi. Với anh, đốt cháy hết mình cho một giai điệu, một lời hát chính là sứ mệnh”.

Sớm ra đi khi tuổi đời, tuổi nghề còn đang rất sung sức. Giọng hát và nhân cách của Anh Tú, dẫu chưa từng được phong tặng danh hiệu nào, vẫn còn mãi trong tâm trí bạn bè và người yêu nhạc.và tôi thích gọi  là Anh Tú Ê Ban, như cách người Ê Đê vẫn gọi con cái trong gia đình.

[...]
Xem tiếp

VÔ TẬN, ÂM NHẠC DÂN GIAN CÁC DTTS KON TUM

Được viết bởi : Admin | Ngày 2018-07-04

Trong “ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – Kiệt tác Di sản văn hóa & phi vật thể truyền khẩu của nhân loại”,  tỉnh Kon Tum đa sắc dân được coi là vùng đất có vốn văn hóa truyền thống đa dạng, phong phú và đậm đặc nhất.

Trong một vài đặc trưng cơ bản để phân biệt văn hóa của mỗi tộc người, như ngôn ngữ, trang phục, hoa văn thổ cẩm, kiến trúc nhà… thì âm nhạc là loại hình mang nét riêng rõ nhất. Số lượng tộc người thiểu số đông đảo ở Kon Tum, đã làm nên một kho báu sống động về âm nhạc dân gian cổ truyền một vùng đất.

          Trước hết phải nói ngay đến diễn xướng ching chêng,ching goong . Tộc người nào ở Tây Nguyên cũng có tập quán tấu ching goong. Nhưng cơ cấu ching thì lại hoàn toàn khác nhau, từ 1 chiếc ( tộc người Jẻ), 2 chiếc ching Tha ( tộc người BRâu), cho đến 12-15 chiếc của dàn ching goong Sê Đăng, Bâhnar, cho thấy ngay sự phong phú về số lượng. Chưa kể tới mỗi tộc người có hàng chục bài bản ching riêng biệt giành cho mỗi lễ thức. Những bài ching tấu buồn bã trong tang lễ tiễn người về đất nước ông bà, rộn ràng trong các lễ mừng cơm mới, cúng giọt nước tạ ơn các yang linh thiêng cho một vụ mùa no đủ, thành kính chúc thọ người già, sôi nổi mừng thành niên người trẻ, trầm hùng trong ngày mừng chiến thắng hay bỏ mả…Ching Bâhnar trầm sâu như dòng Đăk Bla ngầu đỏ phù sa ; ching arap Jrai phóng khoáng như cơn gió mùa khô cao nguyên; ching Sê Đăng náo nức, rộn ràng nâng bước gái trai vào vòng suang đêm hội.

Nếu sự “ khác lạ ” có  ở số lượng và âm điệu, thì sự đồng nhất lại xuất hiện ở phương thức trình tấu theo ngược chiều kim đồng hồ để đón các thần linh từ phương tây về phương Đông với con người; Và gắn bó sâu đậm với đời sống vui buồn của cộng đồng, âm điệu ching goong Kon Tum dù trầm lắng hay sôi nổi, cũng đều song hành với các vòng suang khoe thân hình uyển chuyển, dịu dàng, mang tính chất dâng hiến của các cô thiếu nữ, cũng theo nội dung từng lễ nghi, theo từng độ tuổi, mà có những động tác, điệu múa biến hóa khác nhau, như suang sơ mơk, suang arap, suang soă tơ moi….  Tiếng ching goong cất lên là khiến tâm hồn con người rạo rực, các chàng trai sẽ muốn hú lên những âm thanh sảng khoái, các cô gái dường như duyên dáng thêm trong váy áo thổ cẩm sặc sỡ ….Bon, kon, plei náo nức hẳn lên, thân thiện chào mời khách gần khách xa về những hội, lễ.

 Có thể lắng nghe đâu đó tiếng đàn t’rưng , ting gling lanh canh đuổi thú nơi con suối chảy, tiếng goong, ting ning, brok tính tang tỏ bày tình yêu của các chàng trai dưới mái Rông, âm thanh bàn tay đua tài vỗ klong pút bì bộp của những người phụ nữ trên rẫy; hay đầu sàn nào trong đêm trăng trong veo tiếng kny nỉ non gọi bạn. Cao vút chấp chới như cánh chim trong vòm xanh đại ngàn là những làn điệu dân ca rnghe, Chim Jil lăm hum dak krong nhịp điệu đằm thắm, rằng “ em đẹp như hoa cheng ret xinh tươi, tóc như suối ngàn êm trôi về xuôi”, hay “ đôi cánh chim lung linh nắng vàng, xinh như dáng em, anh muốn đón em về…” ; bên bếp lửa bập bùng lời hri, Hơ amon, ting ting lúc thủ thỉ tâm tình, lúc trào dâng như con sóng cuộn…kể về những chàng Dăm Noi, Dăm Gyong vừa đẹp trai vừa dũng mãnh bảo vệ bình yên cuộc sống nơi đe, kon, plei lẫn những người con gái Bia Ktor, Bar Rma  xinh đẹp của chính mình…

Ngày nay, Kon Tum còn có sự hiện diện của các DTTS phía Bắc, cũng có truyền thống văn hóa độc đáo không kém. Góp phần làm cho bức tranh âm nhạc thêm đậm đà sắc màu.

Sông Đăk Bla như chiếc tù và thổi qua lòng thành phố Kon Tum xinh đẹp và mến khách, mang theo những âm thanh sống động của văn hóa các tộc người. Hãy đến để trải nghiệm với những điều tuyệt đẹp vô tận ấy của âm nhạc các DTTS Kon Tum nhé.

 

[...]
Xem tiếp