Linh Nga Niê Kdăm
taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Thảo dân có ý kiến

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-29-01

Mình được coi là người “ Có nhiều kinh nghiệm làm việc với bà con các dân tộc thiểu số Tây Nguyên”nha ; nên chỉ 6 tháng từ 7/2014 đến nay, đã được tham gia ba cuộc khảo sát cho các dự án : “ Nâng cao năng lực phát triển kinh tế cho phụ nữ dân tộc thiểu số”, “ Quy hoạch làng nghề Đăk Lăk” rồi “ Đánh giá phương pháp tiếp cận đồng bào dân tộc của dự án 3EM tỉnh Đăk Nông”, mới rời rợi đầu năm 2015 thôi nghe.

                Lập dự án thì nghe cũng hiểu, đúng không? Nhưng đánh giá phương pháp tiếp cận thì mới nha. Mà biết vì sao có không? Dài dòng một chút nè : Dự án 3EM, (“ Nâng cao năng lực phát triển kinh tế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đăk Nông”), do Quỹ phát triển nông nghiệp Quốc tế ( IFAD) tài trợ, thực hiện đã 4 năm.

Vì chuẩn bị sang fa 2, nên mới có  kiểm tra đánh giá giữa kỳ. Sau khi phỏng vấn thực địa đoàn nhận xét : “ có một số tranh chấp xã hội không lường trước giữa các nhóm  khác nhau, xuất phát từ sự tiếp cận khác biệt và thời điểm tiếp cận khác nhau các nguồn lực của dự án theo từng dân tộc. Một số nông dân lo ngại về việc phải chờ đợi lâu hơn để được vay (đặc biệt giữa người Kinh và người DTTS nghèo). Yếu tố này có thể đe dọa tính bền vững và tạo nên sự rời rạc giữa các dân tộc. Đồng thời cảm nhận được sự lo ngại của một số cán bộ thực thi dự án cho rằng họ gặp rất nhiều khó khăn, không thể thu hút người DTTS tham gia hiệu quả. Điều này có thể dẫn đến việc đồng bào DTTS có khoảng cách lớn hơn hay bị loại trừ khỏi hoạt động dự án và có sự xích mích trong các nhóm cộng đồng pha trộn nhiều dân tộc”.

Nghe có “ dựng tóc gáy” không mọi người ? Chính vì vậy mà mình được đi phỏng vấn từ cán bộ lãnh đạo đến người dân ở những vùng xa ơi là xa cũng có, thị trấn, thành phố cũng có, của Đăk Nông, Đăk Lăk. Rồi lại còn được gặp rất nhiều các bạn người thiểu số mọi miền đất nước, ngủ cùng phòng với một nữ nông dân người dân tộc Pu Péo ở tận Hà Giang, trong hội nghị Mặt trận toàn quốc nữa. Nên biết ra khối điều đấy nhé .Đây là ý kiến các thảo dân nè :

Mình tự nhận thấy đã chứ : Bên cạnh việc được tham dự tập huấn để hiểu thêm về kinh nghiệm và thời điểm gieo trồng, có vốn vay phần nào phát triển được kinh tế gia đình, trong 23 xã của 5 huyện thuộc tỉnh Đăk Nông nằm trong vùng dự án, nhiều hộ từng bước thoát nghèo, tuy thế cũng còn nhiều bất cập.

- Trước hết là  ý kiến của Hội Nông dân tỉnh Đăk Nông : Thủ tục cho vay của ngân hàng rườm rà, mất nhiều thời gian . Năm 2014 Hội Nông dân tỉnh Đăk Nông  được thông báo cấp 80 Tỷ hỗ trợ nông dân. Nhưng đến tận tháng 7/2014, Hội vẫn chưa giải ngân được.Hu hu, nông dân cứ việc dài cổ ra mà chờ, qua mấy vụ sản xuất cây trồng cũng chăng sao đâu!

                Sau nữa là lời nói rất thật lòng của các cán bộ thúc đẩy thực thi dự án tại cơ sở nè :  Ngân hàng rất “ác cảm” với đồng bào dân tộc. Vì cho dù mang tiếng là chuyên phục vụ Nông nghiệp, dành cho bà con dân tộc, nhưng vẫn là thương mại  nên e ngại rủi ro khi cho đồng bào DTTS vay, ảnh hưởng tới kinh doanh chớ sao? Hu hu…mấy anh chị này hổng phải người dân tộc đâu nghe. Mà  không chỉ việc vay vốn cho nông dân sản xuất bị trì trệ, cả tới cho HSSV tại địa bàn xã vay đi học cũng rất khó khăn. Nhất là đi học trung cấp . Điều này chắc cũng cùng nguyên nhân khiến Ngân hàng cứ thấy đồng bào dân tộc là … “chạy mất dép”.

                Đồng ý rằng “ con sâu làm rầu nồi canh”, có những bà con vay rồi lười lao động, gặp hoàn cảnh khó khăn không khắc phục nổi như thiên tai, bệnh tật, đông con…Còn nói chung người dân tộc rất giữ chữ tín. Cũng chẳng dám vay nhiều để mất khả năng chi trả như các đại gia đâu, mà vẫn khó thế...  Đến lúc nào mới giúp được dân xóa đói giảm nghèo đâu?

                Tiếp theo mới là ý kiến người dân nha :

- Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên có 4 thiếu : thiếu đất sản xuất, thiếu vốn, thiếu khoa học kỹ thuật, thiếu giống. Hộ nghèo, không có tài sản thế chấp, không thể vay vốn ngân hàng. Thủ tục của Ngân hàng Nông nghiệp rườm ra, đến khi nhận được tiền vay thì đã lỡ thời vụ sản xuất. Vay được, thì chỉ có một năm, lãi suất cao, đến hạn chưa thu hoạch nên không kịp hoàn trả sẽ thành nợ xấu, thậm chí bị xiết nhà cửa, vườn rẫy….

- Khi có dịch bệnh gia súc, gia cầm, trên cây trồng ở vùng sâu, vùng xa, dân phản ảnh nhưng không có sự trợ giúp nào của cơ quan chức năng.

- Một số cây trồng vận động chuyển đổi ( mác ca, bời lời…) dân trồng trên diện r               ộng, qua 2-3 năm sắp đến kỳ thu hoạch, hỏi khuyến nông cũng không biết cơ quan nào thu mua ( chỉ toàn thấy Công ty  quảng cáo bán cây giống).

- Ở đâu xây chợ lãng phì thì không biết, nhưng có nơi không có chợ, nông sản toàn bị tư thương ép giá, mang đi xa thì không có điều kiện. Đã nghèo còn khó hơn

Vậy nên bà con mới tha thiết nhờ các đoàn công tác kiến nghị lên tầm “ vĩ mô” rằng : Xin được chuyển nguồn vốn các dự án qua Ngân hàng Chính sách, cho thủ tục dễ thở hơn, lãi suất cũng thấp hơn, kéo dài thời hạn cho vay tớ 18 tháng đi…để người dân còn kịp hoàn thành thời vụ sản xuất mà trả nợ chứ.

Còn đây là việc học nghề không được tính toán sao cho phù hợp với từng địa bàn vùng miền. Các trung tâm dạy nghề thông báo tuyển và dạy cho xuất khẩu lao động sang Đài Loan, sang Nhất bản…, cho không 3 triệu / tháng cũng chẳng có ai tới học. Vì dạy miễn phí nhưng toàn những nghề không thể thực thi đại trà ở nông thôn, nhất là tại Tây Nguyên như  : tin học, may công nghiệp, làm móng tay, uốn tóc, hàn và cắt gọt kim loại…

Thêm một chút cho việc bảo tồn “ Không gian văn hóa cồng chiêng” nha :

Những nghề thủ công truyền thống, cơ quan đoàn thể nào cũng đua nhau mà mở, chồng chéo lên nhau mà lấy thành tích, như đan mây tre, dệt thổ cẩm…Nhưng chỉ truyền nghề mang tính khôi phục thôi, còn bảo tồn và phát huy thế nào để người dân vừa gìn giữ, vừa có thêm thu nhập từ nghề phụ lúc nông nhàn, thì…chẳng phải việc của ai. Hoặc nói cách khác, chẳng cần biết.Kệ dân !

-Với ching chêng thì  chỉ “ diễn” khi có yêu cầu của chính quyền, ngành VH , du lịch.Không thực sự tồn tại trong cộng đồng.

Có lẽ vì cho rằng dân trí thấp, nên chưa bao giờ chưa có ai hỏi đồng bào dân tộc nên làm thế nào? gìn giữ cái gì ? Chỉ thấy cán bộ bảo phải thế này phải thế kia,Người dân rất thụ động trong việc tự mình bảo tồn Di Sản của nhân loại do chính mình sở hữu. Vậy nên nguy cơ mất danh hiệu Di Sản luôn hiện hữu.

Bà con người các dân tộc từng rất  tin và rất nghe lời cán bộ . Nhà nước rất quan tâm đến việc xóa đói giảm nghèo, xây dựng kinh tế phát triển bền vững cho đồng bào DTTS, nhất là Tây Nguyên . Gần đây có thêm nhiều chính sách hỗ trợ để phát triển . Nên chăng, để đảm bảo tính bền vững, các cơ quan hoạch định chính sách cần thực sự lắng nghe ý kiến người dân? Chắc các vùng miền núi phía Bắc cũng giống Tây Nguyên thôi.

Vĩ thanh : Vì sao có bài viết này, tỏ bày cùng mọi người chút nha :

Đây là khóa thứ ba mình là thành viên Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc VN. Đã hai lần từ chối, nhưng “ người ta” lờ đi, cứ đưa mình vô cho đủ thành phần ( gọi là “ Trí thức tiêu biểu”). Mấy hôm họp Hội nghị tại tp HCM ( 24-25/1/015), một chị người Thái ở Sơn La ngồi ăn cơm cùng bàn hỏi “ Sao không thấy đại biểu dân tộc nào phát biểu nhỉ”. Với lại, mấy ngày trước đi thực địa, nghe ý kiến người dân, nếu không nói ở đây, cũng chẳng biết kêu ở đâu cho bà con, nên đành đăng ký. Mừng là lúc nghỉ giải lao, rất nhiều đại biểu dân tộc các miền đến bắt tay, cảm ơn đã nói dùm ý kiến nữa chứ. Thôi thì,ít nhất cũng một lần làm được như ba Y Ngông “ bà con tin cậy mình, mình không nói thì ai nói”.

 

 

 

 

 

 

[...]
Xem tiếp

Trầm bổng dân ca Pa Kô

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-29-01

Trầm bổng dân ca Pa Kô

Đội văn nghệ xã Tà Rụt, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị do Kray Sức và một số người am hiểu dân ca Pa Kô sáng lập đã không ngại khó khăn, gian khổ cất công sưu tầm những lời ca nguyên bản nhằm bảo tồn và chuyển tải nét văn hóa đặc sắc của đồng bào đến với công chúng. 

 

Tinh hoa đời sống

Bên bếp lửa bập bùng giữa căn nhà sàn đơn sơ dưới chân đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ trong đêm khuya thanh vắng, tiếng hát và nhịp đàn của nghệ nhân Hồ Văn Việt - thành viên Đội văn nghệ xã Tà Rụt hòa quyện âm thanh núi rừng vang xa: Anh ơi hãy đến ta cùng chung một lời ca - Hãy đến đây cùng thức ngắm trăng - Em mong mỏi chờ anh sao anh không đến... Em ơi, anh nghèo, anh không dám đến - Áo vá mười lỗ, khố chắp mười đốt... Buông phím đàn Ta lư an trum, nghệ nhân Hồ Văn Việt chậm rãi nói: “Đó là điệu Xiêng ngọt ngào, thể hiện nỗi nhớ nồng nàn, tha thiết của cô gái Pa Kô với người yêu sợ phận nghèo không mang lại hạnh phúc lứa đôi nên không dám cùng cô thức ngắm trăng bên bờ suối vắng…”.

Dân ca Pa Kô - loại hình văn hóa dân gian hình thành trong quá trình lao động sản xuất. Trong đó, làn điệu Ka lơi ca ngợi tình đoàn kết giữa dân tộc, ca ngợi tinh thần cộng đồng, cùng giúp đỡ nhau xây dựng cuộc sống. Làn điệu Cha chấp cất lên mừng Đảng, mừng xuân, mừng cuộc sống mới… Muốn thể hiện “hồn” trong từng lời ca cần có đầy đủ các loại nhạc cụ: Bộ gõ gồm trống (Acưk), cồng (Coong) thanh la (Tale). Bộ hơi gồm sáo đôi (Amam), tarial (Tiare), kèn Pi (sáo Pi mo), kèn môi (Adon), tù và (Tăng coi) và khèn bè. Bộ dây có Âmpreh, Ta lư a trum. Ngoài ra còn có lục lạc, chuông và mõ. Tất cả hòa quyện trong những âm thanh khi trầm, khi bổng, lúc rộn rã vui tươi, khi đượm buồn ai oán, đưa con người chìm đắm vào những giai điệu khác nhau của cung bậc cảm xúc. Đó là tinh hoa trong đời sống tinh thần đồng bào Pa Kô kết tinh từ lao động sáng tạo và đấu tranh vượt lên sự khắc nghiệt của thiên nhiên, tạo hóa để tồn tại và phát triển.

“Mồi lửa” bảo tồn

Dân ca Pa Kô gắn với những lễ hội dân gian liên quan đến phong tục thờ cúng của đồng bào. Trong đó, Pul Boh Ariêu Pling (lễ bốc mả) tổ chức khá rầm rộ, đó là ngày hội lớn của đồng bào Pa Kô ở Trường Sơn. Ngoài ra đối với người Pa Kô hàng năm có hai lễ hội chính đó là ngày lúa mọc bằng ngón tay và vào kỳ thu hoạch. Lễ hội to hay nhỏ đều có vật hiến sinh, năm được mùa thì tổ chức đâm trâu, đánh cồng, chiêng, uống rượu cần và múa hát tập thể. Ông Hồ Trọng Biên, Bí thư Đảng ủy xã Tà Rụt chia sẻ, còn rất ít người lớn tuổi ở Tà Rụt am hiểu tường tận ý nghĩa sâu xa trong từng lễ hội của đồng bào Pa Kô. Mai này chẳng may những con người ấy mất đi, e rằng những nét đẹp văn hóa ấy sẽ bị mai một. Bao trăn trở âm ỉ bấy lâu nay may sao được Kray Sức - cán bộ văn hóa xã Tà Rụt “mồi lửa” bằng trái tim đầy nhiệt huyết, luôn mong muốn giữ gìn, phát huy những nét đẹp truyền thống về văn hóa của đồng bào Pa Kô nên đã cần mẫn sưu tầm và truyền dạy cho thế hệ trẻ. Kray Sức sưu tầm được gần 100 chiếc cồng, chiêng và các loại nhạc cụ truyền thống như trống Toong, sáo Khui, khèn Bè, sáo Tirel… Đồng thời, vận động các nghệ nhân dân ca Pa Kô trong vùng sáng lập Đội văn nghệ xã Tà Rụt và dìu dắt, đào tạo 12 người trẻ tuổi biết đánh cồng chiêng, 8 người đánh đàn Âmpreh, 5 người biết thổi khèn, 14 người hát các làn điệu dân ca dân tộc Pa Kô…

Dân ca cùng các điệu múa là điểm nhấn, yếu tố không thể thiếu trong các dịp lễ hội tạo bản sắc văn hóa Pa Kô. Mà văn hóa chỉ “sống được”, tồn tại được đến muôn đời chỉ khi đã ăn sâu vào chính cộng đồng dân tộc ấy chứ không phải được dàn dựng biểu diễn trên sân khấu hay nỗ lực bảo tồn của số ít nghệ nhân. Chúng tôi vượt qua mấy đoạn dốc dựng đứng vào thung lũng A Vương tìm gặp nghệ nhân Kray Sức và được ông cho hay, đã trực tiếp đến tận nhà của các nghệ nhân lão làng tìm hiểu, ghi chép tỉ mỉ từng làn điệu dân ca, điệu múa... cũng như cách thức, lễ nghi trong hệ thống lễ hội của người Pa Kô. Từ đó, ông thành lập Đội văn nghệ xã Tà Rụt dàn dựng thành các tiết mục để đi biểu diễn nhiều nơi. Theo Kray Sức, về lâu về dài, muốn gìn giữ, lưu truyền dân ca, điệu múa, cách làm, sử dụng nhạc cụ cũng như các lễ hội của người Pa Kô thì còn quá nhiều việc để làm, ví như mở các lớp để nghệ nhân truyền dạy cách làm, sử dụng nhạc cụ, các điệu múa, làn điệu dân ca Pa Kô cho lớp trẻ; xây dựng điểm sinh hoạt văn hóa cộng đồng, là nơi để nghệ nhân biểu diễn các điệu múa, làn điệu dân ca Pa Kô cho trai, gái bản trên, bản dưới thấy hết nét đẹp dân ca dân tộc mình mà tự nguyện tìm hiểu, học hỏi; đầu tư mua sắm các loại nhạc cụ cho Đội văn nghệ xã Tà Rụt, bởi hiện tại mỗi lần đội văn nghệ đi biểu diễn đều phải mượn nhạc cụ của nhiều gia đình trong các bản...

Kray Sức cho biết thêm: “Giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc hiện nay hết sức khó khăn. Nhưng không học hỏi, gìn giữ những làn điệu dân ca là có tội với cha ông, với tổ tiên. Mình phải nhanh chóng đưa cái “hồn” dân ca Pa Kô về cho bản làng. Mai này lớp già ra đi, lớp trẻ kế tục kế thừa và phát huy”.

 
 

Sắp mở lớp dạy dân ca Pa Kô - Vân Kiều

Trung tâm văn hóa tỉnh Quảng Trị vừa tổ chức chuyến sưu tầm, tìm hiểu các làn điệu dân ca Vân Kiều, Pa Kô - hai dân tộc thiểu số sinh sống tập trung ở phía Tây Quảng Trị. Đoàn đã có cuộc gặp gỡ, tiếp cận với các nghệ nhân là hạt nhân phong trào văn nghệ quần chúng để tìm hiểu về các thể loại cũng như nội dung các làn điệu dân ca. Trong đó, 4 làn điệu dân ca Ka lơi, Cha chấp, Adên và Tà oải của hai dân tộc Pa Kô và Vân Kiều đã được các nghệ nhân sưu tầm, thể hiện và dịch từ tiếng địa phương sang ngôn ngữ thuần Việt. Qua đó, tạo cơ sở để mở lớp dân ca của hai dân tộc Vân Kiều, Pa Kô trong thời gian tới tại địa bàn miền núi phía Tây Quảng Trị.

 
 

VĂN THẮNG

[...]
Xem tiếp

Chầm chậm Luang Phrabang

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-02-01

                Dòng Mê Khỏng oằn nặng phù sa nên chảy rất chậm quanh cố đô Luang Phrabang, như ôm thành phố vào lòng trìu mến chở che. Suốt dọc bờ sông, không biết kéo dài tới mấy cây số, đều là hàng quán. Sang trọng lịch sự. Xộc xệch bình dân . Tất thảy đều rất nhiều những nụ cười thân thiện. Sà vào bất cứ hàng nào, cũng có thể thả mình đón gió mát, ngắm dòng nước đỏ ngầu chảy chậm, ngó những chiếc phà cũ kỹ ăm ắp người qua lại giữa hai bờ Lào – Thái. Lạ ! Không hề thấy tấp nập những xuồng máy, xuồng cao tốc hay ghe thương hồ xé toạc dòng nước lao vùn vụt như ở dọc sông Tiền, sông Hậu nhà mình. Ngoài thỉnh thoảng mấy chiếc xà lan, tàu khẳm hàng nặng nề chậm chạp xuôi dòng, chỉ loáng thoáng vài con thuyền nhỏ không máy nổ , của cặp vợ chồng hay cha con nào đó quăng lưới cho một ngày  mưu sinh lặng lẽ trên sông.

                Giống như sông Hằng đối với người dân Ấn Độ, người Lào cũng rất thành kính coi trọng dòng sông mang tên “ Sông Mẹ” . Vì vậy mà cổng chính rộng thênh thênh của ngôi chùa được coi là linh thiêng nhất, cổ nhất cố đô Luang Phabang , chùa Wát Xiêng Thong, mở ra phía dòng sông. ( Cửa hậu nhỏ hơn mở ra  phía đường phố, phải đi qua một con ngõ hẹp.)  Chỉ cần xuống mấy chục bậc thang, băng qua con đường chắn ngang, là gặp ngay dòng sông rộng đang trầm lặng chảy. Hàng năm có những lễ cúng rước tắm Phật rất trọng thể, rất thành kính diễn ra trên bờ sông này. Thế nên không lạ lắm khi nhà văn Hoàng Thu, người đã có lần đến Luang trước chuyến đi này mách nhỏ chúng tôi “Trước đây, du khách có nhu cầu cá nhân đều phải sang các nhà phía bên kia đường để giải quyết. Nhưng bây giờ họ đã cho phép làm nhà vệ sinh ngầm bên dưới con đường, tiện cho khách hơn” .

Đã từng ngưỡng mộ rón rén đặt từng bước chân trần vào những ngôi đền, chùa rộng thênh thênh dát kín vàng ở kinh đô cổ Miến Điện, tượng Phật khổng lồ lộng lẫy và oai nghiêm tại thủ đô Băng Cok, trèo lên tận đỉnh tháp đá Angko Wat điêu tàn lộng gió hay chiêm ngưỡng ngôi chùa cổ đầy khỉ ven bờ biển Bali xanh; nhưng bước vào chùa Wat Xiêng Thong vẫn không thể không cảm phục bàn tay tinh tế của người Lào từ mấy trăm năm về trước. Không chỉ là mặt tiền đang được trùng tu bằng những tấm lá vàng dát mỏng, mà chiếc xe chở lẫn tháp chứa xá lị của Đức Phật và hàng trăm bức tượng Phật lớn nhỏ đặt trong tòa chính điện  đều được bọc kín bằng vàng. Những bức tranh tường thêu, vẽ, chạm trổ chi tiết công phu hình hoa lá, con người, ngôi tháp chứa di cốt dát  hàng ngàn những mảnh kính lấp lóa trong bóng nắng hoàng hôn, âm âm tiếng chiếc chiêng cổ đen bóng cao hơn 1,5m…đều khiến người hậu thế phải nghiêng mình kính nể .

                                                                Chùa Wat Xiêng Thong chạm trổ cầu kỳ

Là kinh đô cổ của một đất nước Phật pháp có tuổi đời hàng 4-500 năm, nên chùa hiện diện trên mọi nẻo đường : trên phố lớn sầm uất, trong ngõ nhỏ tĩnh lặng, giữa những làng quê mộc mạc hoang sơ, sát bên chợ ồn ã người mua kẻ bán… Leo 359 bậc lên đỉnh núi Phou Si chót vót kề bên bảo tàng Hoàng gia ( xây dựng năm 1904) , quỳ lạy cầu phúc ngôi chùa Wat Chomsi chiếu thẳng góc với cung điện cổ bên dưới - nghe nói chùa rất thiêng, nếu bạn sóc thẻ sẽ được báo trước một điều gì đó của tương lai - và từ đó lia mắt ngắm cố đô trải rộng trong bóng nắng đổ dài, cảm giác thật yên bình. Trong sương sớm mờ mờ hư ảnh, đã thấy bóng áo vàng cam khất thực của các sư sãi đếm từng bước theo hàng dọc trên mọi nẻo đường, cũng đã bắt gặp người dân quỳ ngang đường thành kính dâng cơm. Hoàng hôn níu  bóng nắng dần buông, trong tiếng chuông chiều dục các tiểu sinh áo nâu đỏ líu ríu bước chân tụ về những tu viện…Có lẽ vậy nên nhịp sống ở Luang dường như trôi đi rất chậm. Xe máy không phóng nhanh. Tịnh không một tiếng còi ô tô, những bước chân sớm chiều đều không vội vã trên đường, cho dù là công chức, bà nội trợ hay chủ nhân những tiệm ăn uống, khách sạn lẫn du khách. Đó chính là điều cuốn hút của Luang Phrabang chăng? Bởi không biết chặng đường từ Viên Chăn lên cực bắc Lào này  tốt đến đâu, chứ từ thành phố Điện Biên  tới cố đô, hơn 500 km là cả một chặng …khủng khiếp với cái cột sống vốn thoái hóa nặng của tôi. Vậy mà các khách sạn ở Luang vẫn kín khách từ mọi nơi trên trái đất đổ về - là chưa đến mùa lễ hội gì của bạn đấy nhá .

                                                                Dâng cơm cho sư buổi sáng

Bỏ qua các thung lũng voi, thác nước… những điểm đến của du lịch Luang Phrabang đã quá quen với người Tây Nguyên, ăn phở sáng ở một quán của người Việt mà đêm qua đã tới ăn tối, xong; chúng tôi chạy khắp những ngôi chùa trong cố đô, tất nhiên là có cả bảo tàng vàng son của Hoàng cung cổ. Tìm nơi hội quán của người Việt để nhà văn Đào Thắng dò hỏi thông tin về cố nhà văn Nguyễn Đình Thi. Dạo phố tò mò ngắm những khách sạn lớn nhỏ ( không hề có nhà cao tầng) với mọi phong cách kiến trúc Pháp hiện đại có, cổ kính Lào có, đều xanh mát rợp bóng cây lá. Ghé chợ rau củ non mươn mướt buổi sáng, chọn cho bữa trưa ven sông lộng gió thêm chút rau; ồ à thích thú với mọi thứ  trái cây chẳng khác gì ở Việt Nam trong nắng hầm hập chợ chiều ( một cặp trai gái Việt chỉ đường ra sông cho chúng tôi lúc sáng, lủng liểng nải chuối vàng rực, chào nhau lúc ở chợ rẽ về) và lang thang lóa mắt trong ánh đèn màu lung linh huyền ảo tại chợ đêm, lựa chọn tìm quà lưu niệm mọi thể loại, kích cỡ, hầu hết là sản phẩm của địa phương, dẫu bằng gỗ, đá, bạc, thổ cẩm hay những lá dù rực rỡ đủ sắc màu…. Đủ để hiểu sức hấp dẫn đến khó cưỡng của một cố đô thanh lặng mà trầm mặc, dấu trong mình sắc thái riêng, rất Lào ( bằng chứng là tôi đã từng rất ao ước có chuyến đi này và vẫn còn muốn được một lần nữa trở lại để có một chuyến du thuyền trên sông Mê Khỏng, mà lần này thời gian quá gấp không kịp thực hiện ). Dường như đó cũng là điều tiên quyết để nhiều thế hệ người Việt chọn nơi đây định cư.

                                                             xe ngựa dát vàng của Hoàng gia 

Cũng bởi con đường từ Điện Biên sang quá xấu, chúng tôi lại tự đi xe của Hội Nhà Văn, không có hướng dẫn viên, không đặt trước khách sạn, nên khá vất vả trong việc hỏi đường. Mặc dù đã được nữ sỹ Hà Nhì Chu Thùy Liên và đồng chí chồng – tham mưu trưởng toàn tuyến biên giới hỗ trợ hết mức – nhưng xuất phát từ 7h sáng ở cửa khẩu Tây Trang mà mãi gần 21h chúng tôi mới an vị được trong khách sạn . Bù lại, biết thêm nhiều chuyện thú vị về người Việt sang làm ăn ở Luang. Đầu tiên là dừng giữa chợ hỏi đường. Mới nghe thấy nói tiếng Việt, thiếu phụ bán  bắp nướng đã chỉ sang quầy  vịt quay gần ngay cạnh đó. Hòa, cô gái  chừng ba mươi tuổi người Nghệ An cười rất tươi khi cho biết xe chúng tôi rẽ nhầm nơi vòng xuyến, phải quay lại và thay vì rẽ phải, sẽ rẽ trái để vào trung tâm. Mùi vịt quay thơm nức mũi khiến những cái bụng trào sôi đánh trống, nhưng đành tạm biệt cô chủ dễ mến để tìm chỗ nghỉ . Tiếp theo là thắng phắt lại khi nhìn thấy một quán ăn có chữ Phở trong ánh đèn nhấp nháy, hoàn toàn bằng tiếng Việt, để gặp một bà chủ nhà hàng người Thanh Hóa, lại hết sức tận tình chỉ dẫn. Cả hai người phụ nữ đều đã có hơn 10 năm buôn bán ở Luang.

Xe  chầm chậm trôi giữa  những con phố bóng đêm đã rủ xuống, chật ních hàng, quán sáng ánh đèn đủ màu nhưng đã thưa vãn bóng người. Lại dừng hỏi đường. May thế, một thiếu nữ Huế rặt giao cửa hàng lại cho em gái, chạy xe máy đưa chúng tôi đến tận cửa  khách sạn MeKong sang trọng ngay ven bờ sông. Thủy mới hai mươi tuổi, đưa em gái 16 cùng sang, thuê  nhà mở một tiệm uốn tóc nho nhỏ. Rất Huế, bởi sự nhỏ nhẹ và dáng vẻ dịu dàng, em bảo hai chị em đủ sống, nhưng chỉ buồn vì nhớ cha mẹ, nhớ quê, nhất là vào dịp tết Nguyên đán, mọi gia đình xum họp.  Sang đã ba năm, chị em chưa có dịp về thăm nhà.

Khách sạn nơi Thủy đưa chúng tôi tới, cũng của người Việt. Vợ chồng Trung chung vốn với một người bạn. Ở vị thế ven sông, giữa một trong những khu sầm uất và đông đúc nhất của Luang, nên  giá phòng không rẻ chút nào. Trung đề nghị chúng tôi về ngủ tại bản Ma Nô, là một trong hai khách sạn nữa của anh, có 8 phòng dom và cũng có phòng đôi cho hai chị em chúng tôi. Giá rất rẻ nhưng vẫn đủ mọi tiện nghi.

Khách sạn Si Sam Wat nằm kề ngôi chùa cổ Wat Ma Nô Rom ( nên bản và đường cũng mang tên Ma Nô là thế), một con phố toàn nhà trọ theo kiểu dom ( phòng tập thể với giường hai tầng như gia đình chúng tôi đã từng ngủ ở Philipin). Diện tích nhỏ , có vẻ hơi chật chội với những căn phòng giản dị nhưng sạch sẽ. Sân đầy cây xanh và cảnh quan dân giã Việt Nam với những chum, gộc tre, nơm, nón, bàn ghế hoặc gỗ, hoặc tre nứa. Dạ lan tràn đầy trên tường rào, thoang thoảng tỏa thơm khắp không gian một sàn nứa hẹp có mái phủ đầy dây leo. Ngồi trên ghế gỗ thô hoặc đánh bệt xuống sàn, hay đung đưa trên xích đu khúc cây, đám khách Tây mải miết truy cập mạng hoặc nhâm nhi tách trà, li cà phê tan miễn phí, trò chuyện nho nhỏ ( Ấy vậy mà đêm sau đó, một đám khách về khuya cũng ồn ào uống bia Lào ngay cạnh cửa sổ phòng chúng tôi cho tới gần sáng).

                                                               Nơi sinh hoạt chung của dom

Nguyễn Trung là một trong những người Việt như thế. Vốn là một chiến sỹ công an đã từng nhiều năm công tác ở Lào và nhất là ở Luang.Năm ngoái Trung  xin thôi. Được sự đồng thuận của cả hai bên gia đình, đưa vợ con sang Luang Phrabang vừa tròn tám tháng. Là người nước ngoài, nên không được phép mua nhà đất, Trung thuê với kỳ hạn 10 năm hai khách sạn người bản địa làm ăn không lãi, sang sửa lại rồi quảng cáo trên mạng. Tháng đầu khai trương đã kín khách. Thấy làm ăn được, mẹ Trung – một người phụ nữ gốc Thái , Sơn La, về Hà Nội đã mấy chục năm, sang nhượng hoạt động xây dựng, để lại ở Việt Nam ông chồng còn tuổi công chức , vừa bay sang trông coi giúp con. Ngoài khách sạn Me Kong sang trọng ở phố Tây chung vốn với bạn, hai khách sạn ở bản đều dành cho du lịch bụi. Khách muốn nghỉ phải đặt trước qua mạng, nếu không khó lòng mà có chỗ. Mới cuối tháng 10 nhưng đã kín phòng cho đến tận tết dương lịch.

Trung bảo, người Việt qua đây, xa xôi thật, nhưng dù ít hay nhiều vốn cũng dễ làm ăn. Người Lào trung thực , dễ mến và nhất là không hay cạnh tranh , nên ai cũng sống được. Cứ nộp đủ thuế là chẳng bị hạch sách hay phiền hà gì.

Chắc mới qua chưa vơi nỗi nhớ và có lẽ khách sạn thường đón toàn tây balo, nên người mẹ gốc Thái rất quấn quít với nhóm chúng tôi. Từ việc dặn vợ chồng con cho tới mấy cô gái Lào làm nhân viên phục vụ chăm lo từ phích nước, ấm trà tới mua và lắp giúp những chiếc cac điện thoại Lào, chỉ đường tham quan, thậm chí ngồi rất khuya tiếp rượu mấy nhà văn…Khiến lúc chia tay cả hai bên đều rất bịn rịn.

Một lần nữa trên đường rừng quay lại Điện Biên, chúng tôi bình luận về những cái tên khó đọc nhưng thân quen, ngắm các bản làng, với những nếp nhà sàn yên bình nép mình dưới đám cây xanh, soi bóng bên dòng suối, hay hàng loạt các kho thóc nho nhỏ dựng sát đường quốc lộ, không khác gì những tuyến đường Tây bắc vừa đi qua, hay ở Tây Nguyên thuở chưa xa nào…

Mới rời đi đã nhớ nhịp sống chầm chậm Luang Phrabang….

[...]
Xem tiếp