Linh Nga Niê Kdăm
taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Nối nhịp đời vui

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-31-08

                                                            

 

                Để có thể “chung sống hòa bình” với căn bệnh thoái hóa cột sống, tôi giữ thói quen đi bộ, thiếu hai con giáp nữa là tròn mười lăm năm. Công việc cho tôi may mắn  mỗi năm được thăm thú một địa phương trên khắp miền đất nước. Ở mỗi nơi, mỗi sáng tôi lại chọn một con đường đi bộ khác nhau, cho thỏa trí tò mò khám phá không chỉ cảnh quan mà cả cuộc sống của cư dân mỗi miền. Riêng chỉ với Đà Nẵng, tôi luôn “thủy chung” với đường Bạch Đằng, chạy dọc ven bờ sông Hàn.

Việt Nam mình có nhiều những con sông thân thương thành nhạc, thành thơ chảy qua lòng thành phố, như sông Hương ở Huế, sông Sài Gòn ở thành phố Hồ Chí Minh, sông Hậu ở Cần thơ, sông Lô tại Tuyên Quang, sông Đăk Bla ở Kon Tum…những dòng sông mang bóng hình phố xuôi về phía biển Đông. Nhưng có lẽ không có con sông nào có cả đôi bờ xanh sạch đẹp và nên thơ như sông Hàn ở Đà Nẵng hiện nay. Chỉ riêng sự rộng rãi, thoáng đãng, với rất nhiều tượng đá các kiểu của làng nghề điêu khắc Non Nước đã tạo nên một vẻ duyên dáng riêng cho bờ kè Tây. ( nghe nói các nghệ sỹ tạo hình ở Đà Nẵng không mấy nhất trí với việc sắp đặt những tượng đá này, bởi  không mang tính “nghệ thuật” cho lắm, lại trưng bày hơi …lộn xộn. Nhưng có phải ai cũng biết thưởng thức điêu khắc đá thứ thiệt đâu ). Nhất là sáng sáng tiếng nhạc aerobic, khiêu vũ điệu đơn của các bà các cô , nhạc dưỡng sinh, múa quạt của những lão bà bà vang lên trên từng đoạn hè, làm vui mắt nhiều du khách da màu,tóc xoăn hay da sáng tóc vàng cùng hòa nhịp chân hay bước chạy bộ…Con đường rộng rinh 17,5m,  xe  chạy một chiều thoải mái, lại còn dành hẳn sát lề làm chỗ đậu ôtô , xe máy cho người đi bộ, kẻ dạo chơi, hóng mát, hay ngồi phía vỉa hè bên kia đường ( tất nhiên là chừa ra làn đi bộ nhé), sáng sáng, chiều chiều nhìn sang bờ Đông, nhâm nhi ly nước mát, ngắm người và xe  lại qua. Cũng đã là một niềm vui yên bình hiếm thành phố nào có được đấy chứ

                                                    Bình minh trên bờ sông Hàn

                Trong khoảng 7 năm trở lại đây, tôi có hai lần được lưu lại  Đà Nẵng vài ngày. Xa nhất là năm BCH Hội Nhạc sỹ họp tại Đà Nẵng. Ngày đó cây cầu quay duy nhất ở Việt Nam khánh thành chưa lâu, sau 12h đêm ở khách sạn Bạch Đằng, chúng tôi háo hức mở toang cửa số cùng dân chúng xem  cầu xoay mở cho tàu bè lại qua ( bởi cảng Đà Nẵng lúc đó còn nằm phía bên trong cầu Sông Hàn ). Sáng sớm, đi bộ qua cầu, sang bên bờ Đông là bán đảo Sơn Trà  một làng chài nghèo, vắng, toàn nhà cấp bốn với những đường phố hẹp, xác xơ, lờ mờ sáng trong ánh bình minh. Lần thứ hai, năm 2009, nhân đại hội các Nhà Văn khu vực miền Trung – Tây Nguyên, tôi chứng kiến sự háo hức của người dân Đà Nẵng ngay từ sáng sớm trong ngày khánh thành cầu Phước Thuận, cây cầu dây văng dài nhất nước, khi đi bộ trên mặt cầu láng bóng sương đêm.

                Vẫn con sông Hàn ấy thôi, bằng ấy năm mà đã bao sự đổi thay. Khách sạn BCH Hội Nhạc sỹ ở nay chuẩn bị mọc lên khu phức hợp khách sạn Bạch Đằng mới. Cảng Đà Nẵng đã chuyển ra tận cửa biển gần Cầu Phước Thuận. Cầu quay sông Hàn bỗng trở nên bé nhỏ hơn so với sự hoành tráng đường bệ của cầu Rồng dài hơn 666m, rộng trên 36m và của hình dạng những cánh buồm căng gió ở cầu Trần Thị Lý dài hơn 731m, rộng trên 34m. Đêm đêm , không cần thưởng gió trên tàu du lịch, chỉ đứng ở bờ kè thôi, xem năm phút một lần những cây cầu lần lượt thay ánh sáng màu lộng lẫy vô cùng đẹp mắt, khiến đêm thành phố bỗng lung linh như ở một xứ sở thần tiên. Ngược dòng, nối thành phố với Ngũ Hành Sơn, Non  Nước ngoài cầu Nguyễn Văn Trỗi và  cầu Thiên Sơn, còn có 2 cây cầu nữa. Nghĩa là có tới 9 cây cầu trên một dòng sông ôm trọn Đà Nẵng vào lòng.

Cầu Trần Thị Lý như cánh buồm no gió

Nhà thơ Đinh Thị Như Thúy mới rời Đăk Lak về quê Đà Nẵng hơn một năm, đã rất vui chở tôi đi lòng vòng qua hết ba cây cầu đẹp nhất, để khoe sự đổi thay của bờ đông thành phố. Nếu không nhớ hình ảnh xóm chài nghèo năm nào, tôi đã không bất ngờ đến thế , bởi gió biển đêm mát rượi, ánh điện cao áp sáng trưng trên những con đường đôi Phạm Văn Đồng, Trần Đại Nghĩa rộng thênh thênh, đường Hoàng Sa - Võ Nguyên Giáp - Trường Sa chạy dọc bờ biển ( ơ này, ngày trước nhà thơ Tố Hữu chỉ dám mơ những con đường rộng “tám thước” thôi nhá ), theo hướng nam nối Đà Nẵng với Hội An được mệnh danh là "con đường 5 sao  " vì là nơi tập trung hàng loạt khu nghỉ dưỡng cao cấp 4 và 5 đạt tiêu chuẩn quốc, nhà cao tầng theo ánh bình minh lên, đổ bóng mát tận sang bờ đông thành phố. Mặc dù cảng Đà Nẵng đã di dời ra sát cửa biển , dọc bờ Đông nhiều quán hàng, sân khấu ca nhạc đèn màu loang loáng, nhưng tàu đánh cá của ngư dân vẫn neo đậu ven bờ. Minh chứng cho nhịp đời mới của làng chài, của một vùng rộng lớn phía bên kia những cây cầu. Tóc Thúy bay trong gió xòa vào mặt tôi cả hương biển mặn. Lấp lánh ánh đèn màu,âm nhạc phát ra từ những khuôn cửa sổ rộng mở, khiến tâm trạng con người thật sảng khoái. Có lẽ vì vậy mà Đà Nẵng là nơi duy nhất trong cả nước có các chuyến tàu quốc tế cập cảng Tiên Sa, chở theo từ 1-2000 khách du lịch mỗi lượt chăng?

                Vẫn lại chuyện những cây cầu ở Đà Nẵng. Trong mấy ngày dự trại sáng tác, chúng tôi được Ban Tổ chức đưa đi thăm hai công trình giao thông thật ấn tượng. Một là cầu cửa Đại, nối thành phố Hội An với huyện Duy Xuyên. Chiều dài toàn tuyến đường và cầu xây dựng là 18,3 km. Riêng cầu  Cửa Đại làm từ hai đầu, sắp sửa hợp long, sẽ có 4 làn xe chạy trên mặt cầu bề rộng thông thuyền 25m, chiều cao tĩnh không thông thuyền là 20m, với 22 nhịp. Hai là nút giao thông Ngã ba Huế, nơi có lưu lượng xe cộ lưu thông với thành phần phức tạp, không chỉ , người, ô tô, xe máy mà cả tàu hỏa… đang được xây dựng nút giao thông hình xuyến bao quanh, kết hợp cầu vượt 3 tầng với tháp cầu parabon. Đồ sộ ! Đó là ấn tượng đầu tiên mà những cây cầu đang dần nên hình, nên hài gây dấu ấn với các nhà văn, nhà thơ khu vực miền Trung , Tây Nguyên .

                                                       Cầu Cửa Đại trên sông Thu Bồn

Điều làm chúng tôi thật sự thán phục, là dẫu kiến trúc  các công trình đều được chọn từ cuộc thi tuyển của 14 đơn vị tư vấn trong đó có các nước Nhật, Mỹ, Đức, Pháp, Trung Quốc, Phần Lan… và Việt Nam, nhưng tất cả các khâu quản lý dự án, thiết kế bản vẽ thi công, giám sát, thi công đều hầu hết do đội ngũ cán bộ, kỹ sư, công nhân Việt Nam thực hiện. Đặc biệt là Tổng công ty Cienco 5, tiền thân là những người hùng “ vượt trên triền núi cao, đá mòn mà đôi dép không mòn” mở đường Trường Sơn năm nào. ( Những con đường rộng thênh quyến rũ tôi trong đêm bờ Đông cũng chính do Cienco 5 đảm nhiệm). Và một sự thú vị khác, không chỉ là nối nhịp cho cuộc sống sôi động, phát triển mạnh từ tận những vùng hẻo lánh nhất dưới chân núi Ngũ Hành Sơn, làng nghề đục đá Non Nước đến các làng chài ven biển, những cây cầu còn được tạo nên từ những tâm hồn đầy lãng mạn và đậm chất văn hóa Việt. Không chỉ là hình ảnh một con rồng thời Lý kiêu hãnh, đôi cánh chim xòe rộng  vút bay lên trời cao của cầu sông Hàn, hình dạng những cánh buồm vượt biển đông của cư dân biển đảo thuở nào trên vòm cầu Trần Thị Lý, đến những tháp cầu hình parabon mô phỏng những cánh tay vũ nữ uốn lượn trong vũ điệu của thần Siva và vòng xuyến ngã ba Huế cách điệu hình tượng Linga & yoni , biểu tượng sinh tồn của một nền văn hóa Chăm rực rỡ ở miền Trung. Đều mãn nhãn du khách, đáng khâm phục và ngưỡng mộ với trí tuệ và tài năng của những người thợ cầu đường Việt Nam. Và những cái tên cảng Chân Mây, cảng Tiên Sa…dành cho những khu công nghiệp hiện đại vào bậc nhất cả nước, vang lên nghe không chỉ đẹp mà còn gần gũi với đời thường biết bao.

Tôi thật sự xúc động khi được biết, làm nên những công trình hiện đại, đẹp và bền vững ấy cho một thành phố như lưỡi kiếm lớn cắm chắc xuống ven bờ canh giữ biển trời Tổ quốc, là những người công nhân mà tiền thân là Ban xây dựng 67, những chiến sỹ dũng cảm của Trường Sơn Đông nắng Tây mưa thuở nào. Chắc không còn ai trong số các anh hôm nay, là người đã dẫn dắt đoàn xe của Đoàn ca múa Miền nam chúng tôi vượt qua phà Long Đại trong đêm bom đạn chói lóa mặt sông của 41 năm về trước. Chắc cũng chẳng còn ai của những nữ thanh niên xung phong “ không thấy mặt người chỉ nghe tiếng hát ”, sau trận bom nơi cua chữ A ào ra san lấp mặt đường cho xe chúng tôi qua kịp khi bình minh chưa tràn tới.Ai trong các anh chị đã từng tham gia xây dựng cây cầu Srêpok trên quốc lộ 14 ở Buôn ma Thuột quê tôi? Và rồi những cái xóc nảy trên chuyến xe giường nằm cao cấp từ  Đà Nẵng về Buôn Ma Thuột qua đường Hồ Chí Minh lần này, ký ức  sẽ không nguôi nhớ về  con đường Trường Sơn thấm đẫm máu và mồ hôi của các anh chị, khiến đám diễn viên chúng tôi sứt đầu, mẻ trán vì bị ném lăn lóc từ bên này qua bên kia thành xe tải phủ bạt ngày ấy…

Cái tính tò mò của nhà báo, khiến tôi trò chuyện được với một thợ hàn trẻ quê ở Hà Tĩnh. Dũng chưa tròn 30 tuổi, theo những công trình giao thông đã 5 năm. Trong căn lán tạm bợ của thợ cầu ven sông Thu Bồn, tôi tưởng em nghỉ ca, nhưng sau mới biết em đang bị cảm nắng. Sức vóc mảnh mai thế kia, dẫu là người con của mảnh đất thắt eo nghèo khó nhất, cần cù chăm chỉ nhất đất Việt, với cái nắng miền Trung gay gắt, có ngày lên tới hơn 40 độ này , không ốm mới là chuyện lạ ? Em  có người yêu ở quê, không phải phải năm nào cũng về thăm được. Với nhịp độ lao động ba ca / ngày, để kịp hoàn thành tiến độ thi công, chắc sẽ có nhiều công nhân như Dũng, mang nỗi nhớ thương gửi vào từng đường hàn hay nén chặt vào một thảm beton nào đó. Ở chỗ thi công vòng xuyến ngã ba Huế, tôi bắt gặp hình ảnh mấy công nhân vừa rời bàn nước sau giờ nghỉ giải lao, trở lại mặt đường. Trên chiếc bàn nhỏ nơi họ vừa ngồi, chỉ có vết loang của một ly cà phê đá loãng, chai nước khoáng và bốn chiếc ly đã cạn….Có chút gì trào lên trong ngực khi lãnh đạo công trường cho biết tháng 3/2015 ( nghĩa là chỉ còn 7 tháng nữa) công trình đang hết sức ngổn ngang và chưa rõ hình hài kia phải hoàn thành.  Và bài hát tôi vừa hoàn thành, có nói hộ được đôi điều cho tình cảm của các anh, rằng “ nếu anh không về em hãy đến với anh. Yêu những con đường nối mọi miền đất nước và thêm yêu anh em nhé, thợ cầu đường”?

Trong cuộc cà phê vỉa hè, Hồng Phong, phóng viên của Đài VTV Đà Nẵng đã thành thật bày tỏ với tôi “ Ở Đà Nẵng hơn 10 năm rồi mà chưa dám làm phim về Đà Nẵng. Thành phố cứ như một người đẹp quá lộng lẫy, khiến chỉ dám đứng xa mà chiêm ngưỡng chứ không dám lại gần”. Tôi hiểu, với thời lượng một chương trình truyền hình, khó có thể nói hết những đổi thay của một thành phố được coi là “ đáng sống nhất Việt Nam” như Đà Nẵng. Tôi cũng biết rằng để có GDP 6 tháng đầu năm 2014 tăng 9,2 % so với cùng kỳ năm 2013, so với kế hoạch năm 2014 tăng từ 9-9,5%, xếp vào tốp những địa phương đứng đầu trong cả nước, Đà Nẵng còn có những “ chiêu” chưa hề có tiền lệ, tạo ra sự ổn định của đời sống xã hội lẫn những đóng góp cho sự phát triển kinh tế, như chương trình “ 5 không 3 có”, cũng như việc đem lại bộ mặt khang trang, hiện đại cho thành phố hôm nay mà chưa địa phương nào làm được đó là vấn đề giải phóng mặt bằng. Tôi lang thang trên phố, thú vị khi  so với những thủ đô trong khu vực Đông Nam Á như Manila ( Phi lippin) , Rangun ( Myanma) Đà Nẵng hơn vượt bậc về môi trường và cảnh quan; mức độ phát triển đô thị tương tự với Singapor một trong những con rồng của châu Á.

                                                                Tòa nhà hành chính của thành phố Đà Nẵng

Đà Nẵng nằm ở trung bộ của Việt Nam, trên trục giao thông huyết mạch Bắc - Nam về cả đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, là cửa ngõ giao thông quan trọng của cả miền Trung và Tây Nguyên. Thành phố còn là điểm cuối trên hành lang kinh tế Đông - Tây đi  qua các nước  My anma, Thái Lan, Lào và Việt Nam. Sự phát triển mạnh mẽ ấy là nỗ lực của cả lãnh đạo lẫn nhân dân thành phố và không thể không nói đến sự đóng góp của ngành giao thông vận tải trong đó có Công ty Cienco 5, để hình thành hạ tầng cơ sở tuyệt vời , khiến bạn có thể yên tâm khi tham gia giao thông, bởi “ không bao giờ tắc đường” của Đà Nẵng.

 

                                                                                                                                                Đà Nẵng 30/8/2014

[...]
Xem tiếp

Lặng lẽ một cuộc đời

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-27-08

Sẽ là rất thiếu sót nếu nói tới giới nghệ sỹ Tây Nguyên, mà không nhắc đến một người nữ ca sỹ , sang đến thế kỷ XXI này, vẫn là duy nhất của dân tộc Vân Kiều.  Người thứ hai trong số các nghệ sỹ của dãy núi Trường Sơn - Tây Nguyên ( sau cố NSND Y Brơm), tốt nghiệp chính quy nghệ thuật biểu diễn ở nước ngoài. Bởi lẽ nhiều người, ngay cả trong giới hoạt động nghệ thuật ở Tây Nguyên những năm 70-80 ( TK XX), cũng không biết đến chị, Hồ Thị Kha Y.


Quê ở Quảng Bình, cô bé Hồ Thị Khai tập kết ra Bắc khi còn như cái cây non khẳng khiu mới mọc giữa rừng. Cũng chẳng biết cơn gió nào đẩy đưa chị tới trường âm nhạc nữa. Khi Măng Thị Hội, Thanh Bình, Linh Nga Niê Kdam vào năm thứ nhất trung cấp thanh nhạc ở nơi sơ tán Yên Dũng ( Bắc Giang), chị đã bước sang năm thứ ba. Một năm sau, tốt nghiệp loại khá, chị đủ tiêu chuẩn lên đường sang Anbani học đại học thanh nhạc. Sau 7 năm tu nghiệp ở nước ngoài, chị về lại đoàn Ca Múa Tây Nguyên, từ lúc ấy, trên sàn diễn, nghệ danh của chị là Kha Y .

Không biết có phải tính cách quyết định số phận con người không? Nhưng trong trường hợp của Kha Y, tôi e rằng số mệnh có lý của “ nó”. Tính tình chị lặng lẽ, ít nói, rất hay bối rối trong mọi mối quan hệ giao tiếp. Nếu mạnh dạn, xông xáo hơn, cuộc đời chị có lẽ đã khác chăng? Ngay thời gian cùng học trường Âm nhạc VN, chị và ba đứa học trò mới chúng tôi, tuy cùng do Đoàn ca Múa Tây Nguyên tuyển và cử đi học, cùng hệ thanh nhạc, nhưng khác năm, nên cũng ít trò chuyện cùng nhau. Chỉ có sau này về nước, biết tôi đang theo học đại học thanh nhạc tại Nhạc viện Hà Nội, lại cùng chung sống ở một khu tập thể, hàng tuần, chị dành thời gian giúp tôi một số giờ luyện giọng cơ bản, chúng tôi mới có dịp tâm sự với nhau nhiều hơn. Tôi hiểu được rằng từ khi theo nghề, chị vẫn luôn mang mặc cảm là người dân tộc, lại mồ côi mồ cút, nên ít dám giao tiếp cùng ai, chứ thật ra trong giảng dạy chị rất nhiệt tình.

Thời gian theo học ở trường Âm nhạc tại nơi sơ tán, Kha Y chỉ thân thiết với mỗi mình chị Châu Ngọc Lệ, dân tộc Khơmer, nguyên là diễn viên múa, người duy nhất Đoàn Ca Múa Tây Nguyên cử đi học piano, bậc trung cấp. Chị là vợ của nhạc sỹ Nhật Lai. Mỗi quan hệ gắn bó thân thiết như chị em ruột này, về sau đã làm số phận cuộc đời Kha Y đột ngột rẽ sang ngoặt sang một ngả đường khác.

Trước khi Kha Y tốt nghiệp về nước hai năm, người chị kết nghĩa Châu Ngọc Lệ đột ngột qua đời, sau hai tuần điều trị một cơn bệnh tâm thần bộc phát. Cái chết của chị là nguyên nhân để Kha Y xin nghỉ hè bay về  chia buồn cùng anh Nhật Lai & cháu Chung Ly ( ngày ấy lưu học sinh đi học nước ngoài, nếu muốn có được tiền tài trợ về nước nghỉ phép, phải có lý do đặc biệt, hoặc tự túc lấy kinh phí chuyến đi và về). Đó là kỳ nghỉ hè định mệnh. Không biết có phải vì thương đứa cháu gái nhỏ côi cút như chính mình ngày tập kết ra bắc, hay tự gánh lấy trách nhiệm phải thay người chị nuôi chăm sóc anh và cháu, hoặc cô gái chưa một lần biết yêu gặp mối tình sét đánh? Không ai trong khu tập thể các đoàn ca múa ở Cầu Giấy  ( Hà Nội ) tìm hiểu. Chỉ biết rằng hai tháng sau, khi Kha Y trở lại Anbani để hoàn thành nốt khóa học, cư dân khu tập thể đã mừng cho bé Chung Ly có người mẹ kế hiền lành chăm sóc. Hai năm là khoảng thời gian đủ để có một đám cưới nhỏ trong nội bộ gia đình, sau ngày Kha Y tốt nghiệp về nước. Chính cuộc hôn nhân này lại càng làm cho Kha Y dường như mặc cảm điều gì mà sống khép kín hơn, ngay cả với anh chị em cùng đoàn Ca múa Tây Nguyên.

Học đại học chính quy chuyên ngành thanh nhạc thính phòng ở nước ngoài, giá chị về giảng dạy ở một trường âm nhạc sẽ phát huy tốt hơn, nhưng lại tham gia biểu diễn nhạc mới và nhất là dân ca Tây Nguyên, thật chẳng thích hợp chút nào. Cho dẫu những bài hát chị chọn biểu diễn, thường là những ca khúc nghệ thuật mang âm hưởng Tây Nguyên, như “ Em là hoa Plang” ( Đức Minh), hay “ Bóng cây Knia” ( Phan Huỳnh Điểu – Ngọc Anh) hoặc “ Mặt trời Ê đê” ( Nhật Lai)… Cho rằng không phát huy hết tài năng, nên sau một thời gian tham gia biểu diễn thử ở đoàn, nhạc sỹ Nhật Lai xin cho chị chuyển về Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam. Vào những năm của thập kỷ 70 ( TK XX), số người học thanh nhạc chính quy bậc đại học ở nước ngoài về không nhiều, Hồ Kha Y tốt nghiệp hạng khá ở nước ngoài, chất giọng chị lại rất khỏe và sáng, kỹ thuật cơ bản rất vững, cũng xinh gái nữa, về nhà hát Nhạc Vũ Kịch là rất thích hợp với chuyên môn….Nhưng như đã nói ở trên, do bản tính quá rụt rè, chị không thể hiện nổi những vai diễn trong các vở ca kịch ( opera) của cả trong lẫn ngoài nước mà Nhà hát từng có ý định giao chị đảm nhận. Kha Y bằng lòng với việc hát ở bè nữ cao trong dàn hợp xướng hàng trăm người của nhà hát cho đến ngày về hưu.

Sự ra đi đột ngột của nhạc sỹ Nhật Lai, khiến Kha Y thật sự chới với trong cuộc sống đời thường, bởi người phụ nữ trong chị đã quen với sự bảo bọc hoàn toàn của chồng. Không trụ nổi với đời thường giữa phố phường Hà Nội, chị bán hết tài sản, theo bạn bè của đoàn Ca múa Đam San vào Gia Lai, nhẫn nại nhưng rất yêu nghề, làm giáo viên của trường Trung cấp VHNT. Công việc dẫu chỉ là hợp đồng dài hạn, nhưng ổn định và đúng nghề, lại được tỉnh ưu ái phân cho một căn hộ trong khu tập thể của cán bộ, Kha Y một lần nữa như “ sống lại” trong tình mến thương của học trò.

Ở trên cao xanh kia, chắc chắn có rất nhiều những linh hồn phù hộ cho người đàn bà suốt đời lặng lẽ này.

 

 

 

 

[...]
Xem tiếp

Lương y trị bệnh miễn phí

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-14-08

Với nhiều người dân huyện biên giới Ea Súp, Đắk Lắk, Bác sĩ - Lương y Phan Thành Nguyên (thôn 06, xã Cư Mlan, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk) thực sự là “vị cứu tinh”, bởi ông đã cứu hàng trăm mạng người từ ngưỡng cửa cõi chết trở về miễn phí.

                                                   Lương y Phan Thành Nguyên chữa bệnh miễn phí

Trọn nghĩa lương y

Bác sĩ - Lương y Phan Thành Nguyên (SN 1940), quê ở Châu Thành, An Giang. Trích ngang của ông mà mọi người biết đơn giản thế này: Lên 6 tuổi, ông theo một người thầy thuốc trong làng sang Thái Lan học văn hóa đồng thời học thêm về đông y.

Đến năm 18 tuổi, Phan Thành Nguyên về Việt Nam học Đại học y khoa Sài Gòn, sau này ông học tiếp chứng chỉ lương y đa khoa của Trung tâm đào tạo và nghiên cứu Y dược học cổ truyền dân tộc. 

Năm 1961, ông xin vào làm cho một phòng khám nhân đạo ở An Giang, bắt đầu sự nghiệp từ thiện của mình. Lương y Phan Thành Nguyên bảo, ông biết khoảng 900 vị thuốc chữa bệnh nhưng chọn lọc lấy 150 vị để bào chế chữa các bệnh như: viêm gan, xơ gan, viêm xoang, gan máu nhiễm mỡ, thần kinh tọa, viêm đường tiết niệu, thoái hóa cột sống, gai cột sống, đĩa đệm, bệnh trĩ, huyết áp cao, tai biến, hành tá tràng, tiêu chảy, viêm loét dạ dày, sỏi thận, tiểu đường, thận ứ nước, rối loạn tim mạch… Những vị thuốc được ông dùng đa số được mua ở An Giang, thành phố Hồ Chí Minh, một số loại thì ông tự lên rừng hái và sao chế.

Mỗi ngày lương y Phan Thành Nguyên làm việc từ sáng sớm đến tối mịt, khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho cả trăm người, gần như ông không có thời gian nghỉ. Dù có thông báo chỉ khám bệnh từ thứ hai đến thứ sáu, thứ bảy, chủ nhật ông phải lên rừng hái thuốc, nhưng có bệnh nhân ở xa tìm đến, ông phải nán lại khám xong cho họ rồi mới đi. Vất vả, bận rộn nhưng ông chưa bao giờ từ chối, hay khám qua loa với một bệnh nhân nào.

Những ca đưa người bệnh vượt cửa tử

Một lần về quê chồng ở An Giang, bà Nguyễn Thị Tìa (1949, thôn 06, xã Cư Mlan, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk) kể cho ông Nguyên nghe trường hợp anh Nguyễn Thanh Nhất, ở gần nhà mình bị xơ gan đi chữa nhưng bệnh viện tỉnh Đắk Lắk, Bệnh viện Chợ Rẫy TP Hồ Chí Minh đều trả về và nói gia đình chuẩn bị tâm lý trước.

Cả ngày anh nằm dưới nền nhà vì bụng trướng to, không đi lại, ăn uống được, sức khoẻ ngày càng yếu. Mọi chuyện trong nhà một mình vợ anh lo, 3 đứa con đang tuổi ăn tuổi lớn, gia đình vốn nghèo giờ lại càng khó khăn hơn.

Sau một thoáng suy nghĩ, ông nói bà Tìa dẫn lên gặp anh Nhất. Ngay ngày hôm đó, ông Nguyên, bà Tìa đón xe khách đi thăm người bệnh. Đây là lần đầu tiên ông đến Đắk Lắk nhưng vô tình lại gắn bó với mảnh đất ấy cho đến tận bây giờ.

 Anh Nhất kể lại: “Khoảng tháng 5/2009, các bác sĩ ở Bệnh viện Chợ Rẫy khám và kết luận tôi bị xơ gan. Sau một tuần theo dõi, điều trị tôi bị trả về. Tôi nghĩ mình giờ chỉ nằm chờ chết thôi, chỉ buồn vì thương vợ và 3 con còn nhỏ.

                                                      ông Nhất đã hoàn toàn mạnh khỏe

Giữa tháng 7/2009 thì ông Nguyên đến. Sau khi khám, ông lấy mấy thang thuốc ra bảo, thang đầu tiên sẽ là thang quyết định tôi có qua được không, rồi tự tay ông đi sắc thuốc, nói tôi phải uống bằng hết chén thuốc đầu. Uống thuốc xong, 10 phút sau tôi bị nôn ra máu, máu cứ chảy ồng ộc không ngừng, toàn máu bầm đen.

Vợ con tôi khóc ầm lên, mọi người nhìn tôi thương xót nghĩ tôi không qua khỏi. Nhưng ông Nguyên lại thở phào, thoáng cười. Đến 10 giờ đêm, tôi uống tiếp chén thứ 3 trong thang thuốc đầu, bụng vẫn sôi nhưng tôi lại ngủ được. 

Mấy ngày đầu, ông Nguyên túc trực bên tôi 24/24 giờ. Ông bắt mạch, kiểm tra tình hình và không ngừng động viên tôi cố gắng. Tôi tiếp tục uống thuốc, một tháng sau, vợ con tôi không phải túc trực bên cạnh nữa, tôi gần như đã bình phục.

Từ đó đến nay đã được 5 năm rồi, bây giờ tôi khỏe hẳn, đi làm về ăn không biết no nữa. Lúc bị bệnh, nhà tôi phải bán sạch tài sản để chữa trị. Khi chữa bệnh cho tôi ông Nguyên không lấy tiền. Giờ tôi coi ông ấy như cha mình vậy”.

Sau lần ấy, rất nhiều người đến tìm nhờ ông Nguyên chữa bệnh và cùng thống nhất “bắt” ông ở lại. Chị Hoàng Thị Diệu ở gần nhà anh Nhất bị suy thận, tóc rụng, chân sưng phù không đi lại được đã mất khá nhiều tiền đi bệnh viện nhưng không có kết quả. Nhờ uống thuốc thầy Nguyên mà chân hết sưng, đi lại bình thường, tóc cũng không còn rụng nữa.

Bác Trần Văn Cừ (thị trấn Ea Súp) bị đau lưng, đi khám nhiều nơi nhưng không khỏi, sau khi khám và uống thuốc thầy Nguyên đã hết đau. Bác Cừ nhận xét “Thầy Nguyên là người có tâm với dân nghèo, đến nhà thầy khám tôi không bao giờ phải lo chuyện tiền bạc”.   

Tình cờ trong ngày chúng tôi đến phòng khám của lương y Phan Thành Nguyên thì gặp bệnh nhân Ngô Kim Đức (57 tuổi) ở Thụy Khuê - Tây Hồ - Hà Nội. Ông Đức bay vào Buôn Ma Thuột, đi taxi hơn 70 cây số vào nhờ thầy trị bệnh. Được biết ông Đức bị ung thư dạ dày, năm 1984 phải cắt bỏ 2/3 dạ dày đến năm 2011 thì cắt bỏ toàn bộ. Sau khi cắt bỏ dạ dày ông đã phải qua xạ trị 6 lần ở Bệnh viện K (Hà Nội).

Được ông Chiêu, bà Tìa giới thiệu nên ông Đức lặn lội vào đây khám và chữa. Sau khi khám, thầy Nguyên kết luận ông Đức bị thêm bệnh khớp. Mấy ngày sau tôi gọi điện thăm hỏi tình hình sức khỏe ông Đức, được biết ông đã khá hơn rất nhiều, mạch tốt, ăn uống đã cảm thấy ngon miệng.

Đồng hành cùng “thần y” trên núi

Vợ chồng ông Lư Văn Chiêu, bà Nguyễn Thị Tìa là chủ doanh nghiệp tư nhân chế biến lâm sản xã Cư Mlan, huyện Ea Súp, từng được ông Nguyên chữa khỏi bệnh.

Ông, bà cho biết: “Lúc ở An Giang nghe danh thầy Nguyên giỏi lại làm từ thiện đã lâu trong khi cả huyện Ea Súp không có một nhà thuốc Nam nào. Người dân ở đây nghèo, mắc bệnh không biết trông cậy vào đâu. Muốn giúp dân nên ông, bà mua đất mở phòng khám, nhập thuốc men rồi mời thầy về làm.

Từ ngày có thầy, bệnh nhân đến khám đông lắm. Một năm phòng khám nhập thuốc 3 lần, mỗi lần từ 10 đến 11 tấn dùng trong vòng ba đến bốn tháng là hết”. Ông, bà Chiêu, Tìa đã đầu tư cho phòng khám nhân đạo gần 2 tỷ đồng trong 5 năm qua để mua thuốc chữa bệnh cho người nghèo.

Bên cạnh “nhà tài trợ” không thể không nhắc đến người đồng hành, chị Bùi Thị Kim Quyên (SN 1981, tốt nghiệp Đại học Luật Huế). Bốn năm trước, thấy thầy Nguyên chữa khỏi bệnh cho dì và dượng của mình, khâm phục tài năng, y đức của thầy nên chị xin theo học đông y. Bỏ công việc ổn định, nhàn hạ ở thành phố vào nơi xa xôi, nghèo khổ nhưng chị Quyên rất vui với việc làm hiện tại.

Hằng ngày, chị là người dọn dẹp phòng khám, bốc thuốc, bào chế thuốc và lo hậu cần cơm nước. Cuối tuần, chị lại trèo rừng, lội suối cùng thầy đi hái thuốc.

“Để tiết kiệm chi phí, một số vị thuốc ở đây có, hai ngày cuối tuần tôi và thầy cùng một số người đi vào rừng hái thuốc đem về. Có những loại hiếm và khó như hoa thiên lý trinh, một trong những vị thuốc chữa viêm xoang, phải lấy vào đêm từ lúc 0 giờ cho đến 5 giờ sáng, mà loại này chỉ có vào tháng 2, tháng 3 nên phải lấy để dự trữ”. Chị Quyên kể.

Tận mắt chứng kiến ông khám, chữa, dặn dò, nhắc nhở từng người bệnh trong quá trình điều trị, chúng tôi hiểu và khâm phục hơn tấm lòng của người lương y. Rời xa mái ấm gia đình, đến nơi đất khách làm việc thiện ít ai biết vị bác sĩ đã 75 tuổi ngày ngày phải tự chăm sóc cho mình. Bữa cơm hằng ngày chủ yếu là rau, dưa nhưng ông luôn lạc quan, kiên cường vượt qua những khó khăn vất vả, hòa đồng cùng bà con miền núi.

Khi tôi hỏi vì sao ông gắn bó với nơi đây trong khi vợ và hai con hiện ở An Giang, ông cười hiền: “Người dân ở đây còn nghèo khổ, thiếu thốn quá, mắc bệnh mà không có tiền chữa trị nên tôi muốn ở lại giúp. Vợ con tôi luôn ủng hộ, động viên nên tôi rất yên tâm làm việc”.

Chủ tịch Hội đông y huyện Ea Súp, Trần Chính Hữu cho biết: “Lương y Nguyên đã nhận được rất nhiều bằng khen của Bộ trưởng Bộ Y tế, Ban chấp hành Trung ương Đông y Việt Nam, Ban chấp hành Hội Đông y tỉnh, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam… vì tinh thần làm việc cũng như những đóng góp của ông trong thời gian qua.

“Phòng khám nhân đạo” của ông đã khám, chữa bệnh cho gần 80 nghìn người, đa số là người nghèo. Khám, bốc thuốc không lấy tiền nhưng phòng khám hiện tại của ông có một thùng công đức để bệnh nhân ủng hộ tùy tâm. Số tiền ấy được dùng hỗ trợ cho bệnh nhân nghèo hoặc để mua, trả công cho những người đi lấy thuốc.

 

[...]
Xem tiếp