Linh Nga Niê Kdăm
taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Mùa này dã quỳ nở rộ

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-22-07

                                                                                                                                                  Truyện ngắn H’Siêu Byă 

Mình biết buồn khi Đăm – người thương đầu tiên trả lại chiếc vòng đồng hẹn ước. Chiếc vòng sáng choang có khắc hình đôi chim rừng quấn qu‎ýt. Chiếc vòng biểu tượng cho sức mạnh của tình yêu, sợi dây ràng buộc vững chắc giữa hai người. Người Êđê chỉ trao vòng cho nhau khi chắc chắn đối phương sẽ là người đầu ấp tay gối trong tương lai. Mình buồn quá, tay chân mềm nhũn như lá chuối hơ lửa, tan chảy và nghẹt thở. Tiếng gió rít u u không ngăn nổi tiếng vọng ban chiều:

-  Đừng nhớ Đăm nữa. Con gái buôn bên sắp qua nhà cầu hôn. Amí đồng ý rồi, năm sau dăm dei sẽ tiễn Đăm xuống cầu thang sang nhà vợ.

Và Đăm đi.

Vội vã, gấp gáp như nụ hôn Đăm đặt lên môi mình dạo ấy. Mình tròn mắt nhìn cho đến khi bóng Đăm lẫn trong đám lá quỳ xanh động đậy rồi mất hút.

Ngồi phịch xuống tảng đá, tảng đá cựa quậy, nhìn cánh đồng quỳ, cánh đồng quỳ cựa quậy, ngó đám mây, đám mây cựa quậy, liếc dãy núi, dãy núi cũng chao đảo ngả nghiêng.

Chiều lắm rồi. Buôn mình rục rịch nhóm bếp lửa chuẩn bị buổi tối, đám khói ngoằn ngoèo, chúng chụm lại và toác miệng như cười ha hả đắc chí về chuyện tình vỡ toang hoang như quả bầu khô của mình. Chiếc điện thoại trong túi tút tít reo, mặt mình đầm đìa nước và câu hát bỗng chợt ngân vang:

Anh với em

Vòng đã trao

Lời thề giữ trong lòng…

Mình ngước mắt lên, cánh đồng quỳ đã ngập trong màu tối, vài ánh sao nhấp nháy không đủ soi rõ con đường mòn về nhà, chiếc vòng trong tay rung rung, nó tự động xoay tròn ba lần bên trái, bảy lần bên phải rồi bật tiếng khóc ư hử. Lạ quá! Một đôi chim trong suốt, đuôi dài như đuôi chim trĩ, chim công bay ra. Đôi chim tíu tít bay quanh như muốn hút lấy hết mùi thơm trên cánh đồng quỳ hoang dại:

Củ nghệ vàng em tắm lúc chiều hôm

Đêm nằm anh càng thương, càng nhớ

Ơ! Đó là giọng của Đăm, Đăm hay hát như thế trong những lần hẹn hò, khi chờ mình đến . Giọng hát đã làm mình chao đảo, trái tim mình rộn ràng như hoa nở, cái đầu lúc nào cũng líu lo niềm vui. Mình mang tiếng hát ấy lên lớp học tiếng Kinh, mang khi ra bờ suối giặt váy và lúc tỉa bắp với amai adei trên đồi. Chưa hết ngạc nhiên, con chim mái hát đối đáp:

Gửi bông hành, bông nghệ nhớ không thôi

Em mong anh đã lâu

Như em mong chim phí

Em đợi anh đã nhiều

Như em đợi chim giong

Ơ! Đó là giọng của mình, mình đã bắt aduôn dạy nhiều klei duê về tình yêu ,khi mình bắt đầu biết cúi mặt mắc cỡ vì mặc tấm váy đẹp đi qua trước mặt thằng con trai. Aduôn mình đã già hơn cây M’nut cạnh bìa rừng, lưng còng hơn chiếc cần uống rượu, nhìn mặt người nhập nhoạng trắng đen, nhưng trong đầu aduôn lúc nào cũng đầy ắp klei duê. Mình biết Đăm khi hai đứa còn địu trên lưng amí đi khắp các quả đồi tỉa lúa rẫy. Đăm sinh ra đã là “Người có môi thần cho. Miệng thần tạo. Tai dính chặt với đầu. Là người có tài hát kưt, muin, ayray”. Yêu Đăm, muốn đắp tấm chăn cùng, đêm đêm được nằm trong đôi tay săn chắc và đen bóng của anh ấy mình phải học thật nhiều klei duê, hát airei đối đáp. Aduôn mình mừng vì con cháu chịu học câu nói xa xưa của ông bà. Ngày ngày ra dring giũ váy, xoã tóc cười tủm tỉm và hát airei.

Đôi chim nhìn nhau rười rượi buồn, gió thốc mạnh đưa tiếng dế rỉ rả ra xa, đưa ánh sáng đóm đóm lại gần, đưa tiếng hát chim đực bên trái, con chim cái lắng nghe bên phải:

Ơi em!

Một trái dưa chẳng quên

Một trái bắp cũng dành cho nhau là thế

Đừng quên anh khi mặt trời đỏ hửng

Nhớ nhau mãi cho đến lúc mặt trời khuất núi

Tim mình nhói quá, tựa không thở được, có con ma rừng đang bóp bên trong. Đôi chim lượn lượn một vòng tròn lớn quanh cánh đồng quỳ mênh mông rồi tiến thẳng về Vực Yang Tao. Đó là vực thẳm sâu hun hút, đứng cạnh vực này nhìn buôn tây thấy bầu trời tối mịt, ngó buôn đông thấy sấm chớp nổi giận đùng đoàng. Chưa một ai nhìn thấy đáy . Đó là khu vực người già cấm kị nhất trong vùng thảo nguyên của tù trưởng Ma Đrăk, nghe nói nhiều đôi trai gái đã gieo mình xuống dưới chết chung, vì tình duyên không thành. Có lần Đăm kể cho mình nghe về chuyện tình Y’ Du và H’ Jan “Cách đây không lâu Y’ Du, H’ Jan đã nhảy xuống dưới Vực Yang Tao. Cuộc hôn nhân của họ không được người già chấp nhận. Buôn Y’Du và buôn H’ Jan có mối thù nặng như ghế Kpan mười người khiêng, như tảng đá to trăm người vác. Vết khắc trên cây Tang vẫn còn, trí nhớ của người già chưa hết, bến nước hai buôn vẫn còn ngăn. Buôn H’ Jan không được rước Y’Du về, buôn Y’ Du không cho phép con trai làm rể bên nhà buôn ấy. Vậy là họ rủ nhau chết chung. Năm ấy dã quỳ thi nhau nở rộ kín mít, trải dài đến chân núi, sáng rực cả một vùng trời. Một đêm trời nhuốm màu đen đặc, rơi những hạt mưa to như nước trút, quất những trận gió lớn dữ dội. Người ta không thấy Y’Du và H’Jan trộm yêu đương nữa. Người già nhất buôn mơ thấy Yang Bến Nước về báo mộng. Ngài giận, uống rượu cần xoay lưng, con cháu đưa chén thịt không thèm nhìn, chén cơm trắng muốt chẳng buồn ngó. Ngài giận vì mối thù lâu lắc, hàng trăm con trăng rồi mà mọi người chưa quên để giờ làm khổ con cháu. Vậy là sáng hôm sau người ta không thấy vết khắc trên cây Tang đâu, bến nước đã hoà cùng dòng chảy, hai buôn đã chịu nhìn mặt nhau, trai gái tự do hò hẹn.”  

 Mình nức nở khóc từ khi câu chuyện chưa dứt. Đăm dỗ nín hoài. Mình không thương cho Y’ Du, H’ Jan, ít ra họ cũng bên nhau cho đến lúc chết. Mình thương mình. Mình yêu Đăm nhiều quá, lỡ một ngày anh ấy bỏ mình đi...

Rồi mình chạy theo đôi chim về phía Vực Yang Tao. Nhành cây ven đường kéo tay, cây gai kéo áo, cục đá ven đường níu giữ đôi chân. Chẳng ích gì, mình không muốn sống nữa. Không muốn nghe thấy tiếng ching rộn ràng đưa Đăm xuống cầu thang. Không muốn nghe tiếng cười nói của dăm dei Đăm khi nhận của cải “bắt chồng” từ đàng gái. Không muốn khóc mỗi một mùa quỳ nở rộ, lúc ấy năm nào Đăm cũng ngắt một bông to nhất cài lên tóc xoăn tít của mình. Tha lỗi cho con gái hư khi không thể giặt váy lúc amí vào tuổi xế chiều. Tha lỗi cho con gái hư khi không thể giúp ama gùi nước đổ vào vào ché mỗi khi khách tới chơi... Mình sẽ chôn vùi tình yêu, kỉ niệm, chiếc vòng ... tất cả những gì thuộc về Đăm xuống Vực Yang Tao. Sẽ thả người rơi tự do từ trên cao xuống theo đôi chim lạ. Chắc không đau vì người ta nói rằng Vực Yang Tao không có đáy, mình không sợ. Mình vắt nụ cười lắt lẻo trên ngọn cây cao trước khi chìm nghỉm vào giấc ngủ chập chờn....

Hôm nay nhà sàn thật đông, người lên xuống cầu thang không biết bao nhiêu mà kể, amí nói làm lễ cúng sức khoẻ cho mình trước khi xuống dưới Sài Gòn học làm cô giáo. Trong nhà cũng không ai dám nhắc tên Đăm, họ sợ chạm vào vết thương đang ri rỉ máu, họ không muốn nhìn mình lại nằm bất động cạnh Vực Yang Tao cách đây mấy hôm.

Lễ cúng bắt đầu, chinh k’nă sẵn sàng chờ nhau vào nhịp. Thầy Cúng bắt mình ngồi xoay về hướng đông, gần ba ché rượu cần nấu ba tháng, cạnh cây nêu vẽ máu heo cách đây hơn ba giờ. Thầy vẩy nước tung toé lên tóc, lên áo và lên váy. Nước mát được lấy từ giọt sương đêm, đựng trong chén bằng đồng sóng sánh. Mình nhìn thấy mặt Đăm trong đó, anh ấy đang ngắt đoá quỳ và cười. Nước mắt lăn theo bài cúng, dứt rồi lại chảy dài theo những nhịp chiêng bay bay. Mọi người nhìn mình ái ngại. Trong góc bếp amí lấy vạt váy châm chấm lên mắt. Mình ngồi im. Câm lặng như người chết trở về.

Ngày lên xe, amí cũng rưng rưng, amí nói đã đuổi được con ma xấu trong chiếc vòng hẹn ước. Ri – em mình đã kể cho amí nghe chuyện mình trộm đôi vòng đồng trong hòm “Amai trao vòng đồng cho anh Đăm, còn thề nếu không sống được chung nhà, cả hai sẽ nhảy xuống Vực Yang Tao”. Amí nói mình bị chiếc vòng đồng xui khiến, nó là vật linh thiêng, vật có linh hồn. Aduôn đã mua của người Chăm bán dạo để bắt chồng cho con gái lớn, chiếc vòng sẽ hành động dựa trên cảm xúc của người bị bội ước.

Hôm ấy, amí kể nếu Đăm không báo kịp thì không ai biết mình nằm ngất xỉu cạnh Vực Yang Tao. Mình tức khi amí nhắc đến Đăm, mình hận, mình quyết định xuống thành phố học để bắt đầu cuộc sống mới.

Chiếc xe khách lăn bánh, mình khóc nức lên như một đứa trẻ lần đầu xa nhà. Mưa tầm tã, tấm kính nhoè nước rỏ thành giọt long tong ngoài của sổ, mình lấy tay lau để nhìn rõ cánh đồng quỳ đang thụt dần phía sau nhưng sao mờ quá. Chiếc xe chạy xa dần, xa dần rồi khuất núi. Mình mang một gùi nặng những u uất, giận hờn, nhớ nhung xuống thành phố.

Sài Gòn bao dung đón nhận, tống vào đầu mình nhiều suy nghĩ, nếp sống mới lạ. Họ nói quên sạch sẽ thằng con trai xấu tính trên thảo nguyên ấy đi, dưới này nhiều trai đẹp và giàu có. Son thật thà, duyên dáng, mang nét hoang dại của núi rừng các “đại gia” xối xả chạy theo chứ chẳng đùa. Trở thành vợ đại gia rồi Son hãy trở về thảo nguyên, bằng xe hơi trắng tinh hẳn hoi nhé. Nhớ phả khói vào mặt thằng con trai xấu tính từng phản bội Son... Họ làm chiếc gùi sầu muộn bớt nặng dần, mình đã nhoẻn miệng cười, bắt nhịp với cuộc sống ồn ào như thác nước, cho đến một ngày nhận điện thoại của amí.

- Thằng Đăm chết rồi, hồi sáng. Nó bị hư gan nặng. Người ta sẽ chôn nó giữa cánh đồng quỳ...

Điện thoại trong tay mình rơi. Lời của amí ngắt quãng giữa chừng. Tiếng tút tút kéo dài và chìm vào khoảng không tĩnh lặng. Mặt lạnh và tái. Nước mắt không chảy, ứ lại giữa hai hốc mắt đang mở to nhìn trừng trừng về phía dãy nhà cao tầng màu trắng. Mình thấy Đăm giữa cánh đồng quỳ vàng rực, tóc bồng bềnh theo làn gió, anh ấy cười và say sưa hát airei.

Trở về thảo nguyên giữa mùa quỳ nở rộ. Mình mặc áo, quấn tấm váy có đường hoa văn mặt trời Đăm thích đứng trước mộ. Tháo chiếc vòng trên tay thả vào ché. Vòng rơi xuống đáy leng keng, âm thanh vang vọng thật dài.

Mình đứng đó nhớ Đăm – người thương đầu tiên .

27/3/2014

 

 

 

 

[...]
Xem tiếp

Diễn xướng nhạc múa dân gian Mnông

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-21-07

Tây Nguyên có hơn 20 dân tộc anh em bản địa, mỗi tộc người một sắc thái văn hóa riêng, hài hòa chung trong văn hóa vùng miền Trường Sơn – Tây Nguyên. Tín ngưỡng và hệ thống các lễ nghi – lễ hội chính là môi trường tốt nhất để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trường tồn theo thời gian, trong đó có nghệ thuật diễn xướng.

Nghệ thuật diễn xướng là hình thức trình diễn có công chúng. Một trong những đặc trưng của nghệ thuật dân gian là công chúng có thể vừa là người hưởng thụ ( khách thể), vừa là người trình diễn (chủ thể).Thậm chí còn là người sáng tạo ( tạo tác). Diễn xướng bao gồm nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau : trình diễn nhạc đàn, trình diễn múa, trình diễn con rối, trình diễn nhạc hát … Toàn bộ những yếu tố trình diễn trên được tiến hành trong hoặc ngoài nhà sàn hay tại nương rẫy hoặc nơi nhà mồ, kết hợp cùng nghệ thuật tạo hình ( trang phục, cột lễ cúng, tạc tượng gỗ…), nghệ thuật ẩm thực

( các món ăn, đồ uống, hút ), bên cạnh diễn tấu của các thành tố văn học ( kể chuyện cổ tích, răn dạy con cháu, hát – kể trường ca…) …; làm thành một tổng hòa của “ Không gian văn hóa” các tộc người thiểu số tại chỗ Tây Nguyên, đã được tổ chức Quốc tế Unesco công nhận là  “ Di sản văn hóa phi vật thể truyền khẩu của nhân loại”.

Nghệ thuật diễn xướng Mnông ngoài hát dân ca còn có :

Trình diễn nhạc đàn :

                                                                        Dàn chưng Mnông trình diễn tại Đan Mạch

 Khu vực miền núi Trường Sơn – Tây Nguyên, là nơi có sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng về loại hình nhạc đàn ( khí nhạc) hiếm có nơi nào sánh bằng. Tộc người Mnông tuy có ít nhạc cụ hơn so với những tộc người khác, nhưng cũng vẫn rất phong phú về hình thức.

Một trong những sự cốt lõi của “ Di sản văn hóa” đó chính là các bộ gong chêng ( cồng chiêng) . Gong ching Mnông ở cả địa bàn tỉnh Đăk Nông và tỉnh Đăk lăk đều có hai loại : bộ 3 chiếc có núm gọi là gong và bộ 6 chiếc không có núm gọi là chưng ( hoặc chêng). Khác với một số tộc người như Ê đê, Jrai, Sê Đăng, Bâhnar trình diễn ching chêng là sự hợp tấu của cả những ching có núm và không có núm; người Mnông có sự tương đồng với tộc người K’Ho, Cil, Châu Mạ, Stiêng… trong việc diễn tấu riêng biệt bộ gong 3 chiếc có núm, hoặc bộ chưng ( chêng) 6 chiếc không có núm.

Dàn chêng sáu của người Bu noong Preh, khi trình tấu có hai chiếc giữ nhịp trì tục của bè trầm: Chêng Me tiết tấu nhịp đơn,  chêng Ng’râm tiết tấu nhịp kép,  chêng tê - chiếc chêng nhỏ nhất-cũng trì tục, nhưng đảo phách giữa hai chêng lớn. Ba chiếc chêng ở giữa đi giai điệu. Có một điều rất đặc biệt là người Pu Noong Preh truyền dạy gong chêng không chỉ  hướng dẫn cách đánh, mà còn bằng phương thức đọc tên các chêng theo giai điệu của những bài chêng đó, ví dụ như n’dớt, n’dớt, n’ớt, tr’u,tr’ơ...Nhưng cũng chính vì cách đọc truyền miệng này, mà một số bài chêng cổ và có tiết tấu khó đã thất truyền, vì không ai còn nhớ giai điệu nữa.

Ngoài bộ chưng bo, gong chêng, người Mnông ở Đăk Nông còn có bộ ching Prăk, là ba cặp ching đồng có núm, hình dạng nhỏ như cặp bát úp, tương tự như những chiếc xập xòa của người miền xuôi, nhưng dày hơn. Rất quý hiếm. Chỉ xử dụng khi có những lễ nghi thật đặc biệt, của những gia đình được coi là có quyền thế đối với một vùng rộng lớn.

Bên cạnh các bộ gong chêng ( chưng) bằng đồng, các vùng cư trú tập trung của người Mnông (Lăk, Đăk Rlâp…) đều phát hiện được những thanh đá kêu đã có sự ghè đẽo và sắp xếp để tạo nên âm thanh & tiết điệu tương ứng với bộ gong chêng bằng đồng, được gọi là gong lú ( ching đá) . Thậm chí còn có ý kiến cho rằng “ Người MNông là chủ nhân đích thực của những bộ đá kêu – đàn đá ” đã từng được phát hiện.

Gong chưng Mnông thuộc loại diễn xướng động. Khi trình tấu , cả dàn thường đi vòng tròn ngược chiều kim đồng hồ quanh cột gâng ( ngoài nhà) hoặc trong nhà sàn. Chỉ có gong lú ( ching đá) đánh ngoài rẫy hay ngoài suối sẽ phải buộc lên cây hoặc giá treo nào đó và đứng tại chỗ để trình tấu.

Bên cạnh đó việc trình diễn nhạc đàn cũng rất phổ biến với nhiều loại nhạc cụ bằng tre nứa trình diễn theo phương thức dùng hơi thổi ( rlet, m’buốt, wao, nung, guach, n’hôm…), dùng tay hoặc dùi gõ ( đing gơr, gơr) , hoặc dùng tay để gảy ( goong kla, goong ring ) …rất đa dạng.

Có những loại nhạc cụ chỉ dùng trong những lễ nghi như nung, rlet.Có những loại chỉ dùng trên rẫy như goong kla, wao, n’hôm.Có những loại dùng trong sinh hoạt đời thường như mbuot, hoặc guach ( đàn môi).

So với nhạc cụ của một số tộc người anh em Tây Nguyên, hình dạng có thể giống nhau, như Wao giống với đinh buốt, đinh kle của người Ê đê, Gong kla giống với gong reng , Nung với Ki pah ( Ê đê)- pơ nung ngkae ( K’Ho), nhưng môi trường diễn xướng có khi lại khác nhau. Như cây kèn Đinh năm ( Ê Đê) – m’buốt ( Mnông)- K’Mbuôt ( K’Ho) giống nhau ở trái bầu và sáu ống nứa, nhưng tộc người Ê đê chỉ được thổi ngoài nhà mồ khi có tang lễ, thì với người Mnông, sáng sớm mờ sương, trong tiếng chày giã gạo bậm bịch của những người vợ tảo tần, dưới mái nhà vòm, có tiếng Mbuốt du dương dỗ con  ngủ tiếp của những người cha .

Trình diễn múa :

                                                             Múa dân gian Mnông

Các nhà khoa học chia các tộc người tại chỗ Tây Nguyên làm hai nhóm ngữ hệ Môn –Khơmer và Malayo – Pôlinisieng; nhưng trong nghệ thuật múa lại có những sự trình diễn tương đồng không cùng nhóm ngôn ngữ; như giữa các tộc người Bâhnar, JRai, Sê Đăng, Chăm Hroaih có cả  múa nghi lễ lẫn múa sinh hoạt. Ngược lại, các tộc người Mnông, Ê đê, K’Ho, Châu Mạ…hầu như không xử dụng múa trong sinh hoạt mà chỉ có múa trong nghi lễ. Múa Mnông cũng chỉ xuất hiện trong một vài nghi lễ, như trong các lễ trưởng thành cho con trai, con gái của các gia đình giàu có, nhất là các lễ cúng có ăn trâu của cộng đồng.

Nếu múa của các tộc người Ê đê, Jrai, Baahnar, Sê Đăng…có sự tham gia đầy đủ và ngang bằng về số lượng của cả nam và nữ, thì nghệ thuật múa của tộc người Mnông là sự trình diễn, phô bày nhan sắc, hình thể của phái nữ, rất ít có múa nam. Tuy nhiên, trong lễ ăn trâu, khi có nhiều bon làn khác cùng đến tham gia, thường có màn đấu chêng giữa các đội. Trong tiếng chêng rộn ràng và hứng khởi vì được thưởng rượu, tất cả những người tham dự, kể cả người xem lẫn người trình tấu, đều nhún nhảy cả thân hình ( chân, hông, mông) theo nhịp điệu từng bài chêng. Tinh thần của cuộc đua tài càng hăng, tiết tấu chêng càng nhanh, sự chuyển động cũng mạnh mẽ theo từng nhịp điệu.

Múa Mnông tương đồng với các tộc người Tây Nguyên khác ở chỗ sử dụng động tác tay và mông nhiều hơn động tác chân. Các động tác múa mô phỏng hình dạng thiên nhiên trong môi trường sống của con người ( đuôi vẫy của chim chìa vôi), hoặc động tác lao động sản xuất ( suốt lúa, giã gạo, làm cỏ, dệt vải…).

Tuy ít ỏi và có phần đơn giản, nhưng động tác múa Mnông rất độc đáo, khác với những tộc người xung quanh. Ví dụ như múa trong các lễ cúng Yang thường có động tác lưng khom xuống, cong toàn bộ, rất thành kính nhưng lại bộc lộ một cách rất lộ liễu, dường như để khoe phần ngực và cặp mông rất tròn đầy của những người con gái. Hoặc động tác múa lắc bầu ngực vô cùng quyến rũ trong lễ  trưởng thành dành cho người con gái; động tác múa cọ vòng tay, vỗ bắp tay khỏe khoắn trong lễ trưởng thành của những chàng trai đến tuổi vị thành niên.

Nghệ thuật đàn và múa luôn luôn chiếm vị trí quan trọng, cuốn hút trong mọi không gian lễ nghi, lễ hội truyền thống của người Mnông

 

[...]
Xem tiếp

Món ăn đặc biệt của người Cơ Tu

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-21-07

Hàng năm, khi những cơn mưa cuối mùa và những trận lụt đã dứt, đồng bào Cơ Tu ở miền núi phía Tây Quảng Nam lại rủ nhau men theo các bờ suối để đào tìm một loại côn trùng có tên là Cơ đang (sùng đất) về làm thuốc cường dương. Từ lâu, loài côn trùng này đã trở thành bí quyết phòng the hữu hiệu của các quý ông nơi đây. Theo lời lưu truyền thì thời xa xưa, những người đàn ông Cơ Tu giàu có thường lấy năm bảy vợ mà bà nào cũng đẻ “sòn sòn” là nhờ ăn các món làm từ sùng đất.

 
 
                                                           Sùng đất, món ăn đặc biệt của người Cơ Tu

“Viagra truyền thống”


Cho đến nay, đồng bào Cơ Tu ở miền núi phía Tây Quảng Nam vẫn lưu giữ một món ăn truyền thống được xem là Viagra cho các quý ông nơi đây từ xa xưa. Đó là món “thiên niên kiện” được nấu bằng con “cơ đang” với cây đọt non. Cơ đang là tên mà đồng bào nơi đây gọi sùng đất – loài côn trùng có thân bằng ngón tay út người lớn, màu trắng ngà, hoặc trắng xanh, hoặc vàng. Đầu màu cánh kiến cứng, có hai răng màu đen nằm ngang. Đọt là một loại cây có thân mỏng, giống cây nứa. Món ăn này có tên đặc biệt như vậy cũng xuất phát từ công dụng tuyệt vời của nó trong việc tăng cường khả năng “yêu” cho nam giới. Theo tiếng Hán: thiên là ngàn, niên là năm, kiện là khoẻ mạnh, tráng kiện – thiên niên kiện là “ngàn năm tráng kiện”. Trong đó, sùng đất chiếm công dụng quan trọng nhất, bản thân nó đã được coi là bí quyết “giường chiếu” của đàn ông Cơ Tu từ bao năm nay. Thực tế, những người dân miền núi nơi đây chưa hề đọc một tài liệu khoa học nào chứng minh con sùng đất có tác dụng trong y học. Tuy nhiên qua thực tế sử dụng, họ nhận ra thịt sùng đất rất ngon, ngọt đậm như thịt gà, không chỉ có tác dụng trong “chuyện ấy” mà còn làm giảm dần các cơn đau khớp, nhức mỏi.


Sùng đất là ấu trùng của con bọ hung, chúng chuyên ăn phá mía non, khoai mì. Sùng đất ăn mía có màu vàng đậm, còn loại ăn khoai mì có màu trắng, to hơn sùng mía. Theo các già làng kể lại, ban đầu người ta không dám ăn các loại sùng này vì hình dáng “nhờn nhợn” của chúng nhưng rồi cuộc sống nghèo đói “cái gì cũng cho vào miệng” nên họ “nhắm mắt ăn liều” và không ngờ nó lại ngon và bổ đến thế. Các già làng kể rằng, xưa kia, đàn ông Cơ Tu được thoải mái trong việc lấy vợ, đặc biệt là những người giàu có. Theo đó, những người đàn ông quý tộc nhiều của cải thường 5-7 bà vợ, người bình thường cũng 2-3 bà. Đặc biệt là có những ông đã qua tuổi “thất thập cổ lai hi” vẫn còn lấy vợ bé và sinh “sòn sòn” mấy đứa con nữa. Trước đây, khi bí quyết phòng the của đồng bào Cơ Tu chưa được khám phá, người ta nghĩ rằng cuộc sống hòa với thiên nhiên và nguồn thảo dược dồi dào từ rừng núi nơi đây mới là điều giúp đàn ông nơi đây sung mãn đến vậy. Tuy nhiên, sự thực lại nằm trong loài côn trùng có hình dạng bên ngoài “ghê ghê” – con Cơ đang. Khi mùa Cơ đang đến, những người đàn ông Cơ Tu thường kéo nhau đi bắt loài côn trùng này về chế biến thành món ăn “ngàn năm tráng kiện” truyền thống, các món nhậu khác hoặc ngâm rượu uống cả năm để tăng cường sinh lực, làm hài lòng tất cả các bà vợ trong “khoản ấy”.


Thông thường, sùng đất trưởng thành vào mùa mưa, độ vào giữa tháng 8 cho đến hết tháng 12 (Âm lịch). Vì chu kì vòng đời của loài côn trùng này ngắn như vậy nên đến mùa sùng đất, đồng bào Cơ Tu lại tranh thủ hết sức có thể để “hái lộc” trời cho này. Ngoài món ăn truyền thống cơ đang um với đọt non, sùng đất còn được chế biến thành nhiều món khác nhau, từ xào, luộc, nướng… Tuy nhiên, hai món mà người dân địa phương hay làm nhất vì nhanh và ngon miệng là sùng xào hoặc nướng. Sùng đất là loại côn trùng sạch, bởi chúng sống ở những vùng đất xa khu dân cư và ăn rễ các loại cây không độc hại. Nơi phun nhiều thuốc trừ sâu hay thuốc diệt cỏ thì hầu như không tìm được sùng. Vì vậy, sùng đất sau khi đào được chỉ cần rửa sạch đất cát rồi luộc hoặc nướng sơ qua cho chín vừa. Sau đó ướp gia vị hành, tiêu, ớt, tỏi, củ sả tươi, mắm muối như ướp thịt, càng nhiều sả càng thơm, để khoảng 30 phút cho gia vị ngấm đều rồi mới làm các món ăn.


Biệt dược phòng the thành “đặc sản”

Bí quyết phòng the từ con Cơ đang được lưu truyền bí mật trong cộng đồng người Cơ Tu trong một thời gian dài cho tới những năm gần đây, khi cuộc sống của đồng bào không còn bó hẹp trong phạm vi bản làng nữa. Sự giao lưu, trao đổi thông tin và sự nhập, di cư giữa các vùng khiến bí mật của người Cơ Tu khai lộ. Công dụng “một người khỏe hai người vui” của sùng đất khiến nó trở thành món ăn “đặc sản” được săn lùng nhiều nhất vùng rừng núi phía Tây Quảng Nam hiện nay với giá mua tận gốc đã là 300.000 đồng/kg. Lúc trước, sùng đất nhiều vô kể, người dân đào về còn cho gà ăn. Nhưng vài năm trở lại đây nhiều nhà hàng, quán ăn, hay các tay sành nhậu… xuống tận nơi để thu mua với giá cao thì thậm chí, người dân địa phương giờ cũng không dám ăn món ăn truyền thống của đồng bào mình mà dành để bán lấy tiền. Vào mùa, săn sùng trở thành một nghề mang lại nguồn thu nhập cao cho các hộ gia đình. Theo kinh nghiệm của những “tay săn” lâu năm thì chỉ cần nhìn cây cỏ trên mặt đất, chỗ nào bị héo úa hoặc chết là xác định được nơi có sùng đất vì con sùng thường đào bới và cắn đứt rễ cây cỏ để ăn. Ngoài ra, những nơi nào có lợn rừng ủi thì nơi đó chắc chắn sẽ có nhiều sùng đất vì lợn rừng rất thính và chúng rất khoái ăn sùng. Tuy nhiên, muốn bắt những chú sùng lớn, béo mập, người ta chủ yếu phải tìm đến bãi bồi ven suối.

                                                                          Người dân rủ nhau đi đào sùng đất


Trong Đông y, Nam y, sùng đất cũng được các thầy thuốc sử dụng từ lâu, tuy chưa có tài liệu y học nào ghi nhận việc loại côn trùng này có tác dụng trong việc tăng cường khả năng “giường chiếu”. Theo Từ điển Động vật và khoáng vật làm thuốc ở Việt Nam (Nhà xuất bản Y học 1998) của tác giả Võ Văn Chi thì sùng đất là ấu trùng của loài bọ hung Holotrichia Sauteri Moser, thuộc họ Sùng đất - Melonihidae. Là dạng ấu trùng biến thái thường gặp trong đất, ăn rễ cây và ăn lá cây, thường gặp nhiều ở vùng đồng bằng. Ấu trùng phơi khô cũng dùng như ấu trùng của loài Holotrichia Diom Phalia Bater. Khi phơi khô, ấu trùng có tên là Tề tào, vị mặn, tính bình, có độc, có tác dụng phá huyết, hành ứ, tán phong bình suyễn, thông sữa, minh mục khu ế. Tề tào dùng trị vết thương té ngã ứ huyết, đau phong, phá thương phong, đau họng, mắt có màng, ung nhọt, lở trĩ. Dùng uống ở dạng hoàn tán, dùng ngoài tán bột rắc hoặc giã đắp. Tuệ Tĩnh cũng đã viết trong Nam Dược Thần Hiệu rằng: “Tề tào - con sùng đất, vị mặn, tính hơi ấm, có độc, phá huyết, thông kinh, trị nhọt ở nách, gãy xương, mắt mờ, phong lở”. Hải Thượng Lãn Ông thì ghi nhận trong Lĩnh Nam bản thảo: “Tề tào tục gọi con sùng đất/ Hơi ôn, vị mặn, tính độc thật/ Phá huyết, thông kinh, chữa nhọt sườn/ Chữa gãy xương, mụt phong, màng mắt”.

 Gia Khang 

Vị thuốc quý trong Đông y


Về việc sử dụng sùng đất để tăng cường “bản lĩnh đàn ông”, lương y Phó Hữu Đức, Hội Đông y Hà Nội cho biết: “Sùng đất là một vị thuốc quý được sử dụng trong Đông y từ lâu. Các thầy thuốc thường dùng nó để trị chứng mụn nhọt còn về tác dụng trong chuyện “gối chăn” thì tôi chưa nghe ai nói cũng chưa thấy tài liệu y học nào ghi nhận. Có lẽ đây chỉ là kinh nghiệm dân gian của đồng bào miền núi, rồi qua lời đồn thổi biến thành “thần dược”. Dựa trên kinh nghiệm của chính người sử dụng cũng có thể đánh giá được phần nào công dụng của vị thuốc nhưng phải nghiên cứu trên cơ sở khoa học và trên diện rộng. Bên cạnh đó, côn trùng sống dưới đất luôn tiềm ẩn những độc đố, vì vậy người dân cũng nên cẩn trọng trong quá trình chế biến và sử dụng”.

 

 

 

 

 

[...]
Xem tiếp