Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Say mê bảo tồn các nhạc cụ truyền thống ở Tây Nguyên

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-12-02

Kaly Tran sinh năm 1988, người dân tộc Ba Na, hiện đang sống tại làng Kon Klor, thành phố Kon Tum (Kon Tum) là người rất tâm huyết với văn hóa Tây Nguyên.

Kaly Tran đã tốt nghiệp cử nhân Sư phạm âm nhạc trường Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội tại Thành phố Hồ Chí Minh; có giọng hát trời phú nhưng chàng trai này không theo nghiệp ca sỹ mà lại tâm huyết thực hiện mơ ước đã ấp ủ từ lâu là bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Ba Na. Nhận thấy văn hóa của cộng đồng mình đang bị “chảy máu”, mai một, Kaly Tran rất trăn trở, làm thế nào để giữ lại cái hồn người Tây Nguyên qua lời ca tiếng hát, nét văn hóa của từng dân tộc.

Năm 2015, Kaly trở về Kon Tum, được Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh giao nhiệm vụ đạo diễn một số chương trình trong Liên hoan nghệ thuật dân gian Tây Nguyên tổ chức tại Kon Tum vào tháng 3/2016, trong đó có đêm khai mạc và lễ hội đường phố… Mới đây, Kaly được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh tin tưởng giao nhiệm vụ đại diện cho tỉnh Kon Tum, dàn dựng chương trình và dẫn đoàn gồm 20 nghệ nhân chiêng xoang tham gia Tuần “Đại đoàn kết các dân tộc – Di sản văn hóa Việt Nam” năm 2016 được tổ chức tại làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội).

Kaly Tran chia sẻ: Là người con của núi rừng Tây Nguyên, thấy văn hóa dân tộc mình đang bị “chảy máu” Kaly Tran mong muốn đóng góp sức để bảo tồn những nét văn hóa dân tộc đặc sắc, nhất là các nhạc cụ dân tộc.

Theo Kaly Tran, trước đây cồng chiêng Tây Nguyên rất nhiều, nhưng nay đã dần bị mai một. Cồng chiêng Tây Nguyên được phân ra thành nhiều loại, đối với dân tộc Ba Na ở Kon Tum, chiêng Brong là bộ gồm có 8 chiêng, 3 cồng, có nơi gồm 4 cái cồng được đánh với tiết tấu nhanh, vui nhộn trong các lễ hội như: lễ mừng lúa mới, lễ khánh thành nhà rông, lễ cầu an… Đây là thể loại cồng chiêng phổ thông và nhiều người biết sử dụng nhất ở Kon Tum cũng như tại các tỉnh Tây Nguyên.

Còn loại chiêng Brông là chiêng dày, có âm thanh trầm gồm 11 hoặc 12 cái chiêng, 3 – 6 cái cồng. Theo Kaly Tran thì ngày nay chiêng Brông bị “chảy máu” rất nhiều vì ít người biết đánh. Chiêng Brông thường được đánh vào ban đêm trong đám ma hoặc lễ bỏ mả vì loại chiêng này có tiếng trầm buồn… Cũng theo Kaly, hiện chỉ một số nghệ nhân già thuộc nhánh Rơ Ngao, dân tộc Ba Na sống vùng ven sông Đăk Bla và sông Pô Kô của Kon Tum còn đánh được loại chiêng này.

Kaly cho biết: Không phải cồng chiêng ở đâu cũng được đánh giống nhau mà tùy thuộc vào ảnh hưởng của văn hóa vùng miền; chăng hạn tiết tấu chiêng của người Ba Na sống tại Gia Lai đánh nhanh hơn người Bana sống tại Kon Tum. Cũng như các loại nhạc cụ khác, cồng chiêng của người Tây Nguyên có tiết tấu phù hợp với ngữ cảnh, toát lên được cái hồn của bản nhạv; ví dụ chiêng đánh ở đám ma sẽ buồn man mác; tiêng chuông ở lễ hội lại có tiết tấu vui nhộn.

Không chọn con đường hoạt động trong một đơn vị thuộc biên chế Nhà nước để dành thời gian nhiều hơn cho việc lưu diễn và chế tác các loại đàn dân tộc, Kaly Tran cũng sắp xếp thời gian để dạy nhạc cụ dân tộc tại nhà cho 10 học viên. Kaly Tran còn thành lập nhóm nhạc lấy tên là “Nhóm nhạc dân gian KaLy Band ” với sự tham gia của khoảng 120 người, trong đó có đội cồng chiêng, đội múa xoang , múa rối, cà kheo…

Ông Phan Văn Hoàng, Phó Giám đốc Sở Văn hóa – Thể Thao và Du lịch tỉnh Kon Tum cho biết: Tỉnh Kon Tum thường xuyên có các đề án, các hoạt động nhằm bảo tồn và phát huy văn hóa dân gian của các đồng bào dân tộc thiểu số tại Kon Tum. Trên địa bàn tỉnh cũng có nhiều nghệ nhân, nhưng đa số là những người lớn tuổi, mới đây nhất là Kaly Tran, một người con của đồng bào dân tộc Bana tại Kon Tum, là người còn rất trẻ. Kaly Tran đã say mê sưu tầm các làn điệu dân ca, chế tác các nhạc cụ truyền thống dân tộc, cải tiến sáng chế thêm một số loại nhạc cụ khác. Kaly Tran còn tham gia đào tạo, truyền dạy cho thế hệ trẻ tại làng cũng như một số trường học trong tỉnh. Vừa qua, Kaly Tran đã góp phần làm nên thành công của Liên hoan nghệ thuật dân gian Tây Nguyên tổ chức tại Kon Tum.

Kaly Tran cũng vừa sáng chế ra bộ đàn đá theo thang âm quốc tế thay vì ngày xưa chỉ có thang 5 âm. Để làm được bộ đàn đá, Kaly cho biết không phải loại đá nào cũng có thể làm được đàn mà phải chọn đá già, cứng… Kaly Tran đi tìm gần 10 năm rồi mới được loại đá ưng ý để chế tác đàn. Khi cắt đá làm đàn phải làm thế nào để âm thanh nghe tròn tiếng, rõ từng âm.

Ngoài đàn đá, cồng chiêng… ở Tây Nguyên còn có nhiều loại các loại nhạc cụ được làm từ tre, nứa, lồ ô. Kaly Tran đã đi tìm những loại cây đó đem về sấy khô, đục đẽo, cắt tỉa làm nên đàn T’rưng, Ting Ning, Klong Bút, Đing Bút, Đinh Bơng, Đing Bă, Đing Klơk, Bông Bôh, Brõ Ót… Kaly Tran cho biết: Ngoài việc bảo tồn những nhạc cụ truyền thống cha ông để lại, lớp trẻ như Kaly Tran sẽ sáng tạo thêm, bảo tồn và phát triển hơn nữa đối với nhiều loại nhạc cụ. Sắp tới nhóm nhạc của Kaly Tran sẽ cho ra mắt album ca nhạc về những làn điệu dân ca các dân tộc Tây Nguyên, góp phần quảng bá các nhạc cụ dân tộc đến với bạn bè trong nước và thế giới.

Theo Baotintuc.vn

 

                                                       

[...]
Xem tiếp

Du xuân cùng huyền thoại thác Cao Nguyên Ban Mê

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-29-01

          Dường như thiên nhiên Tây nguyên có phần ưu đãi với cao nguyên Ban Mê, khi ban tặng cho mảnh đất này nhiều thắng cảnh,làm nên một tuyến du lịch  với những dòng thác trong lành.Con sông Sê Rê pôk  chảy ngang qua địa phận Đăk lăk, cũng mến cảnh, nhớ người mà không theo bạn bè xuôi về biển đông, lại chảy ngược về phía mặt trời lặn. Gập ghềnh bởi địa hình đồi núi và rừng đại ngàn, sông tạo ra hệ thống những thác nước liên hoàn . Xuân này mời bạn cùng  lang thang với những con thác trên cao nguyên

1-Thác 7 nhánh :

          Cách  Buôn Ma Thuột hơn 40 km.Nhiều người biết đến địa danh du lịch Buôn Đôn. Nhưng không mấy ai biết rằng : dòng sông Srê pôk xanh đậm màu lá rừng,bao bọc quanh chân núi Cư Minh trước khi rời đất Việt để đổ nước vào sông Mê Khoỏng, bỗng mở rộng dòng chảy  tạo thành 7 nhánh sông,như một bàn tay khổng lồ xoè rộng ôm lấy những hòn đảo nhỏ . Vượt cầu treo rung rinh qua những ghềnh đá sang bên kia sông, chính là nơi dừng chân đầu tiên (Làng đảo- keng apa) của vị vua săn voi nổi tiếng Khun Zu Nôp NThu Rnul, khi đưa bộ lạc của mình đến cao nguyên Ban Mê, để rồi hình thành nên một vùng văn hoá độc đáo của một tập hợp nhiều nhóm các dân tộc anh em : dàn ching A rap và vòng múa suang Jrai, hoà cùng điệu Lăm Vông Lào, câu Klei khan Êđê xen với giọng kể  Ot ntrong MNông . Mà một trong những đặc trưng của vùng văn hoá đó là nghề săn bắt, thuần dưỡng và buôn bán voi qua ba biên giới, đã đem lại cho Buôn Đôn vị trí duy nhất nổi tiếng là vùng có đàn voi nhà đông nhất ở Việt Nam.

          Những cây si chằng chịt rễ, nối với nhau bằng những  chiếc cầu tre đung đưa làm thành con đường độc đáo trên các nhánh cây dẫn du khách tới  dòng chảy. Là người thích yên tĩnh hơn, hãy mượn một chiếc võng buộc chắc dưới những tán cây chàng chịt ấy, mà đung đưa, lắng nghe dòng SRê Pôk rầm rì  kể những huyền thoại về một mối tình thực hay hư giữa ông Vua săn Voi và nữ tù trưởng lừng danh người Êđê Yă Wam, khi bà hào phóng nhượng cho ông phần đất Buôn Trí rộng lớn và màu mỡ ven sông ngày nay. Hay nhốt mình trên những chiếc chòi gác cheo leo giữa các nhành cây. Hoặc nằm khểnh trong những nhà mui rùa Mnông,nhà sàn dài Êđê, nhà rông Jrai...rải rác giữa rừng mà nghe tiếng hát của đại ngàn . Đến bữa thưởng thức xôi nướng trong ống nứa, gà nướng, cá lăng thơm phức chế biến theo kiểu Tây nguyên, chuyền tay nhau cần rượu ngọt mà say la đà lúc nào chẳng hay. Hoặc ghé vào bon DRech nghe già làng kể những trường ca Mnông hết đêm này qua ngày nọ chưa dứt.

          Là người thích cảm giác mạnh, xin mời hãy lên con thuyền độc mộc khoét bằng nguyên cả một thân cây gỗ lớn, vượt mặt sông phẳng lặng hay vượt thác sang bên kia ngắm rừng khộp nguyên sinh đỏ ối mùa thay lá. Hay lắc lư trên mình voi , chúa tể của đại ngàn đã được thuần dưỡng,dạo chơi trong rừng.  Hoặc ưa tìm hiểu văn hoá của các tộc người thiểu số bản địa , mời cùng nắm tay nhau trong vòng suang của đêm hội ching chêng, hay trong lễ cúng sức khoẻ cho voi, theo thông lệ hàng năm...

2-Thác Ea HLeo

          Truyền thuyết kể rằng : Vì con cọp bảy đầu tàn hại cư dân các buôn làng quanh vùng, tù trưởng, cha của nàng H’Leo đã hứa gả người con gái xinh đẹp nhất vùng của mình, cho chàng trai dũng cảm nào giết chết được cọp.Y Rit đã chặt đứt bảy cái đầu của con cọp dữ, nhưng chàng cũng không sống lại được. Thương chàng, H’Leo khóc đêm ngày, khiến dòng sông trở thành thác nước.

          Nơi đó nằm cách thành phố Buôn Ma Thuột gần 100 km,bên rừng già nguyên sinh ,với những thân cây cổ thụ cả mấy vòng tay ôm, Vẻ đẹp đã lôi cuốn biết bao nam thanh nữ tú khắp nơi về vui chơi, tắm mát.

           Lớp trẻ ngày nay còn gọi tên là Thác Mơ. Đây cũng chính là quê hương của người tù trưởng được mệnh danh là Vua Gió ( Ptao angin) và của người nghệ sỹ - nhạc sỹ Jrai yêu mến của các dân tộc Tây nguyên  RChom Yơn, mà dẫu ông đã đi xa ,về “ bến nước ông bà”, nhưng những câu dân ca vẫn còn đọng lại trong tâm hồn buôn sang và những người yêu mến nghệ thuật dân gian Tây Nguyên  

3- Thác Krông HNăng :

          Chuyện kể rằng năm ấy, ở đâu đó có chuyện xấu xa khiến Yang giận dữ mà làm các dòng sông đều khô hết nước. Đất đai cháy bỏng, con người đứng giữa cái sống và cái chết của những cơn khát .Chồng nàng H’năng từ biệt vợ đi tìm nước cho buôn làng đã nhiều ngày không trở về. Thương dân làng, nhớ chồng H’năng xin cha mẹ cho đi tìm. Đến bờ một con sông lớn cạn khô, trước khi tắt thở vì kiệt sức, nàng đã kịp cầu xin các Yang cứu giúp con người. Cảm động trước tình cảm của H’Năng, trời cho mưa suốt mấy ngày đêm, những dòng sông, hồ lại đầy nước. Đoàn người đi đón H’năng đã nhìn thấy nàng nằm gục trên tảng đá giữa dòng sông chảy xiết.

           Ngọn thác mang tên người con gái ấy, ở huyện Krông Năng, cách thành phố Buôn Ma Thuột chưa đầy 60 km.

4- Thác Gia Long :

          Cái tên thác Gia Long dường như được gọi chệch đi từ tiếng Mnông của thác Leng Gung - Thác bậc thang. Truyền thuyết Mnông kể về những tảng đá chuông rằng : Cuối dòng, nơi ngọn thác đổ xuống qua từng bậc đá, có một tảng đá kêu.Tiếng của dòng thác đêm ngày đổ xuống trong trẻo như tiếng hát, tiếng chuông trên mặt đá ấy, là tín hiệu cho người Mnông đi xa tìm về quê hương. Tiếng vang dội sang tận nước Krum ( Cam Pu Chia) và nước Prum ( Trung quốc). Nhưng tiếng vang sang  nước Prum  khiến nhà vua mất ngủ nhiều đêm.Tức giận, vua Prum ba lần sai quân sang đánh chiếm. Vấp phải sức khách cự mãnh liệt của người Mnông, không chiếm được chúng đành đập vỡ tấm đá kêu. Từ đó dòng thác không còn hát nữa.

Thác Drea Nu

          Dòng chảy lớn gập ghềnh  làm nên hai suối thác Gia Long và Drai Nu chảy xối xả từ trên ghềnh đá cao hàng chục mét, in bóng xuống mặt nước những cánh rừng nguyên sinh xanh thăm thẳm. Tất cả hòa vào nhau, tạo nên một khung cảnh rất hùng vĩ.Bạn có thể men theo vách đá của bờ sông dọc dài cùng con nước, ngắm những cánh rừng mướt xanh của đại ngàn, để cảm nhận sự thư thái, tĩnh lặng ngơi nghỉ của tâm hồn giữa núi rừng hoang sơ

5- Thác Drei Sap :

          Tiếng Êđê Drei Sap có nghĩa là Thác khói. Khói từ chiếc tẩu thuốc lá của ông Gỗn, vị thần tối cao trong thần thoại Êđê ngồi canh chừng những con quỷ, không cho chúng đến sát hại dân lành, hay là nước mắt của nàng H’Mi không còn được sống trong hạnh phúc, bởi người yêu của nàng đã chết bên thác này, khi bảo vệ tình yêu trước quỷ ác .

                                                                     Thác Drai sáp

          Dòng thác cao , rộng, đổ xuống thành một màn sương mịt mờ như khói tỏa quanh năm, khiến cả vùng xung quanh trở nên mát lạnh giữa trưa hè. Đâu đó tiếng bầy chim Mlinh, Mlang chí choé tranh nhau những trái chôm chôm rừng chín vỏ đỏ rực, khiến cho vẻ hoang dã của đại ngàn bỗng trở nên sinh động

6- Thác Drai H'Linh :

           Người Pháp đã làm nơi đây một đập thủy điện nhỏ,cung cấp ánh sáng sinh hoạt cho một bộ phận cai trị ở trung tâm tỉnh lỵ Đăk Lăk đến hơn 40 năm, máy hoạt động liên tục mà vẫn bền vững cho đến ngày nhường chỗ cho một công trình thủy điện lớn hơn,với công suất 12.000KW, thắp sáng cho cả thành phố trẻ Buôn Ma Thuột đầy nắng & đầy gió .

          Trong nắng trưa,ngọn nước như bầy ngựa hoang tung bờm trắng xoá, sải vó trên đồng cỏ mênh mang, 7 sắc cầu vồng lung linh nơi đầu con sóng. Và nàng H’linh đẹp nhất vùng hiện ra, kể câu chuyện tình buồn của mình,với chàng nô lệ  Y Rít. Chỉ vì sự ngăn cấm của người cha tù trưởng, họ quyết chết cho đôi lứa bên nhau mãi mãi. Nơi hai người trẫm mình chính là dòng thác. Thương đôi trai tài gái sắc , người Êđê gọi đó là thác H’Linh.

 7- Thác Trinh nữ :

          Vẻ đẹp hoang dã mà đằm thắm của những người con gái Tây nguyên giống hệt như vẻ đẹp khác lạ của  thác Trinh nữ . Nơi đây tập trung những ghềnh đá cao và hiểm trở, như muốn ngăn cản con sông hung dữ xô ào ạt vào bờ.

          Truyền thuyết kể rằng : năm nào vào mùa lũ, thần sông cũng chồm lên ghềnh gào thét, đòi hiến sinh những nàng trinh nữ xinh đẹp nhất vùng, đang phới phới sức xuân đại ngàn. Nhưng các chàng trai Êđê chẳng dễ để cho vị thần xấu được toại nguyện ý muốn gian ác đó. Họ nắm tay nhau biến thành ghềnh đá lớn, hiên ngang chống lại ác thần. Cuộc giành giật không phân thắng bại  này đã diễn ra hàng trăm năm nay...và tiếng thác chính là khúc hát của những nàng sơn nữ đang tiếp thêm sức mạnh cho người mình yêu, để chiến thắng cái ác.

    Trừ thác Drai H'Linh đã trở thành một công trình thủy điện quan trọng, đến với cao nguyên Ban Mê, du khách còn có thể tham quan không chỉ những địa chỉ trên, mà còn nhiều dòng thác  sạch đẹp khác như thác Buôn Kuôp ( Cư Jut) , Ea MDró ( Cư MGar), thác Krông KMa ( Krông Bông ), thác Vị Thanh ( Mdrăk)...với một niềm sung sướng, được từ giã sự ồn ào của nhịp sống công nghiệp, để thưởng thức không khí trong lành, đầy hoang dã của núi rừng Tây nguyên.

          Đó là những ngọn thác mà tương lai, nước mắt những người con gái đẹp Êđê, Mnông trong những chuyện tình huyền thoại, sẽ như chất xúc tác, làm nên dòng điện thắp sáng bừng giữa rừng đại ngàn. Cho ấm lại nghĩa tình đoàn kết anh em,cho câu hát ei rei  đối đáp thêm rộn ràng , nhịp ching & điệu suang ngợi ca cuộc sống mới mỗi lúc một dài hơn , chào đón du khách đến với không khí trong lành của cao nguyên Ban Mê . Cho những trường ca-sử thi kể về cội nguồn Tây Nguyên vẫn lấp lánh sáng trong dòng chảy của văn hoá du lịch và sinh thái.

[...]
Xem tiếp

Chúc mừng Đinh Dậu

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-27-01

                                      

Gửi nhiều tình thương mến đến bạn đọc, bạn bè, những người vì yêu mến Tây Nguyên mà ghé qua " nhà" Linh Nga Niê kdam trong nhiều năm qua. Chúc một Đinh Dậu nhiều may mắn, thành công, đầy sáng tạo

[...]
Xem tiếp

HỌA TIẾT HOA VĂN THỔ CẨM TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI NGƯỜI BAHNAR, JRAI

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-11-01

Từ xưa đến nay, trên thế giới, trang phục đã tồn tại với chức năng xã hội rất quan trọng, bên cạnh chức năng bảo vệ cơ thể và làm đẹp của con người. Mỗi bộ trang phục là biểu tượng văn hóa của mỗi tộc người, mỗi quốc gia, thậm chí là của một tôn giáo nào đó… để nhận biết nền văn hóa khác nhau. Vì thế nhìn vào trang phục chúng ta có thể nhận biết đó là của quốc gia nào, tộc người nào, tôn giáo nào. Nói đến những nét văn hóa đặc sắc biểu hiện ẩn sau mỗi trang phục thì không thể không kể đến các loại hoa văn phong phú, đặc trưng cho mỗi dân tộc, vùng miền khác nhau. Đặc biệt với hoa văn của hai tộc người bản địa Bahnar, Jrai trên địa bàn tỉnh Gia Lai, đã là cả kho tàng để chúng ta tìm hiểu ý nghĩa và giải mã từng hoa văn trong đời sống người Bahnar, Jrai.

Môi trường sống của người Bahnar, Jrai có mối quan hệ mật thiết với thiên nhiên và chịu sự chi phối sâu sắc của môi trường tự nhiên. Thực tế này ít nhiều được phản ánh, ghi dấu ở hoa văn trang trí trên thổ cẩm của người Bahnar, Jrai mang vẻ đẹp giản dị, khỏe khoắn, nhưng không kém phần duyên dáng. Những họa tiết chạy song song theo chiều tấm vải, phản ánh nét văn hóa truyền thống trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và kỹ thuật dệt vải của người Bahnar, Jrai. 

Trước kia những họa tiết hoa văn của người Bahnar, Jrai rất đơn giản chủ yếu theo cấu trúc đường ziczac, dạng đường thẳng, đường cong, vòng cung, tam giác, đa giác, hình mắt cáo, răng cưa, mặt trời, mặt trăng...Sau này khi đời sống kinh tế phát triển cuộc sống ngày càng phong phú cũng với sự chăm chỉ, học hỏi, nghiên cứu của nghệ nhân dệt, đã thêu nhiều hình phức tạp hơn, phổ biến là các họa tiết đối xứng, cách điệu hình học, hình kỷ hà, sóng nước, hình người, muông thú và các vật dụng gần gũi, quen thuộc, gắn bó với cuộc sống sinh hoạt hằng ngày như cối, chày giã gạo, cây nêu, cầu thang nhà sàn, quả bầu ... Đặc biệt thể hiện rõ nét hoa văn trên trang phục với các họa tiết như người giã gạo, người múa suang, người gùi nước, người che dù, người khiêng nhà mồ, người cưỡi ngựa, người đánh chiêng…; các loại cây hoa rừng, bó lúa, hạt gạo, cây rừng, cây chuối, pơ lang… ; các con vật ; nhà rông, nhà mồ, nóc nhà dài, chòi lúa…và hiện nay rất nhiều nghệ nhân có thể dệt được những gì họ thấy và thích như chữ, tên người, máy bay, khẩu súng…Tất cả các họa tiết, hoa văn trên nền vải là hình ảnh thế giới sinh động tự nhiên được thể hiện theo lối cách điệu và tất cả những hình họa tiết từ đơn giản đến phức tạp đã được các nghệ nhân khéo léo chinh phục. Các hoa văn trên trang phục Bahnar, Jrai là một thế giới tự nhiên sinh động, phong phú …được biểu hiện dưới dạng hình học hóa, tạo nên một tác phẩm nghệ thuật độc lập.

Ngoài họa tiết hoa văn quen thuộc trong đời sống sinh hoạt hàng ngày trên trang phục, còn có những hoa văn mang đậm tín ngưỡng “Vạn vật hữu linh” của tộc người Bahanr, Jrai mang dấu ấn những vị thần có ảnh hưởng đến đời sống xã hội, những vị thần luôn hiện hữu trong đời sống của con người trong những hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ như Yang Kơtơp (thần chim cu – thần chim bồ câu). Người Bahnar kể rằng có một viên đá có hình con chim, khi đầu chim quay về hướng Đông Bắc và hướng Nam thì dân làng làm ăn được, nhưng khi chim quay đầu về hướng Tây thì làng sẽ gặp tai họa (có người đau hoặc chết). Vì thế , hình ảnh về thần chim cu xuất hiện rất nhiều trong trang phục của người Bahnar . Họa tiết này được hình tượng hóa thông qua những hạt cườm đeo cổ, hoặc được đính lên váy áo. Hình ảnh tín ngưỡng của người Jrai trong hoa văn biểu trưng cho lễ bỏ mả với nhà mồ, mái nhà mồ, cây nêu, người múa suang, đâm trâu…cũng được nghệ nhân đưa thành họa tiết cụ thể trên nên thổ cẩm.

 Qua nghiên cứu và tìm hiểu thì hoa văn mà người Bahnar, Jrai yêu thích nhất đó là họa tiết hình mặt trời, với dạng cách điệu sao tám cánh mà người Bahnar, Jrai cũng như các tộc người trên thế giới đều tôn sùng . Họ coi mặt trời như vị thần mang lại sự sống sinh hoạt đời thường cho con người, cũng như  cho mọi sinh vật trên trái đất. Yang trời là một trong những thần có tầm ảnh hưởng quan trọng nhất trong tín ngưỡng, thế nên hình mặt trời cách điệu sao tám cánh không thể thiếu được trong mọi vật dùng như gùi, ống đựng tên, ống đựng nước, trang trí nhà rông, nhà sàn, nhà dài, nhà mồ… đặc biệt là trên trang phục của tộc người Bahnar, Jrai.

Những họa tiết hoa văn của người phụ nữ Bahnar, Jrai với tín ngưỡng phồn thực cũng thể hiện rất rõ qua kiểu cách trang phục và lối trang trí hoa văn được chú ý và sắp xếp hoa văn ở cổ, tay, ngực, gấu áo (bụng). Nhưng điểm hoa văn mà họ chú ý nhất vẫn là ở phần gấu áo, vì đây là nơi hội tụ nét phồn thực của người phụ nữ nhiều nhất, bởi vùng bụng chính là nơi bao bọc thai nhi – sự sinh sôi nảy nở của con người. Hoa văn trên váy của phụ nữ Bahnar, Jrai cũng được chú ý rất nhiều ở phần lưng váy, phần mông và chân váy. Trong đó điểm nổi bật nhất chính là phần môn. Miếng vải đáp phía mông sau váy đươc trang trí rất nhiều hoa văn, đó cũng là chính là biểu hiện tín ngưỡng phồn thực nhằm nhấn mạnh và tôn lên vẻ đẹp ở nơi mà người phụ nữ thực hiện thiên chức sinh ra con người.

Trang phục của nam tuy không phong phú, đặc sắc như trang phục nữ, nhưng cũng thể hiện rõ tín ngưỡng phồn thực qua chiếc khố được trang trí hoa văn rất phong phú, cùng các tua chỉ màu sắc sặc sỡ ở hai đầu khố và thêu ở hai bên đuôi phía trước của khố, mà người Jrai gọi là Tơ ngan yang (vòi con voi); thường được tạo điểm nhấn, làm nổi bật khu vực mang tính phồn thực của người đàn ông. Song hiện nay, ngoài những  họa tiết các nghệ nhân dệt theo thói quen, mẹ truyền con nối, cũng như có năng khiếu và chăm chỉ, dệt theo những cảnh sinh hoạt đời thường và cảnh vật xung quanh chúng ta…thì có rất nhiều họa tiết mang ý nghĩa sâu sắc có tích chuyện, mà chỉ có một số già làng và nghệ nhân thật sự quan tâm đến lịch sử đời sống của tộc người mình, mới hiểu được đúng nghĩa của họa tiết đó.

Ông Nay Toan, 51 tuổi, ở Ia Siêm, Krông Pa chia sẻ “có những họa tiết mang biểu tượng xấu nghiêm cấm thêu, dệt trên trang phục, chăn, địu đó là biểu tượng cây, hoa, lá. Cành  Ana Kđa là một trong những biểu tượng xấu của người Jrai. Đó là một loại cây có hoa nhỏ, thân cây có gai thường tự mọc ở hàng rào, là loại cây sau khi chôn người chết xấu (tai nạn giao thông, bị cây đè chết, đâm nhau chết, rắn cắn…) sau khi đi chôn về người ta thường bẻ một nhánh về để trước cửa nhà báo hiệu mới đi đám chết của người chết xấu. Hoa văn này chỉ được sử dụng tạc trên cột Kut, k’lao, nhà mồ của người chết xấu. Nếu như ai đó dệt họa tiết này lên trang phục và tặng cho người khác thì bị coi rằng có ý đồ xấu xa…mong cho người đó chết xấu”…

Hoa văn mang ý nghĩa sự sống là một loại cây to, thân gỗ mềm, hoa nở có màu sắc trắng đỏ vào tháng 12, rụng vào tháng 3. Khi khô thành quả cứng chuyển sang màu đen và rơi đến đâu thì cây sinh sôi nảy mầm đến đó. Họa tiết này thường xuyên được các nghệ nhân thêu dệt trên áo váy của người phụ nữ, người Jrai gọi đó là cây Mơ nga Plum. Hoặc biểu tượng Kơ chép Brom (phần đuôi của mũi tên) biểu hiện cho sự mạnh mẽ của người đàn ông.

Chính sự phong phú, đa dạng của màu sắc, tài trang trí họa tiết trên trang phục đã tạo nên vẻ đẹp độc đáo cho thổ cẩm của người Bahnar, Jrai cũng như trang phục của họ không chỉ đơn thuần là những họa tiết trang trí cho đẹp mà biểu hiện sinh động trong đời sống xã hội, tính tín ngưỡng của dân tộc Bahnar, Jrai mang một sắc thái riêng biệt không giống với các tộc người khác ở Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung./.

Y Phương

[...]
Xem tiếp