Linh Nga Niê Kdăm
taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Sưu tầm Văn nghệ dân gian Tây Nguyên,đi từ không đến có

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-23-05

26/5 - 27/5 Đại hội Hội VNDG VN lần thứ VII sẽ diễn ra tại Hà Nội,  xin điểm danh 1 lần đội ngũ tại TN             

  Kho tàng văn nghệ dân gian các dân tộc ít người Tây Nguyên không chỉ đồ sộ mà còn vô cùng độc đáo. Đó  là những “ Bảo tàng sống ” về đời sống xã hội của một tập hợp phong phú các tộc người thuộc hai ngữ hệ chính tương đối đồng nhất là Malayo -Polynisieng & Môn Khơmer ; của tín ngưỡng “ Vạn vật hữu linh” – đa thần giáo ; của hệ thống các phong tục tập quán riêng biệt ; của những áng văn chương truyền miệng dài hơi mà các nghệ nhân hát kể “ suốt ngày dài đêm thâu”; của nhịp điệu ching chêng & vòng xoang quyến rũ những bàn chân trần, những đôi tay mềm nâu màu nắng; của những câu hát giao duyên ngọt ngào trong điệu sáo, tiếng ting ning những đêm trăng cao nguyên vời vợi....làm mê đắm không biết bao nhà sưu tầm nghiên cứu và các tác giả đi tìm cảm xúc thăng hoa cho tác phẩm của mình.

                                                                Văn hóa TN diệu kỳ luôn cuốn hút các nhà sưu tầm

Ngay từ những năm đầu tiên của thế kỷ XX , khi người Pháp đặt chân đến miền đất Tây Nguyên, bề dày & tính độc đáo của văn hoá dân gian Tây Nguyên đã cuốn hút các ông bà Tây mắt xanh mũi lõ.Không phải ngẫu nhiên mà một nhà văn hoá lớn như Comdominas nhiều năm sau, sang tận thế kỷ XXI còn nặng lòng khát vọng trở lại với vùng văn hoá anh em Mnông Gar ( Đăk lăk). Hoặc một Sabachie đã gần như lãng “ quên” cả vai trò công sứ, khi sưu tầm và dịch sang tiếng Pháp không chỉ Trường ca Dam San,mà còn cả bộ luật tục hàng trăm câu bằng vần của người Êđê.Hay Anne De Mautecloque ăn dầm nằm dề để hiểu và viết “ Người Êđê, một chế độ  mẫu quyền ” Hoặc một Đức Cha Jacques Dournes yêu đến chấp nhận từ bỏ tất cả, sống và chết với Tây Nguyên ....

Cũng từ những năm tháng ấy, bước chân các học giả, các nhà nghiên cứu các miền như Nguyễn Đổng Chi, Cửu Long Giang, Toan Ánh... đã lần lượt bước sau nối tiếp bước trước hành trình tìm đến Tây Nguyên , để có những “ Mọi Kon Tum” ( nay được xuất bản dưới tên gọi “ Người Bâhnar ở kon Tum) ,  “ Buôn làng cổ truyền xứ Thượng ” cho đến hôm nay vẫn còn là những tác phẩm khiến người đọc phải lưu tâm bởi tính xác thực của những tư liệu gốc.....Còn tại Hà Nội, khi đất nước đang bị tạm chia làm hai miền, những bản trường ca, sử thi bất hủ của Tây Nguyên ra mắt dưới dạng tác phẩm văn học( Dam San, Xing Nhã, Dam Phu...), những điệu múa, làn điệu dân ca độc đáo... đã được các nhà sưu tầm nghiên cứu giới thiệu với bạn yêu văn học nghệ thuật trong & ngoài nước.

Cho dẫu Hội Văn nghệ dân gian VN được thành lập ngay từ năm 1966, nhưng do sự cách trở của núi sông tạm chia cắt và bẵng đi một thời gian rất dài bận rộn với công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, VNDG dường như rơi vào quên lãng ; văn hoá truyền thống Tây Nguyên cũng cùng “ chịu chung số phận ” chẳng được ai ngó ngàng gì đến. Chỉ từ sau 1975, việc sưu tầm nghiên cứu văn hoá cổ truyền Tây nguyên mới được đặt thành trách nhiệm của nhiều ngành, nhiều người, và dần trở thành đích đến không thể thiếu của những người làm công tác nghiên cứu  khoa học văn hoá, văn nghệ dân gian.

Năm 1982, trước khi hoạt động của Hội VNDG được khôi phục lại,với sự quan tâm của chính quyền địa phương, ngành văn hoá các tỉnh Tây Nguyên , với sự giúp đỡ của Viện nghiên cứu VHNT thành phố Hồ Chí Minh ( do Giáo sư Tô Vũ làm Viện trưởng),  đã tổ chức các lớp KPVAC ( khai thác, phát huy văn hoá âm nhạc cổ truyền) tại Đăk Lăk, đặt những dấu ấn đầu tiên cho công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hoá - văn nghệ dân gian các dân tộc ít người Tây Nguyên, ngay tại địa phương.Lần đầu tiên bài học vỡ lòng của phương pháp sưu tầm có “ bài bản ” qua đo đạc, ghi âm,ghi hình, ghi chép...được các thày tỷ mỷ hướng dẫn, trò trân trọng tiếp thu, rồi vui như tết và ngạc nhiên đến sững sờ khi thực hành trên thực địa. ( Tôi vẫn nhớ rõ cảm giác sửng sốt của cả thày lẫn trò khi chứng kiến một người phụ nữ  Êđê ở xã Krông Jing - huyện M’DRăk, tỉnh Đăk lăk- ngắt những cọng rạ còn tươi lần lượt đưa cho 6 người phụ nữ để hình thành bộ kèn Đinh Tut, mà chiếc ống rạ đầu tiên có thanh âm đồng nhất với thanh mẫu nhạc sỹ Nguyễn Văn Hoa mang theo). Lớp học ngày ấy có cả anh chị em yêu thích công tác sưu tầm văn hoá của không chỉ Tây Nguyên, mà còn ở các tỉnh Bình Định , Phú Khánh, Quảng Ngãi...tham gia. Đó có thể được coi là những hạt giống đầu tiên của công tác sưu tầm văn nghệ dân gian, được nâng niu gieo xuống miền Trung & mảnh đất đỏ bazan  màu mỡ .

Đúng như tên gọi của đại hội II ( Đại hội HỒI SINH), từ ngày Hội VNDG hồi sinh, năm 1989, Tây Nguyên ngay lập tức trở thành một trong những địa chỉ được đặc biệt chú trọng của công tác sưu tầm, nghiên cứu. Hình ảnh các giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, Chu Thái Sơn, Ngô Đức Thịnh, Đỗ Hồng Kỳ, Phan Đăng Nhật... miệt mài, lặn lội ghi âm, chỉnh lý;  các Giáo sư Trần Quốc Vượng, Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Xuân Kính say sưa trên bục giảng ươm gieo không chỉ kiến thức mà còn cả sự tận tuỵ với nghề.... như những tấm gương trên con đường dài vạn dặm dẫn đến với văn hoá cổ truyền Tây Nguyên. 

Hạt giống các thày gieo xuống đất màu đã nên cây, mỗi ngày thêm xanh và ra hoa kết trái.Từ lúc phải mời các nhà khoa học Trung ương của các Viện văn hoá nghệ thuật, Nhạc Viện Hà Nội vào thực hiện các đề tài...cho đến lúc có được hai hội viên đầu tiên là Linh Nga Niê Kdam và Nguyễn Hữu Đức, Đăk Lăk, rồi Gia Lai, Kon Tum... dần thêm hàng chục anh chị em cán bộ trong ngành Văn hoá và Giáo dục khắp các tỉnh Tây Nguyên, tham gia hoạt động . Dù ban đầu mới chỉ dừng ở bước sưu tầm, nhưng các kết quả vẫn được Hội TW nâng niu, động viên. Số lượng những người vì mến yêu mà đến với công tác sưu tầm, phát huy văn hoá truyền thống Tây Nguyên cứ mỗi năm một đông dần lên, say mê với nghề hơn. Tuy vậy, “ vạn sự khởi đầu nan”. Những tháng năm ở thuở ban đầu ấy, đâu phải lãnh đạo địa phương nào cũng đã hiểu cho tầm quan trọng của công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hoá truyền thống, nhất là sự tập hợp của một số văn nghệ sỹ vào một tổ chức của một Hội nào đó ở TW xa lắc. Vậy nên Chi hội VNDG đầu tiên ở Tây Nguyên đã được thành lập ở Trường Cao đẳng sư phạm Đăk Lăk, vài năm sau mới được công nhận là thành viên của Hội VHNT địa phương.Tiếp đó là chi hội Kon Tum, rồi chi hội Gia Lai...lần lượt ra mắt.Chỉ riêng với tỉnh Lâm Đồng, dù cho cả hai vị chánh phó chủ tịch Hội là các giáo sư Tô Ngọc Thanh và Trần Quốc Vượng, cùng “ thủ lãnh vùng” Linh Nga Niê Kdam qua lại mấy lần, mãi đến đầu thế kỷ  XXI mới  thành lập chi hội được. Đội ngũ rải rác khắp Tây Nguyên vẫn đã có nơi chốn tập hợp lại để hỗ trợ nhau cho cùng một mục đích : bảo tồn văn hoá truyền thống.Đến những năm đầu thế kỷ XXI này, con số hội viên Hội TW đã là 40 người.

 Tôi luôn nhớ  về những người bạn đồng nghiệp, như thạc sỹ Tấn Vịnh : từ lúc chỉ là những bài viết kể lại một sự việc vừa tròn  một trang vở học trò, gửi đến chương trình văn nghệ của Đài PT-TH Đăk lăk, cho đến lúc là  tiến sỹ...vẫn thuỷ chung với kho tàng văn hoá dân gian các dân tộc Trường Sơn-Tây Nguyên. Hay nhà thơ Văn Công Hùng, từ chỗ chỉ tò mò kể lại một cách vô tư ( thậm chí còn hơi ác cảm) những tập tục, đã dần chuyển sang tình cảm yêu mến & trân trọng những giá trị nhân bản của văn hoá phong tục Tây Nguyên. Hoặc NSƯT Vũ Lân, nhà sưu tầm Trương Bi ( Đăk lăk) , cố nhạc sỹ Phạm Cao Đạt ( Kon Tum), cố nhạc sỹ Y Sơn Niê ( Đăk Lăk), nghệ sỹ nhiếp ảnh Trần Phong ( Gia Lai), K’Ra Zan Plin ( Lâm Đồng)  ... mê mải tháng năm với những cây đàn, điệu múa, mảng hoa văn cổ, những bức tượng nhà mồ... như người bới  tro tìm ngọc, đưa ra ánh sáng, cho di sản văn nghệ Tây Nguyên chói loà lên trong ánh nắng mặt trời rực rỡ của cao nguyên. Rồi những nghệ nhân già, những người đắm say “ giữ hồn của rừng” như nghệ nhân Điểu Kâu, các cụ Điểu Klứt, Điểu Glung ( Mnông), A Lựu, Gang ( Bânar) , Âe Wưu, Y Yơn ( Êđê) , mà không ít cụ đã bay về cõi ông bà xưa......Kể không hết được những người đã sát cánh  trên con đường góp phần gìn giữ tinh hoa của đời sống văn hoá truyền thống trên mảnh đất cao nguyên. Những tấm lòng ấy thật đáng trân trọng biết bao.Chỉ tiếc, ngoài các nghệ nhân, số anh chị em người dân tộc bản địa làm thực sự gắn bó, đam mê công tác sưu tầm nghiên cứu để gìn giữ và bảo lưu văn hoá truyền thống của chính mình vẫn còn quá ít

Với tấm lòng của những người đi trước , với sự động viên, hỗ trợ của BCH Hội VNDG, Hội VHNTDTTS Việt Nam đội ngũ những người làm công tác sưu tầm nghiên cứu văn nghệ dân gian Tây Nguyên đã đi từ không đến có, không chỉ được tập hợp lại, mà còn ngày một trưởng thành về nghề nghiệp, đủ sức đứng vững trên nhiệm vụ công tác và niềm say mê của chính mình, mà các giải thưởng hàng năm của Hội VNDG Việt nam, Hội VNDTTS Việt Nam trao cho Trương Bi, Tấn Vịnh, Linh Nga Niê Kdam...hay thế hệ tương lai từ những các Tiến sỹ Thu Nhung Mlô Dun Du, Tuyết Nhung Buôn Krông, các thạc sỹ  trẻ người dân tộc bản địa dấn thân vào con đường nghiên cứu văn hoá dân gian Tây Nguyên như  Lý Vân Linh Niê kdam, Y Chen Niê ( Ê đê) , Kpă Tố Nga ( Jrai), Y Tuyn Binh ( Mnông) , Phạm Văn Hoàng ( Sê Đăng)  ...là những minh chứng.

Mừng đội ngũ mỗi ngày mỗi đông, vui với những tác phẩm, những công trình nghiên cứu giới thiệu vẻ đẹp của văn nghệ dân gian Tây Nguyên ngày càng xuất hiện nhiều hơn trên văn đàn.Tiếc lắm những nghệ nhân – Báu Vật Dân Gian đã mang theo cả kho tri thức Tây Nguyên khổng lồ đi về cõi Mang Lung. Thương lắm tấm lòng những con người ngày đêm lặng lẽ gạn đục khơi trong , làm sống lại cả một nền văn minh nương rẫy Tây Nguyên , trong đó có không gian văn hoá cồng chiêng, đã được thế giới công nhận là “ Di sản văn hóa phi vật thể ” của nhân loại.                                                               

[...]
Xem tiếp

Mang mang ký ức tuổi thơ

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-19-05

Đầu tháng 5/2015.Tôi nhận được tin nhắn của các bạn ở VTV, báo ngày phát sóng chương trình phỏng vấn những kỷ niệm với Hồ Chủ tịch mà họ đã kỳ công vào tận Buôn Ma Thuột tìm kiếm thông tin. Tuy nhiên, bộ phim tài liệu phát hôm ấy khiến tôi xúc động đến ngỡ ngàng, lại không phải là đoạn trả lời các phóng viên VTV, mà là những hình ảnh tuổi thơ bên cạnh Bác Hồ xuất hiện liên tục trên màn hình. Khuôn mặt tròn hớn hở, mái tóc cắt ngắn viền ngang má. Lúc nào tôi cũng được ngồi sát bên cạnh, khi Bác vui cười, lúc Bác chia kẹo cho các cháu…Ôi, chuyện ngày xưa của tuổi ấu thơ…

                Tôi nhớ lắm,dẫu ngày đó chỉ mới 4,5 tuổi đời. Những hình ảnh ấy được nhà đạo diễn điện ảnh  người Pháp ( lớn lên mới biết tên ông là  Carmen ), đến quay tại nhà trẻ bé nhỏ nằm sâu giữa rừng già chiến khu, bên cạnh căn cứ kháng chiến của chính phủ, nhà trẻ mang tên Tân Tiến.

                Tân Tiến,  có lẽ là nhà trẻ đầu tiên của chính quyền cách mạng non trẻ, dành cho con em cán bộ, chiến sỹ . Chưa đầy 20 đứa bé lít nhít từ 3-5 tuổi có cha mẹ đang rong ruổi trên mọi nẻo đường vận động quần chúng, hay là bộ đội tham gia đánh trận nào đó ở phía Bắc, suốt ngày đêm bên các cô bảo mẫu. Mỗi bé một chiếc túi nhỏ, trong ấy  có vài bộ quần áo. Khi cần chỉ khoác lên vai là cùng các cô chú di chuyển được ngay ( nhưng rất may trong suốt thời gian ở trại, chúng tôi chưa bao giờ phải chạy giặc càn). Lớp học kề bên con suối cạn nho nhỏ, chiều chiều mùa hè, các cô đưa chúng tôi ra suối , thả cho bì bõm đùa giỡn, hụp lặn trong niềm vui tột cùng của con trẻ giữa dòng nước trong leo lẻo. Đêm mùa đông, một bếp lửa hồng với những gộc củi lớn ấm áp cháy rừng rực  giữa nhà. Lũ trẻ xúm xít bên các cô quanh bếp, với mùi khoai lùi hay sắn nướng thơm phức. Rồi sau đó chìm dần vào trong giấc ngủ, chắc vẫn còn những thổn thức cố nén trong giấc đêm nhớ hơi ấm thân thương của cha mẹ, nhưng vẫn yên lành giữa núi rừng, trong tiếng con mang nào buồn bã tác gọi .

                Nhà trẻ Tân Tiến, như đã nói ban đầu, nằm giữa ATK ( An toàn khu), thủ đô suối ngàn của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày ấy. Chỉ cần leo lên một đoạn dốc ngắn với vài chục bậc  đất, có thể đến ngôi nhà bé nhỏ của một cụ già có chòm râu đen phất phơ. Ở trên ấy, thế nào cũng có cho bọn lít nhít chúng tôi, chục trái vải rừng, vài chiếc kẹo ngọt, của cực hiếm thời bom đạn. Chiều chiều, thỉnh thoảng ông cụ xuống trại, cùng các cô bón cơm cho bé ít tuổi, chơi rồng rắn lên mây với đám lau nhau lớn hơn, lúc vỗ tay cho bọn trẻ hát “ Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng…”. Chúng tôi chẳng cần biết đó là ai, nhưng trái tim bé nhỏ của tôi tràn đầy mến luyến , giống hệt như với ông ngoại thân thương của tôi lúc ấy đang  ở đâu đó xa ngái giữa rừng Việt Bắc.

                Sau này về Hà Nội, tôi nhận ra ông cụ  trong lần đầu tiên đến văn phòng Quốc hội, nơi tổ chức đón giao thừa chung nhân dịp Tết độc lập đầu tiên  1955 , cho các cán bộ mới về tiếp quản. Ba tôi bảo đó là “Bác Hồ”. Lúc ấy tôi còn bé hơn đứa cháu đang học lớp hai bây giờ, đi học về thường bi bô tâm sự  “ cô giáo nói Bác Hồ mất rồi, ngoại” .Cụ nhận ra ba tôi và hỏi thăm tôi “ con gái Ê đê có học tiếng Ê đê không?”. Thế là ba cho tôi học tiếng dân tộc từ năm đang học lớp 3.

                 Nhiều bạn hay hỏi “ Con đường nào dẫn chị đến với công việc sưu tầm & nghiên cứu , rồi trở thành một chuyên gia của văn hóa Tây Nguyên như bây giờ ?”. Biết nói thế nào nhỉ? Trước tiên là bà con các dân tộc Tây Nguyên đã khai sáng tâm trí tôi, dạy tôi biết thế nào là vẻ đẹp nguyên sơ của một nền văn minh hoang dã của miền quê hương đất đỏ, giàu nắng, giàu gió và giàu cả những nét văn hóa đặc biệt chẳng giống ai. Để rồi yêu, rồi biết trân trọng những Di Sản mà ông bà mình để lại. Sau nữa là những người thày, các cố Giáo sư Trần Quốc Vượng, Tô Vũ, Tiến sỹ khoa học Tô Ngọc Thanh…dạy tôi không chỉ biết cách kiếm tìm, mà còn biết phân biệt, gọi tên  cái gì với cái gì cho đúng nghĩa.

                Nhưng trên hết, có lẽ khởi nguồn từ những ngày đã rất xa. Những ngày bắt đầu từ năm 1955 ấy. Mỗi một năm Tết Nguyên Đán về, trường Cán bộ dân tộc miền Nam tập kết ra bắc ở Gia Thượng, Gia Lâm, Hà Nội, nơi ba tôi làm Giám đốc, lại tưng bừng hội hè. Đứa con gái 6 tuổi vừa ở rừng Việt Bắc về, lẽo đẽo theo ba đến các Chi trong trường ( mỗi chi là một tỉnh, một dân tộc). Để làm quen được với rượu cần, chẳng biết cất bằng thứ men gì mà cha con tôi say ngất ngư, hay ăn những món cay xé lưỡi bởi đầy ớt hiểm . Thích thú, nhâm nhi xé từng mảnh thịt khô nướng thơm phưng phức trên lửa hồng. Nghe mẹ cằn nhằn “ sao để ba say tới người ta bỏ thịt trong túi veston mà không biết. Chuột cắn nát áo thì sao?” ( sau này thì tôi biết rồi nhá, chẳng phải ai chơi xấu ba đâu, mà đó là phong tục sẻ chia sau mỗi lễ hội, bất cứ tộc người nào ở Tây Nguyên cũng có. Không kiếm ra lạt để xâu thịt, thì cho vào túi áo là đúng rồi còn gì nữa). Nhiều nhất là xem văn nghệ, năm nào cũng diễn ra vài ba đêm như thế, mới hết tinh hoa của gần 20 dân tộc anh em cùng cư trú trên miền núi Trường Sơn – Tây Nguyên. À, tuy ít nhưng mà có cả các bạn Tày, Nùng, Hoa nữa chứ ( con của một số cán bộ người dân tộc phía Bắc đang về công tác ở Hà Nội, gửi tới trường học văn hóa).

                Tôi biết tới bài ka choi buồn mênh mang của người Hrê, câu arei  cùng điệu múa khil – đao rộn ràng trong dân ca Ê đê, bài hát “ Chim Jil đi tắm” Sê Đăng nhí nhảnh, hay “ Em bên suối” đầy lãng mạn của dân ca Bâhnar. Biết nắm tay ba, tay bạn bè ngượng ngập đôi chân bước lấp dấp theo vòng múa suang JRai náo nức cùng dàn ching arap. Cao hơn là kịch dukê với những nhân vật công chúa, khỉ Hanuman, chằn tinh…của người Khơmer, sau này là bên nội thân thiết của các con tôi…. Năm này qua năm khác, những thứ đó ngấm vào tâm hồn tôi.

                Chưa hết. Những năm đầu của thập kỷ 60, thế kỷ XX, văn hóa dân gian độc đáo của Tây Nguyên, được đâu đó quan tâm đến. Các nhà sưu tầm văn học tìm tới ghi chép những áng văn vần của trường ca Đam San, Xing Nhã. Các nghệ sỹ - giảng viên múa kiên nhẫn ngồi bên nghệ nhân ghi lại từng động tác dân gian để sau này hình thành hệ thống cơ bản múa Tây Nguyên giảng dạy trong trường múa….Là đứa hay tò mò, tôi thường theo sát các cô chú, anh chị nhìn ngó, lắng nghe….Đấy, cứ thế ! văn hóa dân gian truyền thống Tây Nguyên ở trong tôi từ lúc nào, sao biết?

                Có điều, sau này lớn hơn, nhất là khi lăn vào nghề tôi mới rõ : những năm đầu mới tập kết ấy, Ban Giám đốc nhà trường đã làm theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch “ hàng năm, cho bà con tổ chức tết cổ truyền để vơi bớt đi nỗi nhớ quê hương”.( Việc này chỉ đến khi phát động “ chống mê tín dị đoan”, mọi lễ hội truyền thống mới bị dẹp bỏ. Vì ai cũng sợ làm sai ). Nếu không có những tháng ngày đẹp đẽ tắm trong không gian văn hóa cổ truyền với nhịp điệu ching chêng náo nức ngay giữa lòng thủ đô Hà Nội  ấy, làm sao có một tôi với nghiệp “ văn hóa dân gian Tây Nguyên”  hôm nay?

                Còn nữa, sau ngày chuyển về trường dân tộc tại Mễ Trì ( Hà Nội) năm 1960, dường như năm nào Bác cùng đến thăm trường. Với lợi thế con Giám đốc, lại còn nhỏ tuổi, trong khi cả trường tập trung lên hội trường chờ đón, tôi lẽo đẽo theo ba đưa Cụ đi khắp nơi. Lên ký túc, nhắc bảo mẫu các cháu có đái dầm thì phải giặt chiếu.Xuống bếp mở lồng bàn xem mâm cơm, nói chị nuôi đừng nấu cơm nhiều cháy, lãng phí. Ghé lò bánh mì ( hồi đó chỉ trường tôi có thôi nhé), dặn đừng lãng phí bột. Tới hội trường, chào hỏi xong, câu đầu tiên bao giờ Bác cũng hỏi mọi người là “ các cháu ăn có no không?”….

                Những câu chuyện lan man, có lẽ là rất nhỏ nữa,  để dẫn tới điều tôi muốn nói với mọi người rằng “ tấm lòng Bác Hồ với người Tây Nguyên thật mênh mông”. Nếu không hiểu và thương quý dân, sao cho phép người dân xa quê làm những việc gợi sự nhớ nhung về bến nước núi rừng như thế. Thậm chí có năm, nhà bếp mang lên cho gia đình tôi một xoong cháo đón giao thừa. Ấy là con nai ở đâu đó biếu, Bác Hồ gửi tặng lại trường, ba tôi bảo bếp ăn nấu mấy nồi cháo to, chia cho mọi người, ai cũng được hưởng tình thương của Book Hồ. Rồi ba tôi, một trong số ít ỏi những người đại diện cho Tây Nguyên, đâu có được “ ở” với Quốc hội tới 9 khóa, nghĩa 45 năm như thế ?  Và có lẽ cuộc đời lẻ bóng khiến bác yêu thương trẻ em hết lòng ?

                Tôi vẫn thường nghĩ, ba tôi, một trí thức Ê đê đến với cách mạng từ khi  mới 24 tuổi, cho tận đến lúc đi về “ bến nước ông bà” – theo cách nói của người Tây Nguyên – lúc 79 mùa rẫy, nghĩa là suốt một đời, chỉ tận tụy vì mối đoàn kết các dân tộc, vì đồng bào dân tộc, vì sự nghiệp giáo dục dân tộc, ấy cũng chính vì ông tiếp nhận ngay từ thuở ban đầu, khi mái tóc còn xanh mướt, ngay trong kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa I - 1946, tấm lòng và tình cảm của Bác Hồ đối với đồng bào các dân tộc thiểu số cả nước. Tôi chỉ học theo Bác và Ba, con đường gìn giữ văn hóa dân tộc, không để cho “ mất văn hóa là mất tất cả”, như lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã dặn. Hạnh phúc nhỏ nhoi ấy theo tôi suốt đời !

[...]
Xem tiếp

Về với Sóc Trăng

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-07-05

Có một bài hát về quê hương Sóc Trăng mà ông xã tôi rất thích, không phải chỉ vì là  “ địa phương ca ”, mà bởi giai điệu mang âm hưởng dân gian Nam Bộ ( phần nhạc đệm có cài thêm cả làn điệu dân ca Khơmer), tiết tấu rộn ràng, lời nghe cũng dễ thương. Có một đoạn rằng “ Về thăm người bạn Khơmer nghe hát dù kê và điệu múa lăm thôn. Sóc sơ bai ơ bong, tâu na ơ bong ơi… Dù đi bốn biển năm châu, xa quê rồi mới hiểu lòng đau ”. Đi trên xe đò hãng Phương Trang về Sóc Trăng trên con đường cao tốc láng o, hay đêm văn nghệ lồng lộng gió sau đó cạnh nhà tại sân Ủy ban Quận Tân Phú thành phố Hồ Chí Minh, cũng nghe được bài hát này.Khiến tâm trạng một người làm nhạc như tôi cũng thấy hưng phấn.

                                                         Tượng đài đoàn kết 

Không kể festival Lúa Gạo thì qua 5 Tết rồi, năm nay tôi mới trở lại Sóc Trăng đúng mùa Cho thnăm thmay.Thành phố như lộng lẫy hơn trong tết cổ truyền của người Khơ mer. Cô cháu gái, Trưởng một phòng của Sở Văn hóa, chở mợ vòng quanh phố phường, khoe sự đổi thay của quê hương. Ngay đầu cửa ngõ vô thành phố là tượng đài ba cô gái Kinh, Hoa, Khơmer cao vút lên trên bầu trời xanh biếc. Rất may là không hoành tráng cho tốn kém ngân sách như nhiều tượng đài ở các địa phương khác, mà vẫn biểu hiện được sức sống và tình đoàn kết các dân tộc của một miền quê Nam Bộ. Ghé công viên hồ Nước Ngọt , sạch đẹp, cây xanh, hồ nước khiến không khí mát rượi ( lần dự festival Lúa Gạo tôi đã chụp hình đám cá vàng dày đặc tung tăng lượn dưới hồ). Rất thích hợp cho một chốn thư giãn tại một vùng không có mùa đông như Nam Bộ. Chỉ tiếc các hàng quán xé lẻ chiếm hết không gian khiến không còn bất cứ một  chỗ rộng nào, ngoài các con đường lượn quanh, có thể dành cho người già tập dưỡng sinh, thanh thiếu niên vui chơi tập thể ngày nghỉ cuối tuần ( như ở các vườn hoa tại thành phố Hồ Chí Minh). Âu cũng là tình trạng chung ở mọi địa phương(?) . Chẳng  thế mà Sóc Trăng  thiếu hẳn một sân vận động tương xứng ( mỗi khi có tổ chức  thể thao gì huy động đông đảo người, là phải đưa về huyện Châu Thành). Dạo một vòng quanh bảo tàng ( bởi lần về trước đóng cửa ), cùng với Bảo tàng Khơmer Sma Cum du khách có thể nhẩn nha thả bước quanh quanh hai tầng lầu để tìm hiểu đầy đủ mọi điều về lịch sử và văn hóa đặc trưng của một miền quê . Chỉ hơi tiếc sân rộng mà thiếu bóng mát, thứ cần thiết nhất cho con người cảm giác được chở che, thân thiện. Cái nóng từ mặt beton phả lên dễ khiến người ta muốn mau thoát ra. Với lại …không biết mấy chiếc xe tăng được trưng bày ở sân, có lịch sử  gì trong ngày giải phóng Sóc Trăng không nhỉ? Xe tăng vô được tới Tây Nam Bộ  quả là kỳ công.

 Xe vòng qua quảng trường trước trụ sở Vinaphone thênh thênh rộng, đêm đêm ánh đèn cao áp sáng rực, đông chật người dạo mát, nhâm nhi giải khát sau một ngày nóng đến 36 độ. Con đường Trần Hưng Đạo có thể được coi như phố Wall của Sóc Trăng, bởi là nơi tập trung tới hàng chục trụ sở các ngân hàng, mới sáng sớm đã nhộn nhịp người xe. Phố chợ cạnh nhà , không thiếu một chủng loại hàng hóa gì, lần về trước còn phải rón rén bước qua những vũng nước, nay thảm beton láng o; chỗ ngồi gọn gàng sạch sẽ, râm ran tiếng chào mời ghé thưởng thức tô bún nước lèo “ đặc sản” …

Cái mới của  tết cổ truyền năm nay là 92 ngôi chùa  Khơmer trong toàn tỉnh đều đã được xây cất khang trang, to đẹp. Nơi nào cũng rộn ràng, rực rỡ sắc màu cờ hoa đón  Tết ,cho dẫu “ vụ” hành tím đang làm lao đao người dân Vĩnh Châu. Cũng bớt hẳn những hàng quán xâm lấn mọi cửa chùa.  Đó là sự nỗ lực của chính quyền thành phố và ngành văn hóa. Phải như thế chứ, không vui , không tự hào sao được khi Sóc Trăng có tới hai đặc trưng văn hóa Khơmer được công nhận là Di Sản văn hóa Quốc gia : Tết Cho thnăm thmay và Hội đua ghe Ngo. Thế nên chùa Peng Sâm Rưc ở ấp Giồng Chùa nhà chồng tôi, chỉ là một ngôi chùa nhỏ trong xã An Hiệp ( Mỹ Tú), quang cảnh và không khí khác hẳn những tết trước. Cũng giống như chánh điện mọi chùa, lộng lẫy với những cây cột đầy hoa văn và những bức tranh tường, tranh vòm rực rỡ  màu đỏ vàng ( đặc trưng nghệ thuật tạo hình Khơmer) với những câu chuyện  về con đường tu hành của Đức Phật. Năm nay,thay vì xử dụng băng, Đại đức cho sắm hẳn một dàn nhạc ngũ âm ( Theo cô cháu thì gần như chùa nào đến nay cũng có dàn ngũ âm ). Tiếng nhạc lanh canh rộn ràng làm không gian trong chùa sôi động hẳn lên. Lũ trẻ tíu tít bu quanh các nhạc công, háo hức chờ lúc ngừng nghỉ để ngồi vô, thử cầm lấy những chiếc dùi, gõ lên đàn. Cứ vậy đi, nay mai sẽ có những thế hệ nhạc công trẻ, mới, thay thế các bậc cao niên. Bên cạnh nơi dành cúng dường cho lễ tắm Phật, sư trụ trì chùa Peng Sâm Rực còn cho dựng lều, đắp núi cát mô phỏng  câu chuyện cổ  răn dạy những người con hư quay về tạ tội cùng cha mẹ. Sư Phi Long dẫn tôi qua bảy vòng mê cung cắm 100 cây nứa tượng trưng cho ngàn ngọn núi con phải vượt qua.  Thắp nén nhang thơm trong tiếng tụng kinh chúc phúc của các sư , cảm thấy như tâm trí nhẹ nhõm hơn vì đã được tạ lỗi cùng các đấng sinh thành. Một điều thú vị mới mẻ nữa là nơi bức tường nhà dâng cơm cho sư, còn có tấm biển của Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tỉnh , về điểm “ Mô hình khai thác thông tin Internet phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương tại chùa Peng Sâm Rưc ” . Nghĩa là ai cần, đều có thể đến chùa tìm thông tin trên mạng. Kỹ thuật số hiện diện cả ở nơi cửa chùa cổ kính rồi đấy !

                                                                     Kỹ thuật số về chùa 

Ấp Giồng Chùa nhà chồng tôi mấy năm nay được mùa lúa, đường điện lưới quốc gia chỉ mới về năm 2013, nhưng gia đình nào cũng đã xây nhà gạch, mua sắm vật dụng đắt tiền…điều mà 5 năm trước chưa từng thấy. Vật chất đủ đầy, con người sẽ thêm hướng thiện, vậy nên sáng mùng một Tết, già trẻ, trai gái kéo nhau lên chùa tất ( 5 năm trước mấy đứa cháu chỉ chở vợ con dạo quanh rồi về) . Xong lễ dâng cơm, đợi các sư dùng bữa rồi cả họ cùng quây quần trong bữa cơm đầm ấm . Rồi lại lũ lượt kéo nhau ra chầu chực chờ lễ tắm Phật, một trong những nghi lễ không thể thiếu trong ngày Tết của phái Nam Tông. Những gương mặt thành kính của người lớn, sự háo hức của con trẻ xúm xít đợi  các sư rảy nước thơm chúc phúc, rửa sạch những lo toan vất vả của một năm cũ; rồi chen nhau nhưng không hề xô đẩy, mang ấm nước thơm của gia đình xối lên những bức tượng Phật cầu may. Tôi cũng mượn ấm nước của cháu để cầu cho dòng họ, gia đình mình năm nay mọi việc làm ăn được xuôi chèo mát mái.

                                                                   Núi cát & ngàn núi tạ lỗi cùng cha mẹ

 Dường như là mắc bệnh nghề nghiệp, đến bất cứ một địa phương nào, tôi cũng chằm chằm tìm cho tới những địa chỉ , tham gia cho được một nét văn hóa đặc trưng gì để chiêm ngưỡng, nhặt cho đầy thêm trí thức dân gian vào tâm thế. Với Sóc Trăng, đây là lần thứ hai tôi được dự lễ trao bình bát và phong sa di cho sư trẻ, cũng như lễ dâng cơm cho sư trong ngày băng skon – cầu siêu. Nhưng lễ tắm Phật thì mới có một năm Tết Bun Pi May đang ở Viên Chăn, được dự  với các bạn Lào, chứ ở Nam bộ là lần đầu tiên. Cùng với lễ  băng skon cho cộng đồng dưới gốc cây bồ đề cổ thụ, nơi nền tháp cổ. Hàng chục năm qua, chị năm và ông xã cũng đã dắt tôi đi chừng hơn 10 ngôi chùa Khơmer. Ngoài ba nơi đặc biệt : Chùa Dơi – Wot Ma Ha Tuk , chùa chén kiểu ( được dát hoàn toàn bằng những mảnh chén hoa ) và chùa đất sét( với hàng trăm bức tượng nặn từ đất), thì còn vài ngôi chùa trong đó có chùa Sơ Mộn chồng tôi đã từng tập tu hồi nhỏ ( Hỏi sao  cách nhà xa thế, anh bảo “ để không dễ bỏ chùa trốn về”). Tuy mỗi chùa một kiểu cách, nhưng đều khiến phải ngưỡng mộ bởi kiến trúc độc đáo.

                                                                 Mê say xem duke

Nếu những tết trước không có, thì năm nay, nghe thông tin từ tài xế taxi, sau đó được Phó Giám đốc Sở Văn hóa kiểm chứng lại, rằng tại chùa Khleng ( một trong những ngôi chùa bề thế nhất giữa trung tâm thành phố, nơi còn là trường dạy kinh phật và chữ pali ) , tối nào cũng có diễn duke, dẫu là của các đội nghệ thuật tư nhân, mấy chị em tôi hăm hở lội bộ đi coi.

Dài dòng một chút về cái chuyện Dukê này. Vì phải đến 39 năm rồi, kể từ 1976, lần đầu tiên tôi đem con về quê nội, mấy cậu cháu bên chồng đưa lên chùa Peng Sâm Rưc xem,  tôi mới được coi lại loại hình nghệ thuật được biết tới và rất thích từ hồi còn nhỏ xiu xíu tại Hà Nội . Hồi đó chính chị chồng tham gia đóng vai công chúa, nghệ sỹ Thạch SRay Manh, bạn vong niên của vợ chồng tôi đóng vai khỉ Hanuman. Nghe chẳng hiểu gì nhưng vẻ đẹp của giai điệu và lối diễn cũng như trang phục thì vô cùng thán phục. Năm 2009, tại Liên hoan Cồng chiêng quốc tế lần thứ nhất ở Plei Ku, đoàn nghệ thuật Sóc Trăng cũng diễn trích đoạn Dukê, nhưng chỉ có một màn múa ngắn mà không có hát.Chị năm chắc đang bồi hồi nhớ thuở nào ca hát.  Còn tôi, chỉ ngắm rất đông bà con say sưa, im lặng ngồi xem từ đầu buổi thế đã là thích lắm rồi.Bởi điều này khác hẳn không khí  ở những sân khấu ca hát quần chúng cạnh đó với những tiết điệu hừng hực cha cha cha, bolero hay khởi vòng điệu múa lăm thôn, đều bằng tiếng Khơmer, lôi cuốn mọi lứa tuổi ưa náo động

Vô chùa, 5 năm trước tôi đã từng tần ngần trước những ngôi tháp lộng lẫy chứa di cốt của các gia đình, thì năm nay hiện tượng này trở nên rất phổ biến. Dòng họ anh rể chồng tôi cũng xây một tòa tháp riêng khang trang tương tự. Có lẽ điều này khởi thảo từ ngôi tháp chứa di cốt rất bề thế của một nhân vật lão thành cách mạng tại chùa Khleng chăng? Giá mà…nhưng thôi, đó là chuyện tâm linh của mọi người. Còn tôi, mỗi lần về quê nội các cháu, thêm thân thương, luyến nhớ với những kỷ niệm lưu giữ rất lâu trong ký ức. Tất nhiên rồi “ Quê hương nếu ai không nhớ sẽ không lớn nổi thành người” m

[...]
Xem tiếp