Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Nghệ sỹ ưu tú Y Joel Knul

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-29-08

    Tối 1//2016, Sở VHTT&DL Đăk Lăk  tổ chức đêm nghệ thuật “ Những đứa con của đại ngàn” tôn vinh, trao bằng công nhận “ Nghệ nhân dân gian” cho các nghệ nhân xuất sắc của buôn làng; và trao bằng NSND cho trưởng đoàn ca múa dân tộc Y San Aleo, NSƯT cho ca sỹ Y Zoel Knul, vì sự cống hiến cho nghệ thuật diễn xướng các dân tộc tỉnh Đăk Lăk        

                                                  

Với một giọng hát đầy nội lực như nhiều người con Tây Nguyên sinh ra và lớn lên trong âm hưởng tuyệt đẹp của ching chêng và nhạc điệu hồn nhiên trong trẻo của  rừng suối, Y Zoel Knul  đã từng thi đỗ và là học sinh khoa thanh nhạc của trường Trung cấp VHNT tỉnh.  Do hoàn cảnh gia đình trớ trêu, Zoel sớm phải rời ghế nhà trường quăng mình vào cuộc sống. Đắm chìm trong những cơn say mong giải tỏa được nỗi buồn và tình yêu nghề gặm nhấm tâm hồn, không tấm bằng nghề nghiệp trong tay, Zoel lang thang hết đơn vị nghệ thuật ở huyện này, ở tỉnh Đăk Lak lại đến Đăk Nông. Cho mãi đến ngày Đoàn Ca múa dân tộc Đam San mở rộng vòng tay đón nhận cả hai vợ chồng. ( H’Loen vợ anh cũng là một ca sỹ). Ổn định được cuộc sống gia đình, Zoel như cánh chim Gur Tuk của đại ngàn, thỏa sức vẫy vùng cất tiếng hót vang bầu trời âm nhạc cao nguyên. Anh và các bạn nghề ở đoàn Đam San mang lại nhiều HCV, HCB và cả hàng ngàn những tràng vỗ tay cho giọng ca đầy sức sống của đại ngàn.

Cho đến một ngày hình như Yang hé mắt nhìn xuống trần gian, nhận thấy sự bất hợp lý, rằng vợ chồng ca sỹ Y Zoel Knul phải trở về hát trên chính quê hương mình. Sở VHTT Đăk lăk đã vượt mọi thủ tục, tạo mọi điều kiện để vợ chồng Y Zoel trở lại môi trường nghệ thuật tỉnh nhà.   An cư thì lạc nghiệp, Y Zoel lăn mình vào ca hát. Anh không chỉ là giọng ca chính của đoàn, mà còn tự mày mò học máy tính, để trở thành một trong những tác giả phối khí nhuần nhuyễn cho đội ca mà anh phụ trách. Dường như âm nhạc chất đầy một ngày chưa vơi được năng lượng tràn đầy của Zoel.

Cuộc sống của người nghệ sỹ không thoát khỏi tấm lưới chụp xuống, thít chặt của cơ chế thị trường. Vợ chồng Zoel chấp nhận mọi hình thức ca hát để nuôi sống gia đình nhỏ và theo đuổi con đường âm nhạc chuyên nghiệp. Anh không từ chối bất cứ cuộc biểu diễn nào, ở bất kỳ nơi đâu. Miễn là được hát. Mọi nẻo đường đất nước từ Nam ra Bắc, mọi buôn làng với những con đường đất đỏ còn gập ghềnh. Kể cả vượt biển khơi xanh ra quần đảo Trường Sa hát với những người chiến sỹ giữ nước , hay cùng đồng nghiệp thắt chặt tình đoàn kết với bạn Lào, Campuchia bằng chính nghệ thuật của quê hương mình.

Sở hữu chất giọng nam cao sáng khỏe và đầy truyền cảm, các HCV, HCB cho tiết mục đơn ca, tình cảm yêu mến của khán giả những khi  anh cất tiếng hát, là con đường dẫn Y Zoel Knul tới danh hiệu NSƯT mà anh rất xứng đáng được trao nhận.

 Hy vọng rồi Đăk Lăk sẽ có nhiều những người Nghệ sỹ tài năng, giàu nghị lực và tâm huyết với nghề như thế, tiếp tục được Nhà nước trao tặng những danh hiệu cao quý.

 

[...]
Xem tiếp

Thiếu tướng Nay Phao trong ký ức của những người con

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-23-08

Trong khi tìm tài liệu đặt tên đường ở BMT, tình cơ tìm được bài viết này. Xin đăng lại để mọi người hiểu & yêu thêm về người TN

Tự hào là cảm xúc đầu tiên tôi cảm nhận qua ánh mắt lấp lánh của những người con trai, con gái Thiếu tướng Nay Phao – Nguyên chỉ huy trưởng bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đắk Lăk - khi họ nhắc nhớ về ba mẹ mình.

 

Thiếu tướng Nay Phao & Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Nay Phi La, hiện đang là Phó  bí thư thành ủy TP.Buôn Ma Thuột, không giấu diếm niềm xúc động khi nhắc về ba mẹ và những kỉ niệm ấm áp, giản dị của họ. “Ba và mẹ tính tình trái ngược nhau. Ba điềm tĩnh, chậm rãi, nhẹ nhàng, còn mẹ lại sắc sảo, có phần “dữ” hơn ba”.  Có lẽ, vì đó mà ba và mẹ là mảnh ghép hoàn hảo dành cho nhau. Cả cuộc đời gắn bó bên nhau, chúng tôi chưa một lần thấy ba mẹ to tiếng, nặng lời. Ba mẹ có sự đồng thuận, nhất trí trong sự phấn đấu cho lý tưởng chung của Dân tộc cho tới quan điểm nuôi dạy con cái.”

          Cậu bé Nay Phao mồ côi cha mẹ từ nhỏ, lớn lên trong sự bao bọc, cưu mang của dì và các sơ. Vốn là đứa trẻ thông minh, ham học hỏi, khao khát cái chữ, Nay Phao được cho ăn học chỉn chu và tới năm 1945, cậu đi theo tiếng gọi của Cách mạng.

               Chàng trai Nay Phao vinh dự là người đầu tiên của Tây Nguyên được đào tạo chính quy tại trường sĩ quan ở Việt Bắc (trường Sĩ quan lục quân I). Ở bất cứ đơn vị nào, Nay Phao đều được bạn bè, đồng đội yêu mến bởi đức tính hiền lành, thật thà, chất phác đặc trưng của người đồng bào, và bởi sự tài tình, nhanh nhạy trong chiến đấu.

               Trong một lần đang trực chiến tại đơn vị E205, Trung đoàn Thông tin, Thủ trưởng dẫn tới một cô gái nhỏ nhắn, xinh xắn, có làn da bánh mật khỏe mạnh và giới thiệu: “Đây là cô H’Bhôk Byă, đồng hương với cậu. Hai người làm quen với nhau nhé”.

              Liền ngay đó, Thủ trưởng kể một loạt chiến tích vẻ vang mà người con gái bé nhỏ gặt hái được trong kháng chiến. Cô ấy được phong tặng dũng sĩ diệt Mỹ, mới đi dự Đại hội Festival Xô – Phi – a ở Liên Xô về, hiện thời đang theo học năm thứ nhất Đại học Y.  Nghe những lời của Thủ trưởng kể, cảm xúc nể phục người con gái nhỏ nhắn trước mặt âm thầm bừng lên trong lòng anh.Và trong lòng cô gái dũng cảm H’Bhôk cũng đã thầm cảm phục chàng trai Nay Phao, bởi đi tới đâu cô cũng nghe đồng đội, anh em chiến sĩ rỉ tai nhau, trầm trồ người chiến sĩ gan dạ, thông minh và đặc biệt có năng khiếu hài hước Nay Phao.

                Sau một thời gian làm quen, tìm hiểu, họ tìm được nhịp đồng điệu trong tâm hồn, lý tưởng, tình yêu đến như một điều tất yếu. Không lâu sau đó, đám cưới giản dị diễn ra ngay tại Ủy ban Dân tộc ở phố Ngọc Hà, Hà Nội, do chính đồng chí Võ Nguyên Giáp làm chủ hôn. Buổi lễ hôm ấy chú rể rắn rỏi, oai phong trong bộ quân phục, cô dâu mặc áo dài trắng, kết vòng hoa trắng trên đầu. Chỉ dăm chiếc kẹo lạc, vài chén trà xanh đã đủ ấm nồng tình đôi lứa.

            Sau đám cưới, chú rể đèo cô dâu trên chiếc xe đạp Thống Nhất ra công viên Thống Nhất chụp ảnh kỉ niệm – những tấm ảnh đen trắng ấy hiện nay vẫn được những người con của họ nâng niu, gìn giữ và coi như kỉ vật thiêng liêng, ghi dấu khoảnh khắc trọng đại trong cuộc đời của ba mẹ họ.

             Thiếu tướng Nay Phao & vợ 

               Năm 1968 kết hôn, tới năm 1969, người con đầu tiên chào đời và được đặt tên là Nay Phi La. Sau ấy, ông đi miết, tới năm 1972 về nhà thăm vợ con được một tối rồi lại vội vã lên đường làm nhiệm vụ. Người con thứ hai chào đời trong sự gặp gỡ vội vàng, nhưng ấm áp đó.             Từ ngày thêm cô con gái Hương Giang, niềm hạnh phúc đồng hành cùng nỗi khó khăn nhân lên gấp bội, đổ dồn xuống đôi vai bé nhỏ của mẹ. Trong kí ức mỏng manh của cậu con trai Phi La  "Tôi còn nhớ, ngày ấy 3 mẹ con được bố trí cho ở Khu tập thể của Trường Dân tộc nội trú ở khu Thanh Xuân Bắc, căn phòng rộng 16m2 chứa đựng tất cả sinh hoạt của ba mẹ con từ ăn, ngủ, nấu nướng, vệ sinh…

          Ban ngày mẹ đi làm, hai anh em bị nhốt trong nhà tự chăm lo cho nhau một cách đầy vụng về, sơ sài, nhìn ra ngoài khung cửa sổ và thèm khát được tự do bay nhảy, khám phá thế giới rộng mở ngoài kia. Cả tôi và cô em thứ hai đều không biết mặt ba, có chăng được gặp ba qua lời kể của mẹ và tấm ảnh cưới chụp chung của hai người.Tôi còn nhớ buổi chiều hôm đó, đang chơi ngoài sân khu tập thể, tôi thấy trên trời xuất hiện hàng vạn mảnh giấy bướm mỏng tựa như sao trên trời rơi xuống đất. Tò mò con trẻ, nhặt tờ giấy ấy đưa cho mẹ chợt thấy mẹ ôm chầm lấy tôi và vừa khóc vừa cười: “Giải phóng rồi! Đất nước giải phóng rồi”.

                 Còn quá nhỏ để cảm nhận được giây phút tuyệt diệu ấy, nhưng thấy mẹ cười, tôi biết đó là điều may mắn và trong đầu tôi lúc ấy, một suy nghĩ vụt xuất hiện: “Đất nước hòa bình tức là ba sắp được trở về”.Vậy mà, chừng hơn một tháng sau ba trở về, tôi và cô em gái Hương Giang khóc ầm ĩ, giẫy nảy, và chằn ra khỏi vòng tay của ba. Một hai vẫn kiên quyết gọi “chú bộ đội” vì suốt 7,8 năm nay, chúng tôi đâu được gặp ba, đâu biết mặt ba.Sau này nhớ lại khoảnh khắc ấy, vừa thương ba, vừa thương cho những đứa trẻ thế hệ tôi lúc ấy, thiếu vắng tình cha suốt một quãng đời thơ ấu”.

           Ở nhà được một tuần, sau đó, vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn thông tin thuộc Quân đoàn 3 tiếp tục trở lại miền Nam, đảm đương trọng trách mới. Anh Nay Phi Hà – người con thứ ba của Thiếu tướng Nay Phao tiếp lời “Suốt bao nhiêu năm chiến tranh, ba và mẹ sống xa nhau. Cho tới sau này, khi đất nước đã giải phóng, tưởng rằng ba mẹ có thể đoàn tụ, xum vầy, nhưng hạnh phúc và mong mỏi giản đơn ấy không dễ dàng có được.Và hình như, cũng vì điều ấy, sau này có cơ hội trở về đoàn tụ với vợ con, dù đã một vị tướng, ba vẫn giản dị, đơn sơ, chiều chuộng người bạn đời và các con – giống như một cách đền bù ấm áp, ngọt ngào cho những năm tháng chiến tranh xa cách, thiếu thốn.Sống ở thời bao cấp, đồng lương của ba không đủ nuôi các con học hành, mẹ “huy động” cả nhà cùng lao động, tăng gia sản xuất ngoài giờ, tự trang trải cuộc sống hàng ngày.

            Đều đặn, mỗi chủ nhật hàng tuần mẹ đều họp gia đình lại, phân công công việc cho từng thành viên trong gia đình và đến chủ nhật tuần sau sẽ nghe báo cáo của từng người, xem xét tình hình hiệu quả lao động trong tuần vừa qua.         Mẹ luôn bảo, tổ ấm là do tất cả mọi người đồng lòng chung tay vun vén, khi cả nhà cùng lao động sẽ cảm nhận được khí thế, tinh thần hăng hái, tích cực và cũng là cách dạy chúng tôi sống có trách nhiệm với gia đình trong từng việc nhỏ nhất.

                 Ở đơn vị, ba là lãnh đạo, nhưng về nhà ba nhường chức “tướng” ấy cho mẹ. Cởi bỏ bộ quân phục, ba khoác trên mình tấm ảo trắng mỏng, xắn tay cùng vợ hái rau lang, băm rau chuối cho lợn. Với ba, hình như nhìn thấy nụ cười trên môi mẹ và chúng tôi là niềm hạnh phúc giản dị ông luôn muốn thắp lửa.Trong bữa cơm, chưa bao giờ chúng tôi ngớt tiếng cười trước những câu chuyện nho nhỏ, hài hước với lối kể chuyện chậm rãi, đủng đỉnh của chất giọng khàn khàn, trầm trầm của ba.

             Quãng thời gian 1985 – 1986 là đỉnh cao của công cuộc truy quét FULRO, và đó cũng là quãng thời gian “sóng gió” nhất trong gia đình. Nhiều lần, bốn mẹ con ôm nhau chạy lên tỉnh đội khóc nức nở vì nghe tin ba hi sinh.Nhưng, vài ngày sau ba may mắn trở về, mấy mẹ con chỉ biết khóc trong hạnh phúc khiến ba vừa ngạc nhiên, vừa xót lòng.

             Người ta đi chiến đấu, có khi mang về cho vợ con tấm vải, chiếc bình tông… chiến lợi phẩm thu được trong chiến tranh. Còn ba, mỗi lần về, quà cho mẹ là chiếc rổ, chiếc rá ba tranh thủ đan lát khi rảnh rỗi để mẹ đựng củ mì, củ khoai…

Với chúng tôi, ba là một người vĩ đại, có tâm hồn khoáng đạt, yêu tự do. Ba dạy chúng tôi những điều nhỏ nhặt, bình dị, giản đơn như việc phải quan sát kỹ con đường đi phía trước, lùa cây vào bụi rậm đánh động cho những động vật nguy hiểm trước khi tiến tới, sâu xa hơn là cách nhìn nhận cẩn trọng về thế giới xung quanh; dạy chúng tôi biết quý trọng thời gian, nâng niu và tận hiến từng khoảnh khắc đi qua trong đời…

               Còn mẹ - một người phụ nữ âm thầm song hành bên cạnh cuộc đời ba, đứng sau những chiến công của ba.Mẹ dạy chúng tôi nỗ lực vươn lên trong cuộc sống, quý trọng từng cơ hội gõ cửa, xóa bỏ mặc cảm là người Dân tộc không dám bộc lộ con người, tài năng của bản thân – thứ suy nghĩ từ lâu hình thành trong ý niệm của không ít người.

Phía sau thành công của ba, của anh em chúng tôi, phần lớn là công lao lặng lẽ, âm thầm của mẹ…”

               Sau này, khi Thiếu tướng Nay Phao bị tai biến, đau ốm và không thể đi lại được, bà H’Bhok (hay còn gọi là H’Lan) trở thành đôi bàn tay, đôi bàn chân ông. Bạn bè, hàng xóm tới thăm đều không khỏi nể phục sự chăm sóc tận tình, chu đáo của bà dành cho ông.Nhưng, cuộc đời luôn có những khúc ngoặt bất ngờ và con tạo vốn hay trêu ngươi người khó. Sau khi nghỉ hưu, không còn công tác ở bệnh viện Buôn Ma Thuột, bà dành hết thời gian chăm lo sức khỏe cho người bạn đời, nhưng không lâu sau đó, bà lâm trọng bệnh.

               Năm lần bảy lượt các con khuyên bà H’ Lan ra Hà Nội khám bệnh nhưng bà một mực từ chối, chỉ vì: “Mẹ đi, lấy ai chăm lo cho ba. Các con chăm sóc ba, mẹ cảm thấy không yên tâm”. Sau phải kèm theo lý do thuyết phục mẹ ra thăm lại bạn bè cũ cùng chung Đại học Y năm xưa, mẹ mới chịu lên đường, nhưng chỉ đi được 5 hôm, bà đã nằng nặc đòi trở về.

              Con trai Phi La từng học qua trường Y, nhìn vào kết quả chụp chiếu của mẹ, anh biết mẹ đang lâm bệnh nặng. Mấy anh em bàn nhau giấu mẹ, nhưng bản thân bà H’Lan cũng là một bác sĩ, bà hiểu rõ bệnh tình của mình và không muốn là gánh nặng cho các con. Quãng thời gian con trai Nay Phi Đô học ngoài Hà Nội, bà vẫn đều đặn điện thoại hỏi han sức khỏe, dặn dò con học hành chăm chỉ, cố gắng công tác tốt, dù bà đang bị bệnh tật giày vò, nhưng chưa một lần, chưa bao giờ bà mang đau đớn ra kêu ca, phàn nàn với các con.

                Đều đặn, cần mẫn như bao nhiêu năm lặng lẽ chăm sóc chồng khi ông bị tai biến, bà vẫn giữ thói quen ấy mặc cho căn bệnh tàn phá từng tế bào trong cơ thể. Song, bàn tay số phận đã an bài, căn bệnh ung thư phổi đã đưa bà rời xa cõi tạm, và đây là cuộc chia ly lớn nhất trong cuộc đời bà và Thiếu tướng Nay Phao.

Người ta vẫn nhớ, trong buổi tiễn đưa bà H’Lan hôm ấy, có một người đàn ông ngồi trên chiếc xe lăn, chân tay bất động, đôi môi run rẩy muốn thốt lên bao điều với người bạn đời đồng cam cộng khổ hơn nửa chặng đời, nhưng ông không thể nói nên lời, chỉ có đôi mắt buồn vô hạn rỉ ra những giọt nước mắt tiếc thương, đau đớn.

                Và, vào một ngày buồn năm 2009, 5 năm sau ngày bà H’Lan qua đời, hai ông bà đã được đoàn tụ ở cõi vĩnh hằng xa xôi, nhưng trong tâm thức của những người con trai, con gái của họ “Ba mẹ vẫn dõi theo từng bước chân anh em tôi trên mỗi chặng đường đời”. Có một người cha, người mẹ như vậy, hỏi làm sao họ không yêu mến, tự hào?

          Du Mục

Theo Nguoiduatin

 

 


[...]
Xem tiếp

Lễ Lih của người Jrai

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-22-08

Lễ Lih thường do con cháu trong dòng họ làm cho người lớn tuổi khi thấy cha mẹ, ông bà chân đã yếu, mắt đã mờ với ý nghĩa cầu mong cha mẹ, ông bà sống lâu, khỏe mạnh.

Đầu tháng 8-2016, tôi may mắn được tham dự lễ Lih do các con của bà Ksor H’Lú tổ chức cho mẹ tại làng Bon Đê, phường Cheo Reo, thị xã Ayun Pa.

                     
 

                                           Lễ Lih tổ chức ở nhà bà Ksor H’Lú.

Ngoài công việc mời thầy cúng, già làng, trưởng thôn và tất cả người thân trong gia đình, họ hàng gần xa thì công việc chuẩn bị lễ để cúng là một phần rất quan trọng trong việc làm lễ. Lễ chuẩn bị gồm: 1 đầu bò, 1 đùi bò, gan, tim, huyết…, 3 ghè rượu, bông băng và 1 cái rìu. Bông băng, huyết, ruột, tim, gan được để trên chiếc rìu (theo quan niệm của người Jrai, cái rìu là biểu tượng cho sức mạnh. Còn sợi bông làm cho tâm hồn con người được nhẹ nhàng, thanh thoát…), thầy cúng ngồi đối diện với người giúp việc là trưởng thôn của Bon Đê, ở giữa là 3 ghè rượu….

Trước khi cúng, người giúp việc hút rượu của 3 ghè vào 3 chiếc ca, 3 ca rượu này được đem ra ngoài sân đổ xuống đất và khấn để báo cáo hôm nay các con làm lễ Lih cho mẹ, mong các Yàng chứng kiến. Tiếp theo, thầy cúng bảo bà Ksor H’Lú đặt chân phải lên rìu, thầy cúng đổ chén rượu lên chân bà và đọc lời khấn khoảng 10 phút... “Ơi các Yàng, hôm nay các con trong gia đình làm lễ Lih cúng sức khỏe cho bà Ksor H’Lú, mời Yàng về ăn con bò, uống rượu. Các thần hãy chứng kiến, nếu có sai trái hãy bỏ qua đừng bắt tội để cho sức khỏe bà Ksor H’Lú được dẻo dai… Hỡi Yàng, hãy xua đuổi tà ma và ban sức khỏe cho bà Ksor H’Lú sống lâu, sống khỏe, ở lâu dài với con cháu…”.

Nhưng có một sự việc không may xảy ra, đó là trước lúc làm lễ 1 ngày, khoảng 5 giờ chiều hôm trước có vụ tai nạn giao thông làm chết 2 người của làng Bon Đê. Theo phong tục, khi gia đình cúng Lih (cầu an cho cha mẹ có sức  khỏe, sống lâu) chưa làm lễ mà gặp những việc như trên thì thường sẽ dừng lại… Song trong luật tục người Jrai vẫn có cách giải quyết. Gia đình cũng như thầy cúng, trưởng thôn, già làng bàn bạc để cho việc làm lễ không bị gián đoạn, đó là lấy một sợi chỉ màu trắng buộc phía trước đường vào ngôi nhà gia chủ, sau đó mời thầy cúng đến cầu khấn. Lễ cúng này gọi là Ptlah, tách riêng ra với lễ Lih hay còn gọi là cắt đứt liên hệ giữa người sống và người chết. Theo quan niệm của người Jrai, nếu như không làm lễ này thì “hồn ma” sẽ tưởng cúng cho mình, lúc đó người sống là bà Ksor H’Lú vẫn đau ốm... và lễ cúng cho sức khỏe bà Ksor H’Lú không còn ý nghĩa nữa. Vì vậy Ptlah được xem là một trong những lễ nhằm “xử lý tình huống”.

Bà Ksor H’Chong, con gái bà H’Lú chia sẻ: “Mí (mẹ) đã lớn tuổi rồi, con cái luôn mong mí khỏe mạnh nên thống nhất làm lễ quan trọng Lih cho mí. Đây là một trong những lễ nếu bỏ qua sau này muốn làm cũng không được…, sẽ khiến chúng tôi cảm thấy áy náy, ân hận cả đời. Vì thế, tuy gia đình còn nhiều khó khăn song chúng tôi đoàn kết nhất trí mua bò về làm lễ Lih để mong mẹ khỏe, sống lâu cùng con cháu”.

Cuối cùng lễ Lih đã xong, ai nấy đều vui mừng và chúc sức khỏe cho bà Ksor H’Lú mà trong làng thường gọi “Mí Thuin” (theo phong tục, người Jrai gọi tên cha mẹ bằng cái tên con đầu) cũng như mong gia đình gặp nhiều may mắn trong cuộc sống…

Lễ Lih là một trong những lễ mang đậm tính nhân văn, thể hiện nét văn hóa truyền thống của người Jrai. Không chỉ làm lễ cầu mong cho ông bà, cha mẹ khỏe mạnh mà con cháu tổ chức lễ cũng cảm thấy yên tâm, bình an và hạnh phúc khi làm được điều gì đó để đáp lễ nghĩa bậc ông bà, cha mẹ và người thân trong gia đình.

                                                                                                                                                            Bài & ảnh Y Phương

[...]
Xem tiếp

Mình muốn xây dựng thương hiệu cây thuốc

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-20-07

 

Mưa lâm râm khi chúng tôi ghé căn nhà xoàng xĩnh nơi ven đường ở xã Đăk Som ( huyện Đăk Glong, Đăk Nông). Cậu con trai cho biết bố đi sửa đầu máy bơm. Phải chờ mất một lúc, ông Lê Minh Hoàng mới phóng xe về.  Ông chủ của 70 ha đất đã canh tác hết này trông rất phong độ, rắn rỏi. Ít ai nghĩ ông đã 66 tuổi.Cái tuổi này nếu ở thành phố chỉ ung dung ngày ngày uống cà phê, đọc báo, xem tivi, hay chăm sóc chim, cây cảnh. Vậy mà vợ chồng ông cả ngày mưa lẫn ngày nắng, sùng sục lội khắp vườn rẫy.

Đưa chúng tôi vào ngôi nhà kính vườn thuốc rộng 23m2, trị giá 96 triệu đồng mà Dự án “ Nâng cao năng lực phát triển kinh tế cho đồng bào dân tộc tỉnh Đăk Nông” của Đan Mạch, vừa hỗ trợ kinh phí để hoàn thành, ông Hoàng nâng niu gảy từng chút đất đám mầm ươm giá thể các loại Lan Kim tuyến, Lan đá có tác dụng tăng cường thể lực, ngăn ngừa ung thư, bổ gan phổi….Loại lá thuốc có giá trị rất cao cả về kinh tế lẫn trị bệnh của Đông y. Vừa lấy bình tưới nhẹ nhàng lên đám lan, vừa  vui vẻ khoát tay giới thiệu khoảng đất nhỏ đang chăm bẵm Lan :

Ông Hoàng giới thiệu lan Kim tuyến

 - “ Loài Lan đa giá thể này cực kỳ khó tánh. Đất ươm cấy giống phải làm kỹ lắm. Coi nè, gồm toàn mùn lá rừng trộn với men vi sinh diệt nấm. Ươm nảy mầm rồi mới mang sang bên này cấy xuống. Chút phân hóa học dính vô là cây chết ngay. Sương gió, nắng nôi gắt gao nơi mảnh đất này, cũng khiến nó dỗi dằn như cô gái đẹp khó tánh ấy. Thế mới phải làm nhà kính. Cái nhà kính này bên Đà Lạt thì nhiều, chớ Đăk Nông chắc mới có cái này là một. Vợ tui bả không ưng nhận ươm cây thuốc với dự án đâu. Vì mất công chăm sóc lắm, mà chỉ vườn nhà mình thôi làm cũng chưa hết việc. Nhưng tui ham mấy cây này vì là thuốc quý, cần cho con người nên cứ quyết tâm nhận làm đó chứ. Bán lại có giá nữa, tới 270-300 ngàn đồng/ký đó. Nguyên giống cấy mô đã 700 ngàn/kg rồi.

Nhà kính này lẽ ra phải hoàn thành từ năm 2015 kia. Nhưng thủ tục lúng túng sao đó, suýt nữa làm tui nhỡ vụ ươm cây đó. Làm nông là phải theo đúng thời vụ mới có lời được”.

Nhìn người đàn ông ra dáng nông dân khỏe mạnh, nước da sạm nắng gió cao nguyên, nếu không nói, không thể biết ông từng là cử nhân khoa học tự nhiên, rồi kỹ sư kinh tế ở Đà lạt . Vì không tìm được việc làm, vợ chồng dắt nhau lang thang hết về quê chồng Quảng Ngãi, lại sang quê vợ Bình Định làm đủ nghề. Dạt qua Gia Lai năm 1987, rồi về Đăk Som. Do lời mời gọi của người em họ là vợ ông Chủ tịch tỉnh Đăk Nông, rằng “ bên này đất tốt mà còn rộng dài lắm”. Vậy mà đã 11 năm hai vợ chồng gắn bó với mảnh đất này.

Bà Sen giở khăn bịt mặt, chống cây cuốc giữa lưng đồi lồng lộng nắng và gió , thở dài :

- “Trụ lại đây vì thấy đất rộng, đỏ au, mê quá. Nhưng làm rồi, quen biết rồi mới thấy thương bà con người dân tộc tại chỗ. Họ sống trên mỏ vàng mà do không biết cách làm ăn, thiếu vốn, nên nghèo miết. Thế nên vợ chồng tui càng gắn bó, quyết tâm ở lại, mở rộng diện tích, hướng dẫn cho bà con cùng làm.

                Mình cũng từng theo cha mẹ lên núi ở Bình Định với  cách mạng từ năm mới 6 tuổi đó chớ. Vì xuống núi mua đồ cho cứ mà bị bắt. Nhỏ tuổi nên nó thả, nhưng canh chừng không cho đi khỏi nữa. Do đó mà biết bà con người dân tộc miền núi tốt lắm, không nề hà gì khi giúp cách mạng. Vậy mà bây giờ họ vẫn còn vất vả lắm”.

                Ông Hoàng nối tiếp câu chuyện :     

- “ 70 ha, nhưng mình xuống cà rồi giao cho cho bà con dân tộc Mạ quanh đây chăm sóc. Giao được 6 ha cho 2 hộ rồi. Mình chịu phân, dầu tưới. Khi nào cà có thu thì chia đôi. Trồng cây bén rễ tới đâu, giao tới đó. Cây thuốc cũng vậy, cây nào dễ trồng, bén rễ là giao cho bà con chăm sóc”.

- “Ô, Các công ty cà phê cũng liên kết như vậy, nhưng họ thu 70%, bà con hưởng 30% cơ anh ạ.” 

- “ Đó là vì họ của Nhà nước còn phải nuôi mấy người văn phòng. Mình làm đây là trên đất truyền thống của bà con, chẳng phải mua bán gì. Giúp họ chừng nào hay chừng đó chứ. Nước vùng này không lo lắm. Chỉ buồn là bà con còn quen với tập quán cũ đất rộng người thưa, rừng đó, kiếm chỗ nào cũng có ăn,nên không được chăm lo cho lắm.  Ngay việc sạc cỏ đây, bà xã cũng một mình lụi cụi tự làm, vì sợ người dân làm không kỹ, lỡ phạm phải gốc thì cây chết uổng”.

Ông Hoàng bà Lan trên vườn thuốc

Đứng trên đỉnh đồi bao la nắng và gió, ngắm không chán mắt những cây chanh không hạt, cam xen bưởi da xanh, ổi nữ hoàng, thơm nhú trái dọc suốt hai bên đường từ chân lên đỉnh ( đã có khóm cho trái nặng tới 5kg)… qua ba mùa đang xanh mởn, đều đã được thu bói. Nhìn sang bên kia đồi, cà phê, bời lời phủ xanh gần kín diện tích đất đỏ mênh mông . Mới thấy phục công sức và mồ hôi đổ xuống mảnh đất này của cặp vợ chồng trí thức - nông dân là không thể tính được. Gia đình họ chỉ có 3 lao động. Cậu con trai tốt nghiệp đại học, vừa thương cha mẹ vất vả, vừa biết khó mà xin được việc, lại cũng chí thú với nghề nông, nên đang là trợ thủ đắc lực của hai người.  Bà Sen vẫn như đang dở mạch chuyện :

- “Nói vậy chứ làm không dễ đâu chị. Năm 2004, vợ chồng tui đã từng xin dự án trồng bời lời của tỉnh mà không được. Ham quá nên tự bỏ tiền mua 6.000 cây giống về trồng. Được thu hai lần rồi đó.  Thấy có nhà máy chế biến trà ở huyện, thay vì trồng trà búp, tui cũng trồng gần 1 ha trà xanh. Vậy mà   Hội Nông dân tới coi, hỏi tui “ Trồng rồi bán ở đâu?”. Trời ơi, người ta đang vận động rần rần uống trà xanh chống ung thư. 10 ngày tui cắt một lần, bán không đủ nữa đó chớ. Rồi còn cái vụ trồng gần 10 ngàn cây bơ Bot, bị dê họ thả rông ăn sạch nữa…gian lao lắm chị ơi. Nhưng muốn có thương hiệu thì phải ráng mà gồng thôi”.

Ừ, Đăk Nông đã có khoai Đăk Song, ổi Đăk Glong, nay mai chắc sẽ có cây thuốc, có chanh không hạt Đăk Som nữa đây.

- “Anh chị có phải vay ngân hàng để đầu tư cho diện tích 70 ha này không?”

- “Lúc đầu họ đâu cho vay. Vì hồi đó còn đất trống, có giấy tờ nhưng chưa có thu, không vay được. Sau phải nhờ “ người ta” có sự can thiệp mới vay được 200 triệu đồng của Ngân hàng Nông nghiệp, lãi tới 12%/năm chứ ít đâu”.

Câu chuyện của chúng tôi với vợ chồng Hoàng - Sen dường như không dứt ra được bởi sự đồng cảm. Từ từ theo xuống chân đồi, ông Hoàng khoát tay chỉ vườn các cây thuốc nam mới bén rễ phía bên tay phải, rất tâm đắc :

- Cây  thuốc Đông Y của mình nhiều mà chưa sử dụng hết, cứ để Trung Quốc sang tận thu hoài. Tui cố gắng xây dựng thương hiệu vườn thuốc, rồi nhân rộng ra cho bà con cùng trồng. May ra giúp xóa đói giảm nghèo chăng….

Cũng lạ, có đủ mọi phương tiện ôtô con, máy cày, xe tải…để làm việc, nhưng căn nhà ở thì chẳng có vẻ gì “ hoành tráng”. Chẳng có gì để có thể gọi đây là một trang trại. Dường như chỗ ở không phải là mối quan tâm chính của cả cha mẹ lẫn anh con trai gia đình này. Ấy vậy mà nói tới cây thuốc, vườn đất thì say mê không ngừng được. Nói tới bà con người dân tộc tại chỗ thì giọng lúc nào cũng ngùi ngùi…Ngoảng sang đồi bên trái, ngó sang đồi bên phải, màu xanh của cây thuốc, cà phê, cam, bưởi, chanh chưa lấp kín màu đất đỏ mênh mông. Nghĩa là còn phải vất vả lắm mới nên thương hiệu của một địa chỉ cây thuốc & cây ăn trái  giữa xa xôi cao nguyên. Nhưng  giọng nói chắc nịch và hồ hởi của cặp vợ  chồng trí thức – nông dân này, lại khẳng định được cho người nghe một niềm tin mãnh liệt vào sự thành công.

[...]
Xem tiếp