Linh Nga Niê Kdăm
taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Luôn là mình em nhé

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-14-10

Tôi gặp Ploong Thiết lần đầu ở vòng chung kết cuộc thi Tiếng hát truyền hình tổ chức tại Quảng Ninh năm 2003. ( Chính từ lần ấy, Ban Giám khảo chúng tôi đã thuyết phục được Đài truyền hình Việt Nam, để từ lần sau, không chỉ mang tên Sao Mai, mà còn chia làm ba phong cách âm nhạc Thính phòng, dân ca, nhạc nhẹ, định hình cho đến bây giờ ).

Ploong Thiết đang theo học trung cấp thanh nhạc tại trường VHNT Quân đội Hà Nội ( lúc ấy trường mới chỉ có bậc cao đẳng) . Nhìn em gày gò, mảnh khảnh , tưởng chừng như việc học âm nhạc là gánh nặng quá sức chàng trai Paco quê ở cái thị trấn A Lưới xa xôi, chỉ được biết đến thời chống Mỹ cứu nước với bài hát nổi tiếng “ Cô gái Paco đi tải đạn” ( của nhạc sỹ Huy Thục). Người Pa Co ở quê và gia đình Thiết đều nghèo lắm, miếng cơm chưa đủ ngày hai bữa, áo mặc chưa đủ ấm những ngày đông ẩm ướt xứ Huế. Nhờ tham gia ca hát ở trường dân tộc nội trú mà Thiết có được cơ may tuyển đi học tại trường VHNT Quân đội, để cho trang sách cuộc đời của em lật sang một trang mới .

Quy định của Ban tổ chức là tuy ở cùng một khách sạn, nhưng giám khảo không được tiếp xúc với thí sinh. Nghe Thiết tập hát, muốn góp ý với em quá, tôi đành nhắn nhỏ để em tới phòng vào buổi tối. Và rồi giọng nam cao còn thô mộc, nhưng sáng khỏe của Ploong Thiết đã chinh phục được BGK ( có lẽ cũng thêm phần nhờ chiếc ching mà tôi bảo em tự đệm thêm cho bài hát dân ca Paco của mình?) để giành giải ba, cùng với Ngọc Khuê, Khánh Linh… .Đấy là lần đầu tiên – cũng có lẽ là lần duy nhất) có một thí sinh dám tự tin mang đến cuộc thi hát cấp quốc gia một bài dân ca nguyên gốc của tộc người mình như thế.

Nhưng đó vẫn chưa phải là lần giọng hát Ploong Thiết gây cảm xúc mạnh với tôi. Trong một “ cuộc chơi” xuyên Việt của hãng oto Honda với  các văn nghệ sỹ cả nước, có Ploong Thiết tham gia. Đêm giao lưu ở khu du lịch Thác bảy nhánh ( Buôn Đôn, Đăk lak), giữa núi rừng mênh mông, tiếng suối chảy ầm ào và đống lửa rừng rực phun những tàn bụi than đỏ li ti vào đêm đen cao nguyên huyền bí, tiếng ơ ơ cao vút Thiết bất chợt cất lên cùng với âm vang sâu thẳm của chiếc ching núm, đã khiến không chỉ mọi người mà cả chính tôi, bị xúc động mãnh liệt ( nổi hết cả gai ốc). Còn em , đắm đuối trong chính cảm xúc từ tâm hồn mình được trở về tắm mình giữa không gian đại ngàn quen thuộc, đã hát như người bị “ nhập đồng”. Trong tiếng hát ấy có cả nỗi thảng thốt bị dồn nén, có cả niềm kiêu hãnh hoang dại về những gì mình có, lẫn niềm đắm say được cất tiếng hát giữa núi rừng của một người thiểu số ( Nhạc sỹ Y Phôn đã chẳng nói rất chính xác “ hát giữa mọi người không ngại ngần” đó sao?) . Có lẽ không mấy ai hiểu hết lời bài dân ca Paco nói gì, nhưng sự rung động từ chất giọng và tình cảm của chàng trai đến tâm hồn và trái tim mọi người thì rất rõ. Có sao đâu “ khi nào tiếng nói con người bất lực, thì hãy lặng im để cho âm nhạc lên tiếng” là thế mà.

Và với thành tích ấy, người con trai Paco ngày càng vững bước trên con đường đến với ca hát. Tốt nghiệp đại học, anh được giữ lại làm diễn viên Nhà hát Quân đội Hà Nội. Tiếng hát theo bước chân những người lính đến mọi nẻo đường, trên núi rừng Tây bắc, Việt bắc, Tây Nguyên hùng vĩ, ngoài biển đảo quanh năm nắng chói chang và lồng lộng gió, ở đồng bằng mênh mông lúa hay về chính quê hương A Lưới xa xôi thân thương của mình, Thiết vẫn giữ nguyên được giọng nam cao đầy truyền cảm. Kỹ thuật thanh nhạc tiếp thu được trong suốt 8 năm luyện giọng nơi giảng đường, không làm mất đi bản tính nồng nàn vốn có của nghệ thuật dân gian Tây Nguyên. Hãy luôn là mình em nhé.

 

[...]
Xem tiếp

Không biết hay không làm ?

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-04-10

Lần đầu tiên tui thấy có một cuộc hội thảo về Du lịch của thành phố Buôn Ma Thuột ( ngày 30/9/014 ) mà tập hợp đông đảo đến như vậy nha. Ngoài các ban ngành trong & ngoài tỉnh, trong huyện có liên quan tới du lịch, còn có sự hiện diện năng động, đẹp trai của hai CLB doanh nhân rất trẻ ( Chi hội Hoa Kỳ & Chi hội thành phố Hồ Chí Minh) . Thú vị hơn là một số doanh nhân thành đạt ở hai CLB này lại gốc người Buôn Ma Thuột & Đăk Lăk. Dưới sự điều hành của nguyên Chủ tịch tỉnh Tiến sỹ Nguyễn Văn Lạng, nên không khí cực kỳ sôi nổi, thẳng thắn.

                                                                 TS Nguyễn Văn Lạng đề dẫn HT

Có những điều rất mới mẻ được những người tâm huyết với sự phát triển của  BMT  đề cập tới, ví dụ như thương hiệu của thành phố không phải là “ thủ phủ cà phê”  hay một  “ Thiên đường cà phê” như ai đó từng ảo tưởng ( bởi thế giới mấy ai biết đến cà phê BMT, nhất là cà phê Trung Nguyên? Họ chỉ biết cà phê Thổ Nhĩ Kỳ, Brazin, cả Etopia thôi chứ? Thậm chí cả đến chiến thắng lịch sử 1975 cũng chẳng ai cần biết, ngoài lịch sử chiến tranh ). Vậy nên phải chăng cần xây dựng lại bằng thương hiệu “ Thủ phủ Tây Nguyên”? Hoặc giao thông đường bộ với du lịch  là quan trọng , chứ không phải Hàng không. Vì mấy ai bỏ tiền đi máy bay đến một vùng du lịch chẳng có gì lạ & hấp dẫn?Hơn nữa, bay tới BMT rồi, cả tỉnh chỉ có 5 chiếc xe lớn vận chuyển khách? Sao đủ?  Hay, hơn nữa là làm du lịch thì cộng đồng phải được hưởng 70%, đơn vị chỉ được hưởng 30% thôi….Toàn những lối nghĩ lạ mà xưa nay chưa từng thấy ai đề cập đến.

                                                        Ký thỏa thuận hợp tác với CLB Doanh nhân chi hội Hoa Kỳ

        BTC “ đặt hàng” mình về phát triển du lịch văn hóa dân tộc, nên mới có dịp ngoái lại. Lâu nay cứ tưởng “ họ” chú trọng tới việc xây dựng sản phẩm du lịch từ văn hóa bản địa, hóa ra không phải đâu nhé. Đăk lăk còn nhiều tiềm năng chưa được khai phá, ngoài diễn xướng nghệ thuật ra, thì đặc trưng của “ Không gian văn hóa cồng chiêng” như Làng gốm ( Lăk), mộ thày giáo Y Jut, người soạn bộ chữ Êđê ( BMT ), làng dệt chiếu của tộc người Bih ( Krông Na)…hay  ngôi mộ của Aê Thuột, cha vợ tù trưởng  thành phố mang tên ( buôn Kó Siêr) ,mộ & Bảo tàng Ê đê mini tại nhà cố NSND Y Moan, hoặc leo núi khám phá thiên nhiên hoang dã trên đỉnh Cư Yang Sin (Cao nhất Tây Nguyên), đỉnh Nâm Ka ( khu bảo tồn thiên nhiên), núi Cư H’Lâm, Cư M’Gar ( miệng núi lửa). Thậm chí cả khai thác VH các dân tộc phía Bắc cộng cư ….đều chưa được lập hồ sơ đưa vào các tuyến lữ hành. Trong khi các sản phẩm du lịch đã có khắp Tây Nguyên, BMT đều đơn điệu, na ná nhau, khách có hứng chí mà ngủ lại đêm sẽ chẳng biết xem gì, nghe gì; ngày không biết chơi chi, mua chi…Đó là còn chưa kể hàng trăm công trình thủy điện lớn nhỏ, không chỉ tước đi sinh kế của đông đảo đồng bào các dân tộc, mà còn phá hoại đến khủng khiếp cảnh quan du lịch núi rừng ( Buôn Đôn, Krông Ma…).

        Có những điều ngạc nhiên vô cùng nhá, như : việc khôi phục,tôn tạo nhà dài Ama Rin ở Buôn Kó Dhông quá khó đối với tỉnh, với thành phố chăng ? Để nay gia đình vì sinh kế, phải phá ngôi nhà cổ 59 tuổi, xây nhà khác ?  Liệu có giá trị hơn ? Hay vì sao họ quyên góp, bỏ tiền tôn tạo được Đình Lạc Giao của người Việt đầu tiên lập làng, Biệt Điện của ông vua cuối cùng thời phong kiến Việt Nam; nhưng lại không chú ý tới di tích nhà dài Ama Thuột, mộ của Aê Thuột  chủ nhân chính thức mà thành phố mang tên ? Cũng lạ nữa nha, lúc nào cũng khoe chiến thắng 1975 tại BMT,  một địa danh nổi tiếng về lịch sử chiến tranh cách mạng, văn hoá & thương mại , lại không thể có được một khu bảo tồn nguồn gốc? Bên cạnh đó , không điểm du lịch nào có bán các sản phẩm văn hoá như : sách văn hoá dân gian bản địa ? CD,DVD các ca khúc về Tây Nguyên?  của Y Moan? sản phẩm mỹ nghệ mây tre đan, thổ cẩm, chạm khắc gỗ… rất tài hoa , lấy từ ngay các buôn, bon cận kề ? Bao nhiêu câu hỏi tại sao muốn gửi tới các vị chủ nhân mới của những khu du lịch sinh thái, mà thực chất đã từng là đất đai theo luật tục của bà con người bản xứ. ( Ấy thế mà có vị đã từng đề xuất với lãnh đạo tỉnh di dời dân ra khỏi địa bàn của họ nữa đấy nhé).

                                                          Ký thỏa thuận hợp tác với CLB Doanh nhân trẻ HCM

Có thể không nhỉ, việc tổ chức một số nhà sàn trong buôn,bon, có CTV tại chỗ phiên dịch thăm hỏi, trò chuyện, thậm chí ngủ đêm, ăn sáng,làm cỏ, hái cà phê với dân theo kiểu du lịch cộng đồng ( Homestay) như Sơn La, Điện Biên, Nam Bộ ….? Muốn làm được vậy phải bàn bạc, hướng dẫn người dân xây dựng  công trình vệ sinh đủ tiêu chuẩn, tạo ý thức  môi trường cảnh quan sạch đẹp, trong lành cho du khách chứ. Hoặc thử cho người dân thu phí vào buôn Jun ( Lăk) , buôn Kó Dhông ( BMT), buôn N’DRêch ( Buôn Đôn), buôn Mliêng ( Lăk) ….như Hội An, hay Miến Điện làm với rừng Tháp cổ xem, có làm tăng ý thức & thu nhập để tôn tạo, gìn giữ không ? nữa này : Các tuor kết hợp  tham quan trưng bày, sản xuất  gốm cổ Mnông ( Lăk ) chiếu Bih ( Krông Na), sản xuất cà phê (TN). Hya chí ít cũng chuyển mộ thày Y Jút về Cư Kuin tôn tạo , thành một điểm đến tâm linh đặc biệt, còn hơn để hoang lạnh như hiện trạng thế chứ ?

Mình đã từng dự  Đêm Ẩm thực - nghệ thuật dân gian của 16 dân tộc thiểu số,ở tỉnh Vân Nam ( Trung Quốc); xem Múa Apsara ở các nhà hàng tại Siêm Riệp ( Cam Pu chia), múa hát dân gian ở Kualalampơ ( Manila), Ba Li ( In donesia). Ngay tại núi Lang Bian ( Đà Lạt) cũng rất đậm chất văn hóa K’Ho, Lach . Rồi cũng đã từng xây dựng cho Da Ru Co hai chương trình ca múa nhạc hoàn toàn nguyên bản dân gian 5 tộc người Tây Nguyên, do nam nữ các buôn xung quanh biểu diễn khi khách thưởng thức ẩm thực …

Mỗi địa bàn  có một thế mạnh riêng mà sao chẳng ai khai thác, tận dụng làm “ của riêng” , mà cứ bắt chước nhau nhỉ? Ví như Lăk, có văn hóa Mnông; Buôn Đôn kết hợp của cả Ê đê, Jrai lẫn Mnông, Tày, Voi cũng cần có thêm những nội dung khác sinh động hơn; thành phố BMT thuần Ê đê, Gia Lai, Kon Tum với ching chêng Bâhnar, Jrai, Sê đăng & múa suang độc đáo ; Đăk Nông  có nghệ thuật tấu ching & múa Mnông rất riêng. Các địa chỉ như Thác Drei Nu, Bảy nhánh, Buôn Đôn đều có buôn dân tộc kề bên , sao không mời bà con tham gia. Hay người dân bất hợp tác vì giá phục vụ quá rẻ? hay vì chẳng ai quan tâm tới việc ứng xử với di sản, với bà con như thế nào ? Đến đâu?

Cứ như là Du lịch đang giành giật khách, không muốn chia sẻ, không chú ý đến việc tạo điều kiện nâng cao đời sống người dân bản địa bằng việc tham gia vào các dịch vụ ? Hoặc các ông chủ, bà chủ làm du lịch mà không biết đến những thế mạnh tại chỗ ? Không thấy cần? hoặc chỉ theo một lối mòn dễ đi , thu được tiền là được?

 Ngứa miệng, nên cứ muốn góp ý rằng :

 - Mỗi địa phương nên nhìn lại tổng thể, khách quan  hoạt động của mình, có    sách lược riêng. Đừng coi chỉ là việc của  chủ nhân các khu du lịch

- Cũng rất cần phối hợp chặt chẽ giữa du lịch với văn hoá  để :

Không chỉ tôn tạo, lập hồ sơ di tích, danh lam, thắng cảnh ( của Không gian văn hóa cồng chiêng); mà còn kết hợp g giáo dục, phát huy vốn văn hoá cổ truyền ( Di Sản văn hóa phi vật thể của nhân loại) sẵn có ở người dân địa phương . Bên cạnh đó cũng thực hiện những sản phẩm văn hóa như : sách, băng đĩa, chương trình nghệ thuật, đồ lưu niệm mây tre đan, thổ cẩm riêng của mỗi miền, mỗi tộc người

Mới đây, ngành Du lịch có Hội thảo “ Du lịch có trách nhiệm đối với phát triển cộng đồng” , không biết có ai tham khảo thông tin này chưa nhỉ?

Giá mà các ông chủ bà chủ ( Pô ea lăn) mới của Tây Nguyên không biết thì nên tham khảo ý kiến chuyên gia, đưa ra yêu cầu riêng  khi xây dựng chương trình Du lịch văn hóa. Hoặc chú trọng đến việc các hướng dẫn viên  có sự hiểu biết về văn hóa Tây Nguyên ( Các lớp CCHDVDL  bổ xung nội dung Văn hóa truyền thống Tây Nguyên ), xử dụng các cộng tác viên là trí thức người dân tộc tại chỗ…thì hay biết mấy?

 

                                                                      Ching  trong không gian nhà dài Ê Đê

Lấy  văn hóa dân gian truyền thống bản địa làm sản phẩm đáp ứng nhu cầu Xem gì, Chơi gì, nghe gì & Mua gì của du khách, du lịch đến Tây Nguyên , là điều phải làm rồi quý vị ơi.

Cũng lại theo mình ( người ngoài cuộc ham rong chơi): Du lịch , ngoài đầu tư kinh phí, còn cần phải có tầm, có tâm đối với bảo vệ môi trường sinh thái & văn hóa truyền thống. Nhất là thái độ ứng xử tử tế với đồng bào các dân tộc, vốn là chủ nhân của vùng đất này

Hy vọng Hội thảo có chút thành công !

[...]
Xem tiếp

Thành tố văn học trong dân ca Mnông

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-04-10

                 Có ba môi trường diễn xướng chính cho dân ca gồm : trong các lễ nghi tín ngưỡng, trong lao động sản xuất và trong sinh hoạt đời thường. Những không gian – môi trường – diễn xướng này, là yếu tố chính tạo cho nội dung của dân ca Mnông trở nên rất phong phú và đa dạng.

                Đặc tính văn học trong dân ca Mnông

                Từ những năm đầu của thế kỷ XX, khi công sứ Pháp A.Sabachie ở Đăk Lăk phát hiện và công bố trường ca, sử thi Đam San, tiếp tới những thập kỷ 60, khi công tác sưu tầm trường ca  Tây Nguyên được tiến hành ở Hà Nội , trong khối các tộc người dân tộc thiểu số miền Nam tập kết ra Bắc, cho đến tận những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, người ta vẫn gọi loại hình nghệ thuật độc đáo này là  văn học dân gian truyền miệng. Tương tự như vậy,  các thể loại văn học dân gian khác như Luật tục, thành ngữ, tục ngữ ( lời nói vần) , cũng đều được xếp chung vào loại hình văn học. Cho tới  năm 2005 khi nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Tây Nguyên Linh Nga Niê Kdam công bố một số văn bản ghi giai điệu âm nhạc của trường ca, sử thi  các tộc người Bâhnar, Rngao, Ê đê, Răk Glây, Jrai, nhằm chứng minh đây là một loại hình nghệ thuật kép : Văn học – Âm nhạc được diễn tấu thông qua giai điệu. Thuật ngữ “ hát – kể ”  trường ca – sử thi  mới chính thức được xử dụng trong các tài liệu bàn tới loại hình nghệ thuật này của Tây Nguyên. 

                                                                            Hai bạn gái Mnông tại Đan Mạch ( 1/2013)

                Thành tố văn học là yếu tố đầu tiên được xác định của các loại hình ca hát dân gian truyền miệng Tây Nguyên, căn cứ vào các văn bản được ghi chép lại, đều có chung một hình thức vận dụng văn vần rất linh hoạt. Dân ca Mnông nói riêng, dù hát về bất cứ nội dung nào cũng đều có vần.Vần có khi xuất hiện liền kề, câu trước nối với câu sau: 

Sim bon bu ndrău ueh ngăn/ Oh hăn sit nô yo- Chim bon họ hay hát hay ca/ thôi em về nhé” – ( Bài hát giao duyên) .

 Khi thì là vần lưng :

 “ Sing may ơh sông may ơh/ Tuě pai par rlông dưng may ơh/ Tưng ca riă măng mong may ơh – Sing mẹ ơi sông mẹ ơi/ Hái rau par lông dưng mẹ ơi/ Bắt cá trê dưới đầm lầy mẹ ơi ” ( Bài hát Gọi mẹ)

Khi là vần hai âm đầu và cả hai âm gần cuối :

mô nănh khĭt ma sung/ Nklăp sŏk n’ha klot ma sa- Anh không dám chết bằng rìu/ có khi phải nhờ lá cây thuốc độc” ( Bài hát giao duyên) .

Vần chính là một trong những yếu tố khiến cho văn học dân gian trở nên dễ thuộc, dễ dàng được truyền miệng từ đời này sang đời khác, kể cả các trường ca, sử thi lẫn luật tục, dài hàng ngàn câu.

 Văn học Mnông khác biệt với một số tộc người – kể cả cùng chung ngữ hệ Môn – Khơmer ở chỗ thường xuyên xử dụng hình thức điệp từ . Nếu dân ca Bâhnar ( cùng thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Á) điệp tử xuất hiện có lúc, có nơi :

“ Dôm dôm kon dôm/ Ne pă nhâm kon ơi/ Vă bă sŭk năm choh jang/  vă bă sŭk năm jơnang kal – Đừng khóc con ơi/ Thôi đừng khóc con ơi/ Để cha đi cuốc rẫy/ Để cha đi làm nương” ( Ru con Bâhnar)

Thì dân ca Mnông hầu như bài ca nào, nội dung nào cũng xử dụng hình thức điệp từ , thậm chí là dày đặc :

Sĭm rgŭt ndrău ta mir/ Sĭm rngot ndrău lam yok/ Sĭm rgŭt ndrău lam săr- Con chim cu hót trên rẫy/ Con chim cu hót khắp đồi/ Con chim cu hót khắp rừng thưa” ( Bài hát giao duyên) .

Hay lời khấn thần ;

Nar aơ he ôp rtah Yang Brah/ Nar aơ he ôp ntŭ si lung I kuăng / Nar aơ he ôp rtah Yang Brah/ Lôi ân pŭk bri brai chrai dôih ntuan/ Lôi ân kŏp sri lôi an ji săk – Hôm nay tôi cầu khấn thần rừng/ hôm nay tôi cầu khấn thần cây to/ Đừng cho tôi mang nợ nần nhiều/ Đừng cho tôi đau ốm nhiều” ( Lời khấn trong lễ cúng sức khỏe).

Hầu hết các câu điệp  gần như giữ nguyên những từ đầu tiên, chỉ thay từ một đến vài từ ở cuối câu.

Tôi đi bán con dê đực để đổi lấy bộ ching/Tôi đi bán ống bạc đổi lấy ống vàng/ Tiện dịp đi qua tôi ghé nhà uống nước/ Tiện dịp đi qua tôi ghé nhà xin cơm” ( Hát đối đáp đón khách)

 Nếu không chú ý tới đặc điểm này của văn học truyền miệng Mnông, dễ nhầm lẫn với các tộc người khác.Đồng thời khi dịch, nếu không tôn trọng cách xử dụng điệp từ này, sẽ không phản ảnh hết đặc trưng nghệ thuật của văn học truyền miệng Mnông. Sử dụng lời nói vần tương tự như làm thơ lục bát của người miền xuôi, nhưng điều đặc biệt là ở người Mnông, bất kể là ai, trong nhiều trường hợp, cũng có thể hát có vần có điệu được. Đây cũng chính là nghệ thuật riêng, độc đáo trong  Văn học dân gian truyền miệng Mnông

Nội dung của lời hát :

                Dân ca thường xuất hiện trong nhiều hoàn cảnh, trong những không gian, môi trường diễn xướng khác nhau. Chính vì rất phổ biến, nên bất cứ trong bối cảnh nào người ta cũng có thể cất lên lời hát. Qua điền giã, có thể thấy dân ca hiện diện trong các trường hợp sau :

a)       Hát khấn trong tín ngưỡng, thông qua các  nghi lễ

                Như đã nói ở trên, với tín ngưỡng đa thần – vạn vật hữu linh , các lễ cúng diễn ra dày đặc trong năm theo nhịp độ lao động sản xuất của mùa vụ; hay trong một đời người từ khi cất tiếng khóc chào đời cho đến khi chia tay giã biệt cuộc sống về với “ đất nước ông bà”. Đặc điểm lời khấn của người Mnông là thày cúng phải gọi ra được tên của rất nhiều các vị thần linh, mới được coi là người tài giỏi, có bản lĩnh, có mối “quen biết” với rất nhiều các vị yang linh thiêng, để mời cho được họ về tham dự, chứng kiến không chỉ lời cầu xin mà còn lòng thành của gia chủ hay cộng đồng. Đồng nghĩa với việc được nhiều vị thân fphof trợ. Chúng tôi đã từng được tham dự một lễ cúng đất buôn mới  của người Mnông Gar ở huyện Lăk ( tỉnh Đăk lăk), có tới năm thày cúng cùng tham gia gọi Yang về chứng kiến và phù hộ cho việc lập buôn. Trong một lễ cúng xả xui của gia đình ở Nam Ka, có hai thày cúng cùng thực hiện ( một người trong nhà, một người ngoài nhà)

                Lời khấn gọi các vị thần linh cũng có thể được coi là một áng văn chương, khi các thày cúng đọc rất dài từ mười lăm đến ba mươi phút, có vần có giọng điệu lên xuống.

* Trước tiên là gọi tên các vị thần linh, mời về và thông báo nhận các lễ vật hiến sinh ( trâu, bò, heo, gà, vịt…) :

                 “Thần Bing ngồi dệt vải trước cửa nhà/ Thần Jông ngồi dệt vải trước cửa nhà…./ Thần có nghe tiếng gọi từ xa/Thần có nghe tiếng kêu từ xa/ Nghe tiếng gọi từ bụi rậm cây/ Nghe tiếng nói từ rừng chồi” ( khấn mời thần về uống rượu)

                * Tiếp đến là trình bày lý do của lễ nghi đang diễn ra,sau đó là những điều, những lời cầu xin, hoặc lời tạ ơn:

                “ Mong các thần /Cho tôi làm rẫy/ Lúa tốt, ngô nhiều/ Lúa chật bồ/ Ngô chật rẫy” ( Cúng rẫy) 

* Hay lời xin lỗi vì một sự mạo phạm nào đó :

  “Cầu thần chớ nói lời giận dỗi/ Cầu thần chớ mắng mỏ tôi” ( cúng xin Tạ lỗi)

* Hoặc hát khấn thần lúa trong lễ tăm nghet ( thu được 100 gùi lúa) là sự thành kính trả ơn, sự cầu xin được phù hộ :

Mỗi hồn lúa hồn kê xuống đây/ mỗi hồn lúa nếp xuống rẫy ta/ ta cúng lúa cho ăn máu trâu/ Ta cúng lúa cho ăn máu dê/ Ta cúng lúa cho ăn bột nghệ/ Mỗi hồn lúa xây bắp rẫy ta/ Mỗi hồn lúa trải chiếu rẫy ta/ Đừng đi ăn thịt lợn bon Bu Keh/ Đừng đi ăn thịt dê Bon Krêng”…( cúng lúa) .

b) Lời hát trong các tang lễ ( hát khóc) :

                Có một điều đặc biệt của dân ca các tộc người thiểu số tại chỗ  Tây Nguyên nói riêng, tộc người Mnông nói riêng, tuy là lời than khóc của bất kỳ ai đến chia buồn cùng gia chủ, cho dẫu là thương tiếc, kể lể về người đã qua đời, hay sự than thân trách phận của người còn sống ngẫm nghĩ nỗi mình đi nữa…đều là những câu hát có giai điệu, theo một thể thức nhất định của lối hát nói - tự sự ( resitativ), có vần. Được gọi là hát khóc.

                * Hát thương tiếc người đã khuất là một trong những nội dung được đề cập đến nhiều nhất  :

                “Măng người bẻ vỏ còn chất đống/ bầu người trông nay vẫn có trái/ Nếu ngủ say hãy thức dậy đi/ Người bỏ ao cá không ai đi xúc” ( hát khóc)

* Hát thương thân phận người sống bây giờ sẽ chỉ còn lại một mình, mất người nương tựa:

“Con gà út nó mổ giúp con dòi/ cái cuốc nhỏ sẽ đào giúp huyệt”

* Đặc biệt là những bài “ khóc trâu” trước lễ hiến sinh vì lợi ích của gia chủ và cộng đồng :

“Trâu ơi ta thương trâu lắm/ Cây cọc nêu họ đã chôn rồi/ trâu hãy ăn lá cỏ này lần cuối/ Trâu hãy ăn lá bong vải lần cuối…” ( khóc trâu)

* Tiếng khóc của người mồ côi

“ Ngồi trên đá một mình khóc trên đá/ ngồi nhặt từng hạt lúa rơi trên rẫy , một mình khóc giữa rẫy” .

 c) Hát ru :

Là một thể loại không thể thiếu trong đời sống của mọi tộc người từ miền xuôi đến miền núi. Hát ru Mnông tuy không nhiều làn điệu, nhưng vẫn phổ biến trong cộng đồng. Nội dung bao giờ cũng là tâm sự gửi gắm của người mẹ , mong cho con trai lớn lên mạnh chân, khỏe tay; con gái giỏi dệt may, gùi nước…Hoặc là lời ru của anh chị trông em cho cha mẹ tìm kiếm kế sinh nhai

* Lời  ru em rất hồn nhiên của một người anh trai :

“ Em ta ơi, em mau lớn nhé/ Em ta ơi , em mau cao nhé / Em mau lớn cầm rổ xúc cá/ Em mau lớn cầm nỏ bắn sóc/ Em mau lớn lấy chiếu trải ngủ/ Em tôi ngủ với mẹ không lớn/ Em tôi ngủ với cha bị gầy/ Em tôi ngủ với anh mới mập to”

* Lời ru của cô chị chăm chỉ vừa làm vừa dỗ em :

Bẻ ngọn lá nhíp chị vừa ru em ngủ/ bẻ lá nhíp già chị vừa ru em ngủ/ ngồi bế em chị hát rue m ngủ/ rung đùi chị dỗ ru em ngủ”

* Lời ru khi địu trên lưng, mong con ngủ an bình để mẹ làm rẫy nuôi con :

Con ngủ đi cho mẹ dọn rẫy/ con ngủ đi cho mẹ đào củ khoai/ con ngủ đi cho mẹ bẻ măng/ mẹ hôn con trai/ con ngủ đi cho mẹ cười duyên”

* Tình cảm hơn là những câu ru đêm đêm trong ánh lửa bập bùng mờ tỏ trong nhà sàn, rất  an lành và không kém phần lãng mạn của bà, của mẹ :

“ Trời đã tối dần tối dần/ chim chắp ngủ khắp cây châu/ con nai ngủ ngáy khò trọng bụi/ con heo ngủ rủ nhau bằng đùi/ con dê ngủ kề nhau cái móng/ lúa trong kho kề nhau nắng chùm/ đầu con người hít nhau hơi thở/ mẹ ôm con vào đùi ngủ say”

d) Hát đối đáp

Đối đáp là một trong những lối hát rất được ưa chuộng. Có khi là nam nữ thanh niên Mnông bày tỏ tình cảm và tiến tới hôn nhân.Có khi lại là những người bạn đồng niên, nam với nam , nữ với nữ hoặc nam nữ hát đố ( là những câu đố liên hoàn nối nhau) :

“ Con cò hao gầy, vì sao cò gày?/Cá chậm lớn nên cò hao gày/ Vì sao cá chậm lớn? Cỏ lấp kín nước nên cá chậm lớn/ …Vì sao trời lại đổ mưa?/ Vì ếch kêu nên trời đổ mưa/Vì sao ếch lại gọi trời mưa? / Bởi rắn định giết nên ếch gọi mưa…”( hát đố )

* Là lời thăm dò, thử thách của cô gái với chàng trai đang tìm hiểu mình

“ Em người đen như con chim rách ai ngó/ Em người xẹp bụng như con ong ai nhìn/ Thân em vú trơn với ngực/ Em lười mót nhánh củi khô/ Em lười múc lấy nước đục”

* Để chàng trai phải khẳng định yêu từ nhan sắc đến tính cách :

“ Con gái có một người/ Giống bông hoa pa đê/ giống mặt trăng vừa mọc/nói chuyện với em không bao giờ chán”.

* Hát đối đáp còn được xử dụng trong lễ hỏi, lễ cưới, khi ông bà mối hai bên trao đổi giới thiệu nhà mình hoặc về lễ vật sẽ phải có.

 e) Hát tự sự , kể lể :

Không chỉ là lối hát – kể khi trình diễn các ot n’trong – trường ca, sử thi, mà còn hết sức phổ biến trong cộng đồng. Với lối hát tự sự  người ta có thể hát bất cứ trong hoàn cảnh nào, không bị hạn chế, không cấm kỵ, như : mừng khách đến chơi nhà, mời bạn uống rượu, ăn cơm, nhớ thương người yêu đi xa, khuyên bảo con cháu…với mọi nội dung phong phú :  

* Chủ nhà mời rượu :“ Mời em cắm cần uống rượu / mời em cắm và uống thử/ mời em uống rượu nước đầu/ khách không chối lời mời của chủ”

* Buổi sáng đi vào rừng :  “ Đi trong rừng anh em mình hái rau bía/ đi chăn trâu an hem mình chặt đọt mây/ đi chăn trâu anh em mình moi trứng kỳ nhông”

* Lời Mẹ dạy con gái “ Con gái lớn lên phải học dệt vải/ Con gái lớn lên phải tập kéo chỉ/ con gái lớn lên phải học nhuộm chỉ”

* Lời cô gái nhớ người yêu đi xa “Mơ ôm người yêu bèn ôm bầu nước/ mơ ôm người yêu bèn ôm lấy gùi/ mơ bá vai bèn bá ngón tay mình/ mơ cời với người yêu bèn cười một mình”

* Kể cả hát khi truyền đạt kinh nghiệm cho lớp trẻ : “Đi mắt nhìn trái, nhìn phải/ đi mắt nhìn trước nhìn sau/ đi bước trên lá khô gạt nhẹ rồi đi”

* Dạy con cái khi đi lấy chồng, cưới vợ  : “ Vợ chồng như đũa bếp và nồi/ vợ không khéo cũng phải thương/ chồng xấu xí mới là chồng mình” ( dặn con)

*Hoặc hát cả về chuyện con trâu nuôi trong nhà, con hổ ngoài rừng, con chó, con nai trong cuộc đi săn : “ Chó chạy nhanh đi , chó chạy nhanh đi/ chó đuổi cắn con nai đi chó ơi/ cho đến cắn con thỏ đi chó ơi”

* Thậm chí thật bất ngờ khi đề tài “ Anh em cùng mẹ cùng cha” như truyền thuyết về Lạc Long Quân & Âu Cơ của người Việt cũng có trong câu hát : “ Xưa khi xưa mẹ đẻ ra trăm cái trứng/ sinh lũ con trăm đứa cùng chung một dòng/ 50 con vượt đồi non phá rừng núi khai rẫy nương xây đắp buôn làng/ 50 con đi xứ bắc xứ nam xây núi sông làm đồng ruộng” .

Nghĩa là thành tố văn học xuất hiện trong câu hát ở bất cứ hoàn cảnh nào, với bất kỳ nội dung nào .

 

[...]
Xem tiếp