Linh Nga Niê Kdăm
taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Chạm vào Mường

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-12-11

                Ai nói ra nói vào điều gì không biết, nhưng việc Hội nhà Văn Việt Nam tổ chức cho các nhà văn Tây Nguyên chuyến đi thực tế Tây Bắc tháng 10 năm con ngựa , quả là đã đem lại cho cá nhân tôi thôi nhé, nhiều điều tốt đẹp.

Từ những ngày thơ ấu bị ám ảnh bởi vẻ đẹp là lạ của tiểu thuyết “ Hoa hậu xứ Mường”, cho tới năm 1980 lần đầu tiên mở toang tri thức thọ giáo việc sưu tầm văn hóa dân gian với Giáo sư Tô Vũ, cho tới lúc lẽo đẽo cắp tráp theo chân các  giáo sư TrầnQuốc Vượng & Tô Ngọc Thanh hơn 20 năm qua, được các nhà khoa học đầu ngành đáng kính nhất ấy dạy bảo, tôi đã nhặt chặt được vào bị cho mình nhiều kiến thức quý báu và nhất là sự trân trọng đến tuyệt đối Di sản Văn Hóa của cha ông. Trong suốt những tháng năm đẹp đẽ ấy, tôi có những người bạn Mường đáng yêu, hoặc ngay ở Buôn Ma Thuột, tiếp xúc với làng Mường ở xã Hòa Thắng,  cũng lõm bõm học được đôi chút về văn hóa độc đáo của người  Mường. Nhất là theo thông tin từ giới khoa học, người Mường là gốc của người Việt ( Việt – Mường). Nhưng phải đến chuyến đi này,  mới thật sự chạm  được vào hồn cốt của tộc người Mường . Điều mà không dễ ai cũng có dịp được vinh hạnh ấy.

                                                                    Bản nhỏ đẹp, bình yên

Hai từ “ cửa voóng” đã biết khi đọc truyện của Hà Cẩm Anh, Lưu Xuân Lý…nhưng  phải đến khi các bạn Hội VHNT Hòa Bình  mời thưởng thức ẩm thực đủ món thịt trâu, mới được dạy rằng  “Phụ nữ không được ngồi bên cửa voóng ”  . Tiếp đó là  ba địa chỉ : bản cổ Giang Mỗ, Không gian văn hóa và Bảo tàng Di sản văn hóa Mường, đã mở toang ra những cánh cửa chất ngồn ngộn bao điều chưa từng biết tới. Cho dẫu bên cạnh những nếp nhà sàn tranh tre nứa lá nguyên sơ của ba tầng lớp nhà Lang, nhà ậu, nhà nóc  ở khu Bảo tồn không gian văn hóa, đã có sự hiện diện rất mới mẻ của những ngôi nhà sàn cột ximăng ( tuy vẫn giữ sàn & vách nứa) tại bản cổ Giang Mỗ. Nhưng  bóng chiều bảng lảng sương vẫn khiến bản toát lên vẻ đẹp cổ tích của những căn nhà sàn nho nhỏ mái lá, án ngữ theo triền một con suối cũng be bé và theo dọc hai bên con đường mòn quanh co đã được bê tông hóa  mỗi lúc một lên cao dần tới tận đỉnh đồi. Thật thú vị khi đến thế kỷ XXI còn được ngắm những người phụ nữ xênh xang váy áo Mường ngồi thêu may bên hiên nhà sàn, nghe nhịp chày thong thả thậm thịch giã vào cối đá  theo dòng chảy  của máng nước, ngắm bầy lợn bản ụt ịt trong vườn , nghe tiếng róc rách của dòng nước dẫn từ trên núi cao về bể, vào ao cá, hít sâu tận đáy lồng ngực hương thơm rơm, hương lúa mới  thoảng thoang từ cánh đồng đầy những gốc rạ vàng ươm bao quanh bản . Giữa khung cảnh như thời xa xưa ấy, sẽ  ngạc nhiên hơn khi được chứng kiến chiếc máy  thái rau và chuối bên cạnh nồi cám heo sôi sùng sục. Ấy vậy mà  cảm giác bình yên và tĩnh tại đến khó tưởng giữa nhịp đời cuồn cuộn của thời hiện tại vẫn lan tỏa đầy tâm trí.

Trong căn nhà cổ nhất bản ( theo chủ nhà đã qua ba đời, nghĩa là gần 100 năm), tuy đơn sơ những thấm đẫm hồn cốt Mường trong từng tấm ván, trong đống chăn đệm bông lau chất đầy nơi góc sàn, chiếc nôi mây lên nước nâu bóng đung đưa đứa đứa cháu ngoại; chủ nhà đếm từng tấm giạt nứa  kể rằng : nếu nhà Lang có người chết, sẽ được đặt ngang 6 vạt ( quan tài lớn), từ  nhà ậu trở xuống nhà nóc chỉ được đặt dọc hai vạt ( quan tài nhỏ) mà thôi. Nhìn xa xăm qua cửa voóng, anh kể tiếp “ Cửa sổ cũng có tên đấy. Người Mường đặt tên tính từ cửa sổ đầu tiên là voóng toong, voóng hai, voóng khựa, voóng coong, voóng tốt, voóng lèo. Mỗi voóng lại liên quan đến việc thờ cúng. Thờ cúng tổ tiên thì ở ỏ voóng toong. Còn để cầu nguyện cho con trâu bò thì cúng ở voóng lèo. Cúng các cụ già đến tuổi gần quá cố làm vía thì cúng ở voóng khựa, còn các cháu mới sinh cúng mụ ở voóng coong. 

Con gái Mường làm đệm gối từ thuở ngực chũm cau. Sau này cưới, nhà trai nộp bao nhiêu đệm gối, nhà gái cũng phải trả lại bấy nhiêu ( hồi trước mình những tưởng chỉ có con gái phải nộp chăn đệm thôi, hóa ra hai bên bình đẳng) .Nếu nhà trai có người già, cô dâu sẽ phải biếu bộ gối mây cái nằm, cái dựa nữa.

Ông nhà em xưa cũng là ậu đấy. Nhưng đến đời chúng em thì xuống lắm rồi. Thì các anh chị cứ tính xem : nhà chỉ có sáu sào ruộng, nhường lại bốn sào cho tỉnh làm khu tượng đài kia kìa, được đền bù  80 triệu. Số tiền đó không đủ lo cho  con rể xuất khẩu lao động, nhưng nhà 6 miệng ăn, tính cả thằng bé thiểu năng kia nữa, làm gì còn đất mà gieo cấy, vẫn đành phải chạy cho con đi thôi… Chẳng biết sau này rồi ra sao…” Ngậm ngùi lặng đi đôi chút, rồi ông chủ lại vui ngay lên “ Cả bản bây giờ đều hiểu cần gìn giữ văn hóa truyền thống để làm du lịch rồi đấy. Không biết các bác lên,nhà nhà đi rừng cả,chẳng kịp tụ tập mà  múa hát đón bạn xa. Thôi, em mời các bác chén rượu gạo nhà nấu. Uống chỏng khun nhá” ( có nghĩa là cạn rồi dốc ngược ly lên đấy).

Chiều sà  xuống quá núi mà còn mấy nơi phải ghé, tôi mua vội cả 3 mảnh thổ cẩm nhỏ bằng bàn tay của một bà cụ người Dao dáng nhỏ thó, mà mắt cay xè vì…thương không biết nói làm sao cho hết.

                                                                    Ngôi nhà Lang 100 tuổi chỉ còn trơ cột

Chưa nguôi cảm xúc ngổn ngang giữa mới và cũ ở Giang Mỗ, tò mò với những trang phục, phong tục tang ma, cưới hỏi rất thú vị của người Mường tại phòng trưng bày của Khu bảo tồn không gian văn hóa, bỗng rơi ngay vào nỗi nghẹn đến ngộp thở trước ngôi nhà Lang hơn trăm tuổi bị cháy rụi. Chỉ với tình yêu gần như … “điên rồ” của một họa sỹ Hà Nội với văn hóa Mường, nào có biết tới những thủ tục đăng ký rườm rà cần có của một địa chỉ văn hóa lẫn hiện vật bảo tồn, mà giờ đây Hiếu Mường không thể kiện được những kẻ nhà giàu và đương chức đương quyền ngay tại địa phương ( đã nhẵn mặt nhau) tí tởn thỏa mãn ăn nhậu, làm cháy rồi bỏ chạy. Ngôi nhà Lang với những thân cột, xà ngang cháy đen thui nhọn hoắt, ngay bên cạnh giá sắp đặt hàng ngàn chiếc dép họa sỹ Nguyễn Thị Tuyết Mai thu thập ở miền Trung 3 năm qua, sau những cơn bão, găm vào bóng chiều  một nỗi đau xé ngực. Mọi người im lặng chìm vào suy tưởng, mãi cho tới khi xe vòng một cách điệu nghệ lên con dốc nhỏ, quanh co, khá cao, để vào Bảo tàng Di sản văn hóa mới ồ lên như bừng tỉnh.

                                                              Bộ nhạc cụ Mường

Là người Mường, vốn là một cán bộ văn hóa được học hành có bài bản, đắng đót với sự mất còn của chính mình, bỏ công của hơn 30 năm qua để thu thập hàng ngàn hiện vật, tự xây dựng nên những căn nhà gỗ mô phỏng lại nguyên bản không gian ở của người Mường. Mời chúng tôi mỗi người một chén rượu  Tiên tự ủ bằng hoa trái rừng, ông Bình thong thả khoe với niềm tâm đắc hiện rõ trong ánh mắt & giọng nói : nào là chiếc trống đồng sẽ gióng lên mấy hồi thúc giục lẫn chiếc thớt gỗ đường kính 1m, minh chứng cho cỗ  nhà Lang, mỗi khi có việc. Chiếc thạp sứ nhà Lê, bộ đồ thờ, những đồ gốm, chăn đệm ngủ của Lang chủ…Thú vị  nhất là đến đây mới biết : người Mường cũng giống như người Tây Nguyên, gọi bộ nhạc cụ tự thân vang bằng đồng của mình là chiêng ( một dàn 12 chiếc), chứ không phải gọi là “ cồng”. Tên gọi “ cồng Mường” là không chính xác, chỉ từ sự áp đặt từ các nhà nghiên cứu người Kinh mà ra ( minh chứng bằng câu thành ngữ Việt “ lệnh ông không bằng cồng bà” nhé ).

                                                                   Trống đồng dùng những khi tế lễ ( ảnh lễ cúng phía sau)

Các bạn ở Hội VHNT Hòa Bình, dù người Mường hay không là Mường, đều rất tự hào cả về những địa chỉ văn hóa lẫn ẩm thực đã giới thiệu với chúng tôi. Đó là còn chưa kịp đưa nhau đến khu mộ đá của Lang Mường ở Đống Thếch nhá. Cũng phải , bởi với tôi, chỉ ba địa chỉ ấy thôi, đã cho phép lần đầu tiên được “ chạm vào Mường” một cách dễ thẩm thấu đến như vậy.

Mới vài dòng & vài ảnh đưa lên fecebok kể về chuyến đi, đã có người nhắn hỏi “ Ê đê mình có ai làm thế chưa cô?”. Có đấy, cố NSND Y Moan . Nếu còn trên dương thế, Moan sẽ tiếp tục niềm đam mê của mình, để hoàn thiện một bảo tàng mini những giá trị tuyệt vời của văn hóa vật thể Ê Đê. Hay chị H’Len ở buôn Kó Dhoong, căn nhà sàn nhỏ bé, nằm giữa một vườn hoa, đẹp như trong chuyện cổ tích ( nơi mà các bạn sinh viên Nhật Bản đến rồi không muốn ra về ấy). Và chắc sẽ còn đâu đấy mà mình chưa biết đến chăng, những người Tây Nguyên yêu quý giá trị văn hóa của chính tộc người mình, làm như các bạn Mường Hòa Bình đã làm….Hy vọng thế !

 

[...]
Xem tiếp

Thành tố âm nhạc trong dân ca Mnông

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-08-11

  Âm nhạc diễn tả mọi trạng thái tâm tư tình cảm của con người từ thành kính, vui, buồn, hờn giận đến yêu thương. Những tình cảm đó được chuyển tải qua nhạc đàn, nhạc hát. Trong nhiều năm qua, ở Việt Nam, từ đầu thế kỷ XX, khi nhà dân tộc học người Pháp Comdominas tìm ra 11 thanh đá kêu tại làng  Ndut Liêng Krak , khu vực người Mnông ở huyện Lăk ,tỉnh Đăk Lăk, được coi là nhạc cụ cổ xưa nhất của loài người; chúng ta  đã nhiều lần tìm được “ đàn đá” ở các tỉnh Khánh Hòa, Đăk Nông, Đồng NaiNinh ThuậnLâm ĐồngSông Bé và Phú Yên. Nhưng chỉ có ở khu vực cư trú của người MNông mới tìm thấy dấu vết công xưởng ghè đẽo đá của người tiền sử. Và cũng mới chỉ có các nghệ nhân tộc người Mnông trình diễn bộ ba thanh và sáu thanh đá kêu, tương đồng giai điệu và nhịp điệu các bài chưng bo (bộ sáu ching bằng) , gong ( bộ ba ching có núm) của người Mnông. Phải chăng người MNông chính là chủ nhân đích thực của những thanh đá kêu ( được gọi là gong lú – ching đá) ấy? Và với tập quán du cư của mình, đã mang theo phương tiện cúng tế các vị thần linh này đến những nơi cư trú mới ?

                                                                     Tấu chưng & múa dân gian Mnông

Nghệ thuật trình diễn ( diễn xướng ) âm nhạc, bao gồm cả nhạc đàn lẫn nhạc hát đã được coi là phương tiện giải trí duy nhất, phát triển một cách hài hòa, cân xứng, bên cạnh diễn tấu chưng gong, của người MNông. Trong bất cứ một cuộc tụ họp nào trên rẫy, trong bon làng, bên bờ suối, dưới mái nhà sàn, trong lễ thức, lễ hội, đều có những âm thanh của nhạc đàn, nhạc hát vang lên, theo suốt cuộc đời con người từ lúc mới sinh ra đời, qua tuổi thành niên dựng vợ gả chồng cho tới lúc về cùng ông bà nơi cõi Yang. Âm nhạc gắn liền với lễ hội, văn học, phong tục tập quán và là linh hồn của hát múa…Trải qua bao biến thiên của lịch sử, âm nhạc, cũng như văn hóa dân gian của tộc người này  vẫn còn giữ được vẻ mộc mạc, hồn nhiên, lắng đọng nhưng không kém phần tinh tế, bay bổng như chính bản chất các chủ thể đã sáng tạo nên “ nó” .

Nhạc hát dân gian –“dân ca”, như đã nói ở trên, là thuật ngữ dùng để chỉ những nội dung tình cảm ( thành tố văn học) được hát lên bằng thành tố âm nhạc, thông qua giai điệu, có hoặc không có nhịp điệu.

Dân ca Tây Nguyên nói chung, Mnông nói riêng có nhiều cách diễn xướng, nhiều làn điệu  để chuyển tải xúc cảm của con người, như : Lối hát một mình ,tự sự, lối hát đố, hát thi cùng với bè bạn đồng trang lứa,hát giao duyên trai gái,trẻ em hát đồng giao, hát ru,hát dặn dò con cháu,hát – kể trường ca, sử thi,hát khóc, đặc biệt lối hát kể gia phả chỉ người Mnông Preh mới có .

Có thể nói nghệ thuật ngôn từ của tộc người Mnông hầu hết được trình tấu qua các hình thức ca hát này.

      Dân ca chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt cổ truyền của người Mnông. Tương  đồng như một số dân ca của các tộc người thiểu số tại chỗ khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên khác, được quy về hai thể loại chính : hát nói – tự sự và hát có nhịp điệu . Phổ biến nhất là lối hát tự sự - không nhịp điệu . Ở lối hát này, giai điệu thường lặp đi lặp lại những đoạn ngắn – tương ứng với sự lặp đi lặp lại của lời ca trong thành tố văn học.

Trong những bài dân ca, dân nhạc chúng tôi đã ghi âm hầu hết được trình bày trên điệu thức thứ. Đây là một hiện tượng đặc biệt. Ví như âm nhạc dân gian Bâhnar, Jrai có cả điệu thức trưởng lẫn thứ. Hoặc âm nhạc Ê đê chỉ chuyên điệu thức trưởng, đôi lúc li sang điệu thức thứ rất nhanh rồi lại trở lại trưởng, thì âm nhạc truyền thống Mnông, qua sưu tầm, chúng tôi chỉ bắt gặp hoàn toàn sự trình tấu ở điệu thức thứ, kể cả trong nhạc đàn lẫn nhạc hát. Điều này  tương đồng đối với hát của người K’Ho, Cil ở Lâm Đồng

Nghệ thuật âm nhạc của một số thể loại dân ca Mnông :

- Lối hát – kể là một trong lối hát rất phổ biến, mang tính tâm sự, giãi bày. Hoàn toàn không có nhịp điệu, chỉ có giai điệu từ một đến hai câu nhạc, khi lên cao, khi xuống thấp ( bổng, trầm) theo cảm xúc trào dâng hay lắng lại của tâm trạng người hát.

Khi xử dụng hát – kể trường ca, sử thi, tùy theo nội dung, tình cảm và diễn biến câu chuyện, nghệ nhân sẽ thay đổi cao độ qua những cung bậc cao thấp khác nhau, hoặc chuyển âm sắc của giọng theo từng nhân vật nam nữ, già trẻ , thần linh, hay ma quỷ…

- Lối hát giao duyên cổ xưa cũng thuộc loại không có nhịp điệu, bằng một giai điệu cố định, ít khi thay đổi cao độ. Người nam hát một đoạn, tiếp đến người nữ trả lời theo từng nội dung bên kia đặt ra. Cũng có khi người nữ hát trước, người nam hát trả lời, đều ứng tác có vần và ngay tại chỗ .  

- Lối hát đố, hát đối đáp, bước đầu có nhịp điệu, tuy đơn giản  nhưng đã rõ chất tiết tấu. Thường có từ 2-4 câu nhạc lặp đi lặp lại. Dường như có sự tiếp biến, ảnh hưởng từ lối hát của người Ê đê hoặc của người Jrai ( xuất hiện trong những nhóm MNông Nong, Preh cư trú liền kề)

- Hát đồng dao là lối hát của trẻ em khi chơi chung nhau. Giai điệu thường đơn giản, lặp đi lặp lại một câu nhạc theo nhịp đều đều không đổi của một bài chiêng nào đó. Một số bài đồng dao phổ biến của trẻ em các vùng khi cùng nhau chơi đùa  như Trẻ em hát , Bắn chim, Người Mnông chơi vui cùng nhau trẻ em vui chơi , Hai con gà con …Theo thể hát nói là chính. Trong quá trình điền giã, có một số bài hát đơn giản phỏng theo sách dạy học vần tiếng Pháp dành cho trẻ em, hát bằng tiếng Mnông .

- Thể loại hát khóc đa số của phụ nữ trong tang lễ. Giai điệu là điệu thứ, tuy cố định nhưng cao độ sẽ nâng lên cao hoặc hạ xuống thấp tùy thuộc giọng và nhất là vào xúc cảm của người hát đối với mối quan hệ với người đã khuất. Là những lời kể lể về đức độ, nhắc lại những kỷ niệm, bày tỏ nỗi tiếc thương có thể hát ở giọng trầm. Thậm chí là trách giận về việc gì đó đã xảy ra giọng hát sẽ cao lên. Hoặc do quá thương cảm mà trở nên thất thanh.

Cho dù là hát nói hay hát có nhịp điệu, dân ca Mnông vẫn toát lên vẻ đẹp riêng của chính nó, từ sự uyển chuyển đôi chút đượm buồn của đường nét giai điệu, đến tiết tấu rộn ràng của câu hát giao duyên, vì  hoàn toàn được chuyển tải bằng điệu thức thứ. Giọng hát của các nghệ nhân tuy mộc mạc nhưng thường rất trong sáng; đôi lúc giai điệu lắng đọng mang tính thủ thỉ tâm tình, khi thì vang vọng trầm hùng, lúc lại thành kính cầu xin. Tạo nên một phong cách hát rất độc đáo. Cũng vẫn  điệu thức 5 âm quen thuộc của vùng Trường Sơn – Tây Nguyên, nhưng sự bổng trầm của giai điệu vừa gần gũi, thân quen, hồn nhiên mà lại rất chững chạc, vừa linh thiêng, huyền bí xa xăm bằng những nốt hoa mỹ luyến láy đặc trưng rất riêng ở cuối hoặc đầu câu và bằng điệu thức thứ.

Cũng tương tự như nhiều tộc người bản địa Tây Nguyên khác, tuy song hành cùng nhau trong môi trường sinh hoạt, nhưng nhạc đàn và nhạc hát là hai thực thể khác nhau, hiếm khi bà con dùng đàn để đệm cho hát. Đồng thời, khúc thức âm nhạc không khúc triết, có đoạn đơn, có đoạn phức xen kẽ lẫn nhau, tùy thuộc vào nội dung dài hay ngắn. Thậm chí thay đổi một vài cao độ cho chính xác với âm vận ( dấu thanh) của lời hát. Nên có trường hợp khi thu thanh hát lần thứ nhất giai điệu tiến hành một cách, sang lần thứ hai thu lại, giai điệu và lời ca đều đã có sự đổi thay. Hát lại bao nhiêu lần là thay đổi bấy nhiêu lần, không lần nào thật sự giống lần nào, tuy vẫn có vần. Đây cũng là  một trong những nét chung của dân ca dân tộc thiểu số miền núi, đặc biệt là các dân tộc ở Tây Nguyên.

Trong quá trình sưu tầm âm nhạc dân gian Ê đê, MNông tại Đăk Lăk từ thập kỷ 80- 90 của thế kỷ XX, chúng tôi đã từng gặp như bài “Hoa núi rừng – Mnga dliê cư ” bà con ở Buôn Ma Thuột và một vài vùng khác gọi là dân ca Ê đê, nhưng thực chất là một bài hát mang âm điệu Đài Loan rất rõ nét. Hoặc tại vùng người K’Ho ở Lâm Đồng có bài hát “ Các chàng trai bắt ếch” được gọi là dân ca ( hát bằng tiếng k’Ho), nhưng thực ra là bài hát Pháp. Hay tại xã Quảng Sơn ( huyện Đăk  Glong ngày nay), chúng tôi đã từng ghi âm bài “Lên rẫy  ”, được người hát cho biết là dân ca Mnông, nhưng giai điệu hoàn toàn của tộc người Jrai. Những bài hát này khúc thức rất gọn gàng. Chứng tỏ xuất xứ có sự dụng công của một tác giả nào đó. Điều này có thể lý giải từ sự giao thoa văn hóa giữa các tộc người. Đặc biệt người Mnông là tộc người có tập quán du cư. Có thể trong quá trình chuyển cư, lập bon ở gần vùng cư trú của người Ê đê, hoặc Jrai, do những sinh hoạt văn hóa mà có sự tiếp biến lẫn nhau. Hoặc thời kháng chiến chống Pháp, tiểu đoàn người dân tộc Tây Nguyên duy nhất – Tiểu đoàn 320 – lúc mới thành lập gồm đa số là các chiến sĩ người Ê đê và Jrai, và sau này trong công cuộc chống Mỹ cứu nước,  trong quá trình làm công tác vận động quần chúng, bộ đội dân tộc đã mang theo âm nhạc dân gian của tộc người mình vào với bon làn MNông (?). Những bài hát này tồn tại một cách hồn nhiên và được yêu mến hàng vài chục năm trong đời sống cộng đồng, lại được cất lên bằng chính ngôn ngữ của tộc người, thì sự ngộ nhận là không tránh khỏi.

Tuy nhiên, bên cạnh những điểm chung mang tính đồng nhất khu vực, âm nhạc MNông còn là một nền âm nhạc có ngôn ngữ riêng, thông qua hệ thống các loại nhạc cụ, nhạc hát và môi trường diễn xướng. Đặc biệt nếu dân ca là lối hát đơn âm, thì trong cơ cấu và phương thức diễn tấu chiêng đã có sự đa âm, nhiều bè, có bè đệm có bè giai điệu. Điệu thức  5 âm chủ đạo cũng có những quãng đặc trưng rất riêng, không dễ lẫn với những tộc người khác cùng ngữ hệ, cư trú liền kề như K’ho, Cil, châu Mạ…

Có thể nói âm nhạc dân gian Mnông còn mang đậm dấu ấn của thời xã hội nguyên thủy. Xã hội mà ở đó nghệ thuật thuộc sở hữu  của toàn bộ tộc. Mỗi thành viên trong cộng đồng đều vừa là chủ thể sáng tạo, trình diễn, vừa là khách thể thưởng thức. Khiến cho nghệ thuật diễn xướng dân gian nghe, nhìn gắn bó rất chặt chẽ với toàn thể các thành viên trong cộng đồng, xuất hiện rất phổ biến trong mọi môi trường sinh hoạt văn hóa tinh thần.

 

[...]
Xem tiếp

Chuyện buồn ở A Lưới : hôn nhân cận huyết

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-06-11

Sợ thách cưới cả trăm triệu đồng, tránh của cải bị thất thoát ra ngoài dòng họ là một trong những nguyên nhân khiến hàng chục gia đình ở huyện miền núi A Lưới (TT- Huế) chọn hôn nhân cận huyết như một cứu cánh./ 

Nó “đặt bẫy” rồi thì lấy

Ngược lên vùng sâu A Đớt (huyện A Lưới), một “điểm nóng” về hôn nhân cận huyết mới thấy những hủ tục còn nặng nề, như một cơn mê đè nén bao thân phận của đồng bào nơi đây.

Ông Lê Hồng Bường, cán bộ tư pháp xã A Đớt, tâm sự: “Tuyên truyền, vận động mãi mà năm nào địa phương cũng có 1 đến 2 trường hợp hôn nhân cận huyết. Hôn nhân cận huyết chủ yếu là con cô, con cậu lấy nhau”.

Chuẩn bị bước vào vụ thu hoạch nhưng Hồ Sỹ Tòng (SN 1990, thôn A Ting, xã A Đớt) vẫn ngồi bó gối ở nhà ôm đứa con chưa tròn hai tuổi. Hỏi ra mới biết, vợ Tòng lên rẫy gặt lúa, mấy hôm nay con Tòng ốm, anh phải ở nhà chăm sóc con.

                                                                          Tỏng & Trỗi là hai anh em

Tòng lấy vợ là Nguyễn Thị Trỗi (SN 1992), con gái ông Pi Riu Vấc (Vấc là em trai bà Pi Riu A Ve - mẹ Tòng). Biết là anh em nhưng trong dòng họ, thôn bản chẳng ai phản đối, bởi nói như ông Hồ Sỹ Năm - bố Tòng: “Nó đặt bẫy xong rồi thì phải lấy thôi".

Nhà Tòng và Trỗi vốn ở gần nhau, tuổi thơ của Tòng là những ngày sống cùng nương rẫy với những buổi theo bố mẹ dầm mưa dãi nắng trên đồi nương. Cái tuổi hoa niên như búp măng non cao vút trong ánh nắng đại ngàn. Rồi tình yêu giữa họ nảy nở lúc nào không hay.

Cũng như bao trai thôn gái bản khác, Tòng dẫn Trỗi phiêu diêu trong những đêm tình đi sim khắp bản làng. Điều lỳ lạ là, Tòng và Trỗi ở gần nhau, cả hai gia đình đều biết mối quan hệ huyết thống, ấy vậy mà không ai ngăn cản. Đến khi “gạo đã nấu thành cơm” thì đành phải làm lễ cưới.

Theo lý giải của bà Pi Riu A Ve, mẹ Tòng, thì con cô con cậu lấy nhau nhằm “tránh” được tục thách cưới to của nhà gái, nhiều khi nhà trai không đủ lễ vật; anh em cô cậu lấy nhau nên của cải cứ “xoay vòng” trong dòng họ, chứ không bị thất thoát ra ngoài.

                                                                              Gia đình Tòng cũng đồng ý cho họ lấy nhau

Pi Riu A Ve nói: “Từ xưa đến nay, tập tục đồng bào mình nó thế. Mình chỉ làm theo ông cha thì có gì sai? Hai gia đình ở gần nhau, vốn là anh em nên cả hai bên thông cảm cho nhau về các thủ tục thách cưới. Miềng cho thằng Tòng lấy con Trỗi, nhà gái có thách cưới đâu, đỡ phải vất vả tốn tiền".

Ngày Tòng ăn cơm, đặt đôi đũa ngay ngắn bên mép chén để thưa chuyện đã lỡ “đặt bẫy” với con nhà Pi Riu Vấc, tuy không ai phản đối nhưng cũng có người lời ra tiếng vào. Riêng ông Hồ Sỹ Năm thì nở nụ cười mãn nguyện.

Nụ cười ấy đến bây giờ vẫn thế, khi chúng tôi hỏi về Tòng, ông Năm cười tít mắt, nói như tự hào: “Khi mình biết thì gạo đã chín rồi, biết mần răng? Mà đối với người dân ở đây chuyện lấy nhau như thế là bình thường. Con dâu mình vừa là cháu thì càng thêm đoàn kết giữa hai gia đình chứ răng?”.

Hôn nhân cận huyết, có trường hợp cả hai gia đình đều biết, nhưng cũng có gia đình con đặt đâu bố mẹ phải “ngồi đấy” vì sự đã rồi. Đó là trường hợp của Hồ Xuân Nhái (SN 1989, thôn A Đớt, xã A Đớt) lấy vợ là Hồ Thị Nương (SN 1991, thôn A Chi, xã A Roàng). 

“Do kết hôn cận huyết nên đa số bà con ngại đến ủy ban xã để đăng ký kết hôn. Mà nếu có đến mình cũng không biết giải quyết thế nào nữa. Khi địa phương phát hiện thì sự việc đã rồi nên đành chịu", ông Lê Hồng Bường cho hay.

Hôm chúng tôi đến, hai vợ chồng đã đèo nhau sang A Roàng thăm nhà ngoại. Nhái là con bà Phạm Thị Dinh, trong khi đó Hồ Thị Nương lại con của ông Hồ Văn Đỗ, em trai bà Dinh.

Bà Dinh với ông Đỗ tuy chị em ruột cùng cha cùng mẹ nhưng khác họ nhau là do tập quán của đồng bào nơi đây, lúc nhỏ “thích” lấy họ gì thì lấy nên mới có cơ sự đó.

Ngồi trầm ngâm, ông Hồ Xuân Cái, bố của Nhái, đến bây giờ vẫn còn nhớ như in cái cảm giác thinh thích ngày anh Nhái thông báo lấy vợ là cô em họ. Ông Cái kể: “Nó đi “đặt bẫy” chỗ mô ai mà biết. Thấy nó đi A Roàng chơi, ai dè mang vợ về là người bà con. Thấy nó ưng, vả lại điều này truyền thống của mình không ai cấm kỵ nên tui cũng không phản đối”.

Ngồi kể chuyện, ông Cái cười phô cả hàm răng thuốc lá vàng quạch: “Khi nó có bầu rồi mình không cưới cũng không được. Bên nhà gái buộc phải lấy thì lấy thôi. Nói là anh em chứ nó sinh được đứa con gái đẹp lắm. Đặt tên là Hát nữa đó”…

Những gia đình “3 không”

Việc kết hôn cận huyết không chỉ gây ra hậu quả làm suy kiệt giống nòi mà còn ảnh hưởng đến con trẻ trong những gia đình đó",bà Phạm Thanh Tâm.

Hôn nhân cận huyết đã để lại những hậu quả khôn lường không chỉ về sức khỏe giống nòi mà còn di hại đến những đứa trẻ ra đời trong tình máu mủ.

Đứa con gái của Hồ Sỹ Tòng đã gần 2 tuổi. Cháu được đặt với một cái tên khá Tây: Hồ Mai Na Ry. Từ ngày sinh ra đến nay, Na Ry thường đau ốm liên miên, hai vợ chồng Tòng  phải thay nhau ở nhà chăm sóc con.

Ngồi ôm con, Tòng bảo: “Gần hai tuổi rồi mà trông nó nhỏ hơn mấy đứa trẻ trong xóm vì cháu hay đau ốm quá. Mang con đi bệnh viện thì tốn tiền vì mình chưa đăng kết hôn nên lên xã họ bảo chưa làm được giấy khai sinh, bảo hiểm cho cháu".

Những gia đình có kết hôn cận huyết rơi vào hoàn cảnh như Tòng không phải hiếm. Những đứa trẻ được sinh ra trong một mái ấm mà ở đó, các cháu "không có giấy khai sinh, không được đến trường, bố mẹ sống không hôn thú".

Nói đến cái khái niệm lên xã đăng ký kết hôn, làm giấy khai sinh cho cháu, ông Hồ Xuân Cái xem chừng như còn xa lạ lắm. Ông Cái nói thật: “Thì chúng nó không kết hôn, làm giấy khai sinh vẫn sống tốt đó thôi. Lên xã mình ngượng lắm. Bà con lấy nhau còn lên đăng ký làm gì”. “Thế mai này làm sao cháu đi học được?”, tôi hỏi. “Đến đó hẵng hay”, ông Cái cười hiền.

Bà Phạm Thanh Tâm, Giám đốc Trung tâm Dân số Kế hoạch hóa gia đình huyện A Lưới, cho biết: “Thông qua các chương trình, trong thời gian qua, chúng tôi đã thực hiện tuyên truyền, vận động không kết hôn cận huyết, vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình, hiệu qủa các chương trình cũng thấy rõ. Tuy nhiên, do đây là quan niệm có từ lâu đời, ăn sâu trong nếp nghĩ của đồng bào nên không dễ thay đổi ". 

                                                                                                                                                                        Duy Phiên 

[...]
Xem tiếp