Linh Nga Niê Kdăm
taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Âm nhạc của múa dân gian Tây Nguyên

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-26-06

Nhân đại hội  nhạc sỹ và múa liền kề, chúc mừng cả hai hội bằng bài viết này 

                Âm nhạc là linh hồn của múa. Trong nghệ thuật múa dân gian Tây Nguyên, múa bao giờ cũng gắn với âm thanh và nhịp điệu của các dàn ching chêng.

                Là một trong những nhạc cụ từng được coi là thiêng liêng, gắn với mọi nghi lễ của cộng đồng và suốt một vòng đời của con người,nên nhà nào cũng muốn có cho được một bộ ching. Do người Tây Nguyên không có truyền thống đúc đồng, nên ching thường mua từ bên ngoài về và rất chuộng những loại ching có chất lượng âm thanh cao.  Ching tốt nhất là mua của người Lào ( thường gọi là ching lao). Được ưa chuộng tiếp theo là ching của người Campuchia ( thường gọi là ching kuor) . Thứ ba, nghèo lắm mới sắm dàn ching có xuất xứ từ đồng bằng Trung bộ về ( thường gọi là ching Joăn). Ching mua từ bất cứ đâu về cũng phải chỉnh âm lại cho phù hợp với hàng âm của tộc người. Cao độ ( ton) các dàn có thể khác nhau, nhưng hàng âm thì luôn đồng nhất.

Mỗi một tộc người ở Tây Nguyên có một hệ thống thang âm, điệu thức hay còn gọi là hàng âm cơ bản riêng, mang tính thống nhất, diễn tả rất rõ trong các bài bản ching chêng và những bài dân ca của từng dân tộc.

Dân ca Jrai, Bâhnar và Sê Đăng với một số quãng 2 thứ, tạo nên  cả điệu thức trưởng và điệu thức thứ. Nhiều bải bản mang đậm tính chất trữ tình, có thể nói là êm ả, phù hợp với những điệu múa nữ tính mềm mại, nhịp điệu vừa phải. Những bài điệu thức trưởng rộn ràng, rạo rực, là nhạc nền cho múa  nam tính khỏe khoắn, hừng hực sức sống. Dàn ching chêng và trống sgơr của các tộc người Jrai, Bâhnar, Sê Đăng…luôn cùng di chuyển với đội múa , trong trạng thái diễn tấu động.

Hàng âm trong âm nhạc dân gian Ê đê không có quãng 2 thứ, thường chỉ ly ở một vài chỗ bất thường, rồi lại chuyển ngay về trưởng. Khi đệm cho múa nghi lễ, vẫn ngồi nguyên tại chỗ ( diễn tấu tĩnh), tăng phần nghiêm trang của lễ thức. Dân ca Mnông, K’Ho…ít tính nhịp điệu mang nhiều chất liệu thứ, mênh mang, vời vợi, khó phù hợp với múa hình thể có tiết tấu. Cả hai loại hình dân ca này đều phù hợp với trạng thái trang nghiêm trong các lễ nghi theo tín ngưỡng đa thần.

Các dàn ching chêng Tây Nguyên cho dù là hai chiếc như của tộc người Brâu, hay 15 chiếc như của người Jrai, đều có âm trì tục, nhiều bè. ( Ching của tộc người Brâu chỉ có 2 chiếc treo trên giá, do hai người đánh. Nhưng mỗi người xử dụng hai tay, hai dùi, nên vẫn tạo ra bốn âm chính và nhiều bồi âm khác khi các âm thanh va đập vào nhau) . Tuy nhiên, vì cơ cấu dàn ching số lượng khác nhau, nên có thể có một âm trì tục, nhưng cũng có thể có từ hai, hoặc ba âm trì tục, thậm chí  âm trì tục còn tạo thành giai điệu. Thường do những chiếc ching có núm, bè trầm đảm nhận. Ching núm càng nhiều, bè trì tục càng đông đảo. Nếu giai điệu ching bên trên là nhạc nền của múa, thì các âm trì tục bên dưới của bè trầm chính là tiết điệu của bài ching, là nhịp mạnh của bước chân múa. Sự đảo phách hay thay đổi giai điệu chỉ là ngẫu hứng của các nghệ nhân, không ảnh hưởng gì đến bè trì tục giữ nhịp cho múa. Đây cũng là một đặc điểm chung của âm nhạc vùng Đông Nam Á mà chúng tôi đã từng có dịp kiểm chứng ở một số nước trong khu vực, như Indonesia, Campuchia, lào, Thái Lan, Malaysia, Singapuar, Philipin hay Miến Điện….Cho dẫu dàn chiêng, trống hay ban nhạc của các nước này đã biên chế gọn lại, chỉ từ 1-2 nhiều nhất là 5 người diễn tấu.

Giai điệu và tiết tấu của dàn ching chêng, tùy theo môi trường diễn xướng mà buồn hay vui, nhanh hay chậm. Như trong đám tang thì âm giai thứ, tiết tấu chậm ( ví dụ như ching chêng trong đám tang của người Bâhnar rất chậm rãi, buồn bã mang đầy tính thê lương) . Chúc mừng điều gì ( kể cả trong lễ bỏ mả) thì tiết tấu nhanh, âm giai trưởng.  Chỉ riêng dàn ching knah của tộc người Ê đê với sự phức tạp của phức điệu, dẫu là diễn tấu trong đám tang hay trong lễ vui mừng đón khách, ăn cơm mới, vẫn giữ tiết tấu cực nhanh ( allegro vivace), cường độ lớn, mãnh liệt, dứt khoát, người nghe chỉ có thể cảm nhận biết khi nghe các bài bản.

                Trong múa khil – đao , tung khăk của người Ê đê, Jrai, chỉ dùng có ba chiếc chiêng không có núm, tiết tấu nhanh, mạnh. Tuy vẫn đứng tại chỗ nhưng thân hình và đôi chân nhún nhảy, tạo đà lẫn cảm hứng cho người múa. Tâm trạng người tấu nhạc và trình diễn múa được sự tương hỗ, nên tính ngẫu hứng và hứng khởi rất cao.

Âm nhạc ching arap của Jrai, tiết tấu nhanh hơn, nên nhịp nhún nảy hơn, động tác tay đẩy về phía trước nhanh hơn, nhất là trong múa suang cải tiến  “ chọc đu đủ”. Đám thanh niên chơi ching thỉnh thoảng lại hú hoặc hét lên vài ba tiếng theo tiết điệu của những chiếc ching trầm trì tục một cách rất sảng khoái, khiến cho nhịp điệu vòng suang thêm rạo rực, kể cả trong lễ bỏ mả.

Nhịp ching chêng Bâhnar tiết tấu chậm rãi, nên nhún trong suang mềm hơn, động tác tay đưa về phía trước cũng mềm mại hơn. Riêng tộc người Chăm Hroaih, dàn ching vừa diễn tấu vừa chuyển động thân hình ( quay hẳn người sang trái rồi ngược trở lại) và bước chân theo nhịp điệu múa, rất độc đáo.

Đôi khi với đội hình múa ít người, biên chế của dàn ching cũng được thu hẹp lại cho phù hợp với nội dung và tính chất của múa. Ví dụ như đệm cho múa khiêl, múa vỗ trống…

                Tuy cùng là một tộc người, cùng điệu thức và thang âm, nhưng mỗi làng lại có một phương thức và nhịp điệu diễn tấu ching khác nhau, cao độ của các dàn cũng khác nhau, nhưng luôn luôn đi kèm với đội hình múa. Chúng tôi đã từng được chứng kiến tại một lễ xoay cột cầu mùa của người Bâhnar Chăm ở Phú Yên  có 5 làng tham gia lễ hội. Dàn ching của làng sở tại có ba đội múa của ba thế hệ phụ nữ khác nhau về tháng năm là cao tuổi, trung niên và nữ thanh niên. 4 đội bạn mang theo dàn ching và 4 đội múa, đều là thiếu nữ trẻ. Vẫn là điệu thức 5 âm quen thuộc của tộc người Bâhnar với các quãng 4, 5 rất đặc trưng ở cuối câu nhạc, nhưng khi trình diễn khoe tài, dàn ching mỗi làng một tiết tấu khác nhau . Dàn ching trẻ nhất tiết điệu sôi động nhất, cả động tác tay lẫn chân múa cũng giậm giật nhất. Khi phối hợp, các đội ching của 5 làng đi thành vòng tròn nhỏ bên trong, vòng tròn lớn bên ngoài là các đội múa nữ . Tốp múa đi theo sát dàn ching nào, nhún chân và uốn tay theo nhịp của dàn ching đó. Do cùng điệu thức nhưng cao độ khác nhau, nên hòa âm của cả 5 dàn ching chêng lúc đó trở nên rất phong phú. Cũng như đội hình vòng múa rất đa dạng, với nhiều động tác lẫn nhịp điệu không làng nào giống làng nào, mà vẫn đều nhau chằn chặn theo nhịp ching chêng. Đó là thời điểm lễ đã qua hội đã tới, nên như đã nói ở trên, dàn ching nào, người nào mệt, đều có thể nghỉ ngơi, đợi thời gian khác trở lại. Người ở lại tay cứ nắm lấy tay, chân bước đều nhịp, mồ hôi túa ra cũng kệ, suang thâu đêm đến sáng là thế !

                Ngoài trang phục tộc người, có một loại vật dụng, không phải là nhạc cụ chính thức nhưng luôn luôn gắn liền với múa trên thân hình các nghệ nhân, trên trống cái, cầm trên tay theo bước dàn ching chêng. Đó là chùm quả nhạc lục lạc ( ring rieo) bằng bạc hay bằng đồng và các loại trang sức. Nam giới Bâhnar thường đeo bộ xà tích bằng bạc bên hông, hay dàn ching Sê Đăng, Ka Dong thậm chí làm hẳn một chiếc thảm khâu đầy các quả nhạc để giật theo tiết điệu của ching, hoặc đeo những chiếc vòng đồng, vòng cườm trên cổ. Nữ là hàng chục những chiếc vòng đồng ( kong), vòng bạc, hoặc những chiếc vòng cườm đeo rất dầy ở cổ chân, cổ tay, trên cổ, hoặc những quả nhạc nhỏ gắn trên vai áo .

Âm thanh của quả nhạc, vòng đồng, vòng bạc nơi cổ, chân, tay tác động trực tiếp đến thính giác của người biểu diễn lẫn người xem, tạo thêm sự hưng phấn, bổ xung cho âm thanh và âm điệu những câu nhạc đệm của ching chêng lặp đi lặp lại mà không nhàm chán. Để làm cho quả nhạc, những chiếc vòng bạc, vòng đồng, trang sức đeo trên người rung lên reo vui, người nhảy múa thường vận động thể hình ở mức độ nhanh,mạnh, đột ngột, có khi hạ thấp chiều cao cơ thể, có lúc rung toàn thân, nam thì nhảy tưng lên vươn thẳng đôi chân. Từ những chiếc vòng này, thi thoảng còn có động tác sát kong – cọ hoặc đập những chiếc vòng trên hai tay vào nhau cho phát ra âm thanh.

                Mặc dù có nhiều loại nhạc cụ tre nứa, thậm chỉ cả đàn t’rưng, nhưng trong sinh hoạt cộng đồng, duy nhất chỉ có dàn ching chêng luôn đồng hành cùng múa. Sau này, trong kháng chiến chống Pháp, các đội văn công chỉ có ít quân số, phải di chuyển chống càn hoặc theo bộ đội, không có điều kiện mang theo dàn ching chêng, nên mới xử dụng đàn t’rưng đánh các bài dân ca thành nhạc đệm cho múa khi tham gia biểu diễn đâu đó. Cũng như sau 1975, nhạc cụ đinh năm của người Ê đê, prelet của người Mnông vượt qua định kiến là chỉ được xử dụng trong tang ma, trong các lễ cúng trâu, đã dùng đệm cho hát và múa. Còn trong các lễ hội diễn ra tại buôn làng, tuyệt đối vẫn là dàn ching chêng.

Ching chêng là tiếng nói tâm linh, là tâm hồn của mỗi một tộc người. Âm nhạc ching chêng luôn song hành cùng với các thể loại múa nghi lễ, múa sinh hoạt, góp phần thể hiện một đời sống tinh thần phong phú và độc đáo của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Càng về sau này, các loại hình nhạc cụ truyền thống Tây Nguyên ngày càng được cải tiến, làm thêm chức năng của dàn nhạc đệm cho múa trong môi trường chuyên nghiệp. Ching chêng không còn là nhạc cụ đệm độc quyền cho múa nữa.

Đối với múa chuyên nghiệp, trong mọi ngữ cảnh, âm nhạc sẽ không phải chỉ là “ nền”, mà còn phối hợp nhịp nhàng nhằm diễn tả mọi trạng thái tâm tư , tình cảm của ngôn ngữ múa. Nhạc sôi động, náo nức, nếu nội dung múa diễn tả những trạng thái vui mừng ; nhạc tăng thêm tính chiến đấu cho múa khi cần thiết ; nhạc sẽ trở nên buồn bã, bi thương khi song hành cùng những nội dung múa tương ứng; âm nhạc còn mang tính dự báo  những diễn biến sẽ xảy ra của múa. Thông qua âm nhạc, người nghệ sỹ múa thăng hoa trong nghệ thuật biểu diễn, đem lại cảm xúc tuyệt vời cả bằng thính giác lẫn thị giác cho khán giả.

Mối quan hệ giữa dàn ching chêng và múa là quan hệ song song, mang tính nguyên bản, hỗ trợ lẫn nhau. Bài bản các dàn ching chêng của mỗi tộc người đều là âm điệu chung cho các thể loại  múa nghi lễ và múa sinh hoạt, là những thành tố chặt chẽ, hòa quyện không thể tách rời. Ở không gian đó, ching chêng làm nền, dẫn dắt, thổi hồn vào sức sống của múa trong từng nhịp điệu, từng động tác. Ngược lại, múa tôn vinh, nâng giá trị của hồn ching chêng lên một tầm cao hơn khi diễn tấu đơn độc. Nhưng để thực hiện được yêu cầu này, các thể loại múa tập thể và múa ít người sẽ có sự lựa chọn các bài bản ching theo cách thích hợp riêng. Cũng có thể thực hiện chung trên một âm điệu. Cho dù xử dụng cơ số phần đệm nhiều hay ít, bài bản và nhịp điệu khác nhau, âm nhạc vẫn mãi mãi là người bạn đồng hành của nghệ thuật múa. Thậm chí còn góp phần hoàn thiện không gian múa bằng chính nhịp chân và hình thể của những tác nhân tham gia diễn tấu ching chêng.

Sự hài hòa tôn vinh lẫn  nhau này tạo nên một môi trường diễn xướng riêng, độc đáo, mà mỗi thành tố là một hạt nhân, nếu thiếu yếu tố nào sự phong phú, rộn ràng của lễ, hội Tây Nguyên cũng giảm đi rất nhiều.

 

[...]
Xem tiếp

Văn nghệ dân tộc Tây Nguyên có gì vui?

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-20-06

Ba tôi, cố Bác sỹ Y Ngông Niê Kdam từng có một câu nói rất hay rằng “ 54 dân tộc anh em là 54 cây cột cái trong ngôi nhà Việt Nam”. Có thể khẳng định chắc chắn một điều rằng chỉ mới vài năm gần đây thôi, nhưng cả số lượng và chất lượng của VHNT các dân tộc thiểu số Tây Nguyên có sự đổi thay đáng mừng, rất rất đáng mừng.Nhất là đội ngũ tác giả, tác phẩm của thế hệ  8X và 9X.

                                                              Các văn nghệ sỹ người dân tộc ở Đăk lăk tại ĐH V

                Lĩnh vực nổi trội nhất phải được nhắc đến đầu tiên, bề nổi của VHNT Tây Nguyên, vẫn là nghệ thuật. Trước tiên là số lượng.

Về sáng tác, không còn tay ngang nữa, tất cả đã tốt nghiệp từ bậc cao đẳng trở lên. Về âm nhạc, có thêm Thảo Nam Giang,  Phi Ưng ( Bâhnar) và cả Y Ghim Kbuôr, Y Vol ( Êđê), cho dẫu có hoặc chưa có dịp chứng tỏ mình trong tác phẩm, vẫn là những nhạc sỹ trẻ phối khí tốt. Sáng tác múa có Đinh Rô Bang ( Ka Dong), Trần Y Kiều Diễm ( Êđê) , bước đầu đã có tác phẩm. Đặc biệt trong lĩnh vực ca, nổi lên thế hệ trẻ  chuyên nghiệp như Y Zoen, Y Moan Hmok, Y Bhen, Y YaLin Ayun  ( Êđê) ở Đăk Lăk;  Đinh Xuân Đề, Y Giang Tuyn, Huang Thuyên ( Bahnar) của Kon Tum & Gia Lai, RôZamik ( K’Ho), Plong Thiết ( Pa Co), Ya Suy ( Chu Ru)…,  đều có trình độ từ trung cấp trở lên, Y Garia tốt nghiệp cao học ở Trung Quốc…xuất hiện trong các cuộc liên hoan ca nhạc lớn,đều tạo được ấn tượng đối với khán giả cả nước. Giảng dạy nghệ thuật, có thạc sỹ lý luận Y Mai và nghệ sỹ múa Măng Linh Nga ( dân tộc Bâhnar- ở Trường VHNT Gia Lai), H’Zi na ( Nhà hát Quân đội tp HCM )….

Bên cạnh đó, nhiều chương trình biểu diễn lớn ở Tây Nguyên có sự tham gia biểu diễn của các nghệ sỹ người dân tộc, nhiều tác phẩm khí nhạc, ca khúc, múa của các tác giả dân tộc, đã được dư luận đánh giá cao. Đặc biệt, chương trình “ Âm vang đại ngàn” tháng 12/2013 một lần nữa các tác giả âm nhạc & ca sỹ Tây Nguyên lại được tôn vinh. Những giọng hát nồng nàn như nắng, như gió, trong vắt như nước suối nguồn, đến từ khắp các tỉnh Tây Nguyên, đã một lần nữa chứng tỏ được thế mạnh của mình.  

                Lĩnh vực thứ hai đáng mừng đó là đội ngũ các nhà sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian có tri thức bậc cao : Một Tiến sỹ Tuyết Nhung Buôn Krông ( Bih), 12 thạc sỹ văn hóa học người các dân tộc Bâhnar, Êđê, Jrai, Mnông, Sê Đăng, Ca Tu… do Quỹ For tài trợ để Viện Nghiên cứu văn hóa đào tạo, đã và đang vững vàng trên cương vị công tác của mình khắp miền Trung và Tây Nguyên, có những đóng góp đáng quý vào công tác nghiên cứu văn hóa dân gian bản địa. Những công trình của các anh chị như Âm nhạc Êđê ( Lý Vân Linh Niê Kdam – được trao giải thưởng Cư Yang Sin lần thứ I của tỉnh Đăk lăk); Tang lễ của nguời Mnông Rlâm (Y Tuyn Bing ), VHDG Sê Đăng ( Phạm Thị Trung, Phan Văn Hoàng). Nhạc sỹ K’Ra Zan Plin với Bộ Luật tục K’Ho hơn 2.000 điều. Nhạc sỹ K’Ra Zan Đích với những bản ký âm giai điệu ching và dân ca K’Ho, Lach…Những “ hạt ngọc” của văn hóa truyền thống được nâng lên từ chính những bàn tay nâu sạm màu nắng gió và đất đỏ Bazan, khoe vẻ đẹp tinh khiết với bạn bè.

                Lĩnh vực thứ ba,từ công sức và sự chăm lo của Hội  VHNT tỉnh Đăk lăk, đã có một thế hệ 9X viết văn người dân tộc, hình thành  từ các lớp, các trại sáng tác văn học trẻ, tiếp bàn chân trên con đường xây dựng nên văn học Tây Nguyên của các “ liền chị ” . Đầu tiên là hai gương mặt Êđê ( duy nhất của khu vực miền Trung & Tây Nguyên) tốt nghiệp Đại học viết văn là H’Phi La Niê ( văn xuôi) & H’Wê Ra Ê Ban ( thơ). Tiếp đến là những truyện ngắn hồn nhiên mà bước đầu đã có tính cách rất riêng của những H’ Xíu H’Mok, H’Siêu Ê Ban… từ những ươm gieo trên bàn tay nâng niu chăm bẵm của các lớp văn nghệ sỹ đi trước.

Rất ít ỏi, nhưng vẫn có những mảng màu khác đậm chất cao nguyên đó là cây cọ trẻ đẫm sắc màu  của “ làng ” nghệ thuật tạo hình Trần Y Anh Tuấn ( ÊĐê), nữ họa sỹ Khơmer gắn bó với Tây Nguyên hàng chục năm nay Trần Hồng Lâm; hay trong “ xóm” các ống kính hiếm hoi gìn giữ từng khoảnh khắc đẹp trong cuộc sống của nữ nghệ sỹ Siu Kết ( Jrai) ; đó còn là “ tay máy” quay phim trẻ trung, đang rất có uy tín với đồng nghiệp ở các Đài Truyền hình phía Nam : Y Jen A Yun ( Êđê), đem lại niềm hy vọng về một thế hệ trẻ đang định hình và sẵn sàng hội nhập, nhưng vẫn không đánh mất chính mình, trong các lĩnh vực hội họa, truyền hình & nhiếp ảnh được coi là rất khó bồi dưỡng & đào tạo.

                Đó là đội ngũ, còn đề tài cũng đã đa dạng hơn, bám sâu vào cội rễ hơn, nếp sống, tập quán và hình ảnh buôn, bon, kon, plei hiện dần ra dưới những ánh mắt trong trẻo. Đó mới thật sự là điều chúng ta trông mong và kiên nhẫn chờ đợi. Tuy nhiên, việc để tạo nên những tác phẩm xứng tầm với vùng đất và bề dày văn hoá truyền thống, không phải là việc dễ một sớm, một chiều mà làm được. Điều này không chỉ phụ thuộc vào vốn sống, mà còn ở tài năng, sự đam mê và cả độ chín theo thời gian của mỗi tác giả.       

Trong 5 năm vừa qua của VHNT toàn quốc vừa qua, đã có nhiều văn nghệ sỹ các tỉnh Tây Nguyên được kết nạp vào các Hội chuyên ngành TW, như Hội Nhạc sỹ,Hội Nhà văn, Hội Nghệ sỹ Nhiếp ảnh, Hội Mỹ thuật, Hội VNDG…. Điều đó chứng tỏ năng lực của văn nghệ sỹ Tây Nguyên đã có thể vươn lên ngang tầm cùng bè bạn các địa phương khác. Và anh chị em dù là người thiểu số hay đa số vẫn đã, đang hết mình vì sự nghiệp phát triển của VHNT Tây Nguyên.

                Từ những suy nghĩ trên, xin được đề xuất một số kiến nghị :

- Đối với các Hội VHNT trên địa bàn Tây Nguyên :

Sao chúng ta không “ chung lưng đấu cật ” trong việc bồi dưỡng đội ngũ sáng tác trẻ mọi lĩnh vực, nhất là viết văn nhỉ? Nếu luân phiên hai năm một tỉnh, mở trại cho lực lượng tác giả trẻ, chọn lựa những cây bút thật sự có triển vọng, liệu sẽ có hiệu quả hơn không? Trách nhiệm bồi dưỡng nhân tài trẻ tại chỗ, trước hết chính là của các Hội địa phương và nên cải tiến cả lối tư duy lẫn phương thức thực thi.

   - Đối với Hội VHNTDTTSTW :

Nên phát huy hình thức lớp sáng tác khu vực cũng 2 năm /lần cho các tác giả trẻ, như đã từng làm hè năm 2009 với văn học ở Tây Nguyên ( do Đăk lăk đăng cai). Trong cả văn học, hội họa lẫn nhiếp ảnh. Nên mời dự trại sáng tác thường niên của Hội một vài tác giả người dân tộc chưa phải là hội viên, như trước đây đã từng có.

                Hội rất cần kêu gọi sự phối hợp với các Hội chuyên ngành,như Hội Nhà Văn, Hội Nhạc sỹ, Hội Mỹ thuật, Nhiếp ảnh… để chia sẻ kinh phí. Và nhất là dự toán sao đó, để sau khi bế mạc trại có tập sách, hoặc triển lãm ( tranh, ảnh…) nhỏ. Bởi có tác giả rồi thì phải có tác phẩm chứ. Trại viết xong mà không có tác phẩm “ trình làng” thì còn nghĩa lý gì nữa?

                                Hội VHNTDTTS, với trách nhiệm nghề nghiệp, quản lý một sân chơi có thể coi là dành riêng cho VHNT dân tộc & miền núi, nên chúng ta có quyền đòi hỏi một phương pháp mới có sáng tạo trong lĩnh vực bồi dưỡng đội ngũ tác giả người dân tộc thiểu số, không chỉ riêng ở Tây Nguyên, mà còn khắp cả nước. Rất cần đến một sức bật mạnh mẽ hơn, thấu đáo và có tình hơn.Đã đến lúc nên chăng, đừng dàn trải quá vào các trại sáng tác chung mà đến đó chỉ như một sự nghỉ ngơi cho tác giả miền núi ( ngoại trừ những đợt đi thực tế các miền).

                Làm sao để đội ngũ chúng ta đông đảo như cây rừng đại ngàn; tác phẩm của chúng ta trong như suối nguồn, tuôn trào mạnh mẽ như dòng thác, hòa vào dòng chảy chung của những dòng sông VHNT  đất Việt.

[...]
Xem tiếp

Hồi ký con gái một điệp viên CIA: Rút chạy

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-17-06

Sống trong mắt bão

Rồi một ngày, mẹ tôi đưa tôi tới một bệnh viện. Ở đó toàn tiếng khóc và những người đau ốm.Không có đủ giường bệnh, người ta phải nằm trên chăn, chiếu rải xuống nền đất. Nhiều bệnh nhân là trẻ em, tay và ngực đầy vết bỏng do bom napalm gây ra. Bất thình lình, tôi nhận thấy chiến tranh không chỉ là hình ảnh vài anh lính đứng gác sau ụ súng ở dinh tổng thống. …

Hôm ấy, tôi nửa nằm nửa ngồi trong trang phục bikini bên cạnh hồ bơi, nghe lén bố tôi nói chuyện. Giọng ông hôm nay khang khác. Không phải những câu bông đùa chính trị vui vẻ, cao hứng như thường thấy. Nội dung câu chuyện hôm nay đầy tính chỉ trích và u ám. Tôi cố nghe và biết họ không biết là đang bị nghe lén. Bạn thân của bố tôi, Alex, nói: “Snepp đã đoán trước được tình hình”. Bố tôi nói: “Hoan hô ông ta”. Frank Snepp là nhà phân tích hàng đầu về Bắc Việt trong hàng ngũ CIA, một người đàn ông đẹp trai, lanh lợi và trẻ trung hơn cha tôi, một “hot boy” của CIA chi nhánh Sài Gòn. Trong câu chuyện của bố tôi và ông bạn, họ nghĩ rằng Snepp đã nói sự thật về cuộc chiến với ngài đại sứ. Ông ta cho rằng quân Bắc Việt đang có những bước tiến vững chắc về Sài Gòn. Trong khi đó, ông đại sứ vẫn có những hy vọng hão huyền và ngớ ngẩn về khả năng chiến thắng (của Mỹ và Việt Nam cộng hòa). “Mọi nguồn tin đều khẳng định những gì Snepp nhận định”, bố tôi nói. Ông và Alex đều nghĩ rằng những gì chính phủ Mỹ và Bộ Ngoại giao nói là rất nhảm nhí, tầm bậy. Ông đại sứ tin rằng nếu anh tuyên bố cái gì, đó là sự thật. Tôi chợt nghĩ về nhận xét của Graham Greene rằng, “ngây thơ là một dạng điên rồ”. “Đúng vậy”, Alex nói. “Tôi nghe từ người của chúng ta nói rằng Việt Cộng sẽ tới đây nay mai thôi”. Bụng tôi chợt quặn lên. Hai người đàn ông cười cay đắng. Bố tôi, cũng khởi sự như điệp viên Alden Pyle trong "Người Mỹ trầm lặng", nay đã biến thành anh chàng phóng viên chua chát Thomas Fowler.

 Một tối ở đám tiệc tùng, bố tôi giới thiệu tôi với một người ông gọi là “bạn mới”. Khi nào bố tôi giới thiệu tôi với ai, tôi cũng có cảm giác mình là một công chúa được cưng chiều. Bố tôi đặt nhẹ tay lên lưng tôi, và đưa tay kia vươn về phía người bạn và nói: “Đây là Sarah, con gái tôi”, cứ như thể đó là những lời quan trọng nhất hành tinh. Cha và con gái luôn khác mẹ và con gái. Người đàn ông nọ ăn bận rất trang trọng. Ông có khuôn mặt vuông vức của người Đông Âu, cặp mắt sắc hệt như ngài Thomas Polgar, trưởng đại diện CIA ở Sài Gòn. Thomas Polgar, cựu trưởng đại diện CIA tại Việt Nam Ông ta và bố tôi tỏ ra tương đắc, thân mật và ai cũng có một chút nham hiểm. Tôi đoán ông ta làm việc cho bố tôi, cung cấp những thông tin bí mật chẳng hạn.

 Những ngày cuối tại Việt Nam

 Một ngày, mẹ tôi phải chuyển hàng cho một cô nhi viện tận Nha Trang bằng máy bay. Mà vùng gần đó đang nằm trong tầm kiểm soát của Việt Cộng. Thành phố Nha Trang vẫn an toàn, theo lời người ta nói với tôi, cho dù có vẻ quân đội Bắc Việt ngày một siết chặt vòng vây. Nhưng mục đích của mẹ con tôi là được bơi ở biển Nha Trang, nơi mẹ nói là “tuyệt đẹp”, và ăn tôm hùm ở nhà hàng Jacques, với lời mô tả của mẹ là “ngon quên đường về”. Mẹ tôi thuê một ngư dân chèo thuyền trên vịnh Nha Trang. Lúc quay lại bờ, đưa tôi đi dạo dọc những ngôi nhà thấp và trại lính đặt dọc bờ biển. Mẹ tôi chỉ cho tôi thấy những hàng rào thép gai bao quanh thành phố. Hóa ra chúng tôi đang ở một tiền đồn thực sự. “Việt Cộng chỉ quanh đây thôi, trong rừng chẳng hạn”, mẹ tôi nói.

Tại nhà hàng của Jacques, ông chủ, kiêm phục vụ bàn, kiêm đầu bếp, chúng tôi được ăn một bữa hải sản tươi ngon và tinh tế chưa từng thấy. Tôm hùm bắt từ biển lên, khoai tây chiên giòn, salad cà chua lấp lánh những giọt dầu ăn. Mẹ con tôi ăn chầm chậm, nhấm nháp từng miếng nhỏ với rượu vang đỏ. Cứ lâu lâu chúng tôi lại nghe thấy tiếng nổ, và mẹ tôi lại nói: “Việt Cộng đấy”. Jacques nói, cứ định kỳ, quân Việt Cộng lại tấn công Nha Trang, nhưng từ đó đến giờ họ luôn để ông yên. Họ biết ông là một người Pháp vô tội và vô hại. Thật dễ hiểu, Việt Nam cộng hòa đã mất hết nhuệ khí khi người Mỹ đã bỏ rơi họ sau 40 năm và trong thời khắc cuối cùng, nhóm nhân viên “Nhà số bảy” trong đó có bố tôi đã rời Việt Nam dưới làn đạn, không phải của quân Bắc Việt, mà chính từ họng súng của lính Việt Nam cộng hòa bắn ra. Thật là kỳ lạ khi chứng kiến người đàn ông Pháp này, một trong những kiều dân của đất nước gần đây nhất xâm chiếm Việt Nam đã chịu trận, ở đây để thu lợi từ kinh doanh trong rủi ro. Tôi tự hỏi vì sao chính phủ Mỹ không nhìn thấy ở người Pháp một bài học cay đắng?

 Tôi bay trở lại Sài Gòn một mình, trên một ghế bố trong chiếc máy bay vận tải quân sự C-47. Mẹ tôi phải tới một cô nhi viện khác còn tôi phải về làm việc. Cuối cùng mẹ tôi cũng đưa tôi về ngôi nhà ở Sài Gòn sống với gia đình, thay vì ở khách sạn. Bà mua một tấm rèm ngăn giường ngủ giữa tôi và em trai để mỗi người có khoảng trời riêng. Tôi rời Việt Nam vào cuối mùa hè, trở về học tiếp năm thứ ba đại học. Nhưng khi máy bay chạy ra đường băng, tôi có cảm giác về một điều gì đen tối, một thế giới mà nhiều sự thật bị che giấu, bề mặt và chiều sâu, thật và giả, rõ và mờ.

 Đến tháng 4/1975, sau khi tôi đã rời Việt Nam, một trong những chuyến bay chở trẻ mồ côi có sự giúp đỡ của mẹ tôi lúc khởi hành đã bị rơi tại một cánh đồng cách sân bay Tân Sơn Nhất không xa, làm thiệt mạng 138 người trong đó có nhiều trẻ em. Cũng trong tháng đó, do sắp xếp của các bộ phận thuộc đại sứ quán Mỹ không tốt, bố tôi và nhân viên của “Nhà số bảy” bị bỏ lại Việt Nam sau khi những chuyến trực thăng cuối cùng rời khỏi nóc nhà sứ quán. Bố tôi và nhiều người phải đi nhờ tàu vận tải trên vịnh Thái Lan. Thậm chí cả Frank Snepp, “ngôi sao” của CIA tại Sài Gòn cũng quên mất việc đưa bố tôi và nhân viên “Nhà số bảy” vào danh sách di tản không vận. (Hết)

  NGUYỄN XUÂN THỦY ( lược dịch) 

[...]
Xem tiếp