Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Em muốn làm theo một cách khác

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-15-05

Năm 2013, xem vieo “ Tôi yêu nước sạch” được giải nhất của cuộc thi Nước sạch toàn quốc do Bộ Tài nguyên & Môi trường chủ trì, tôi chú ý đến tác giả và đoán là một bạn trẻ người dân tộc. Rồi làm quen nhau qua những đoạn video ngắn về cuộc sống buôn làng trên facebok. Đoàn làm phim Rừng và sự sống của VTV cho chúng tôi cơ hội gặp gỡ và tâm sự.

Em kể, bắt đầu thích làm phim từ năm học lớp 10 nhưng không có điều kiện. Hết lớp 12, em làm hồ sơ xin thi vào 2 trường Đại học Tây Nguyên và Đại học Sân khấu điện ảnh. Nhưng ba em, một cán bộ địa chính ở thị trấn nhất định không đồng ý. Đơn giản chỉ vì ông cho rằng theo học địa chính, ngày em ra trường cũng là lúc ông có thể nghỉ ngơi, xin cho con ngồi vào vị trí của mình ( nghĩa là chắc chắn có việc làm ở một cơ quan nhà nước, theo mong mỏi của tất cả các bậc cha mẹ khi chọn ngành nghề cho con cái ). Hơn nữa, quan niệm về cái nghề chơi bời nhiều hơn làm, còn ám ảnh suy nghĩ của ông. Là một đứa con ngoan, em nghe lời cha chỉ định “ đi thi cho rớt”, không ngờ vẫn đỗ và theo học quản lý đất đai tại trường Đại học Tây Nguyên. Cái ý thích làm phim cứ cựa quậy trong đầu, để rồi thay vì nộp các tiểu luận mỗi kỳ bằng văn bản, nhóm các em làm những video clip về môi trường, quay ngay chính tại nơi mình học. Em khúc khích cười có đôi chút tự hào “ không chỉ được điểm cao đâu. Tới bây giờ video Cầu nín thở cô giáo vẫn giữ làm tư liệu cho các bạn khóa sau tham khảo đấy”.

Sau khi được giải thưởng, lòng say mê làm phim càng như lửa đốt. Học dở năm thứ 4, em lén bỏ trường xuống thành phố Hồ Chí Minh. Không dám nói với cha, cũng không xin tiền mẹ , vừa đi làm kiếm tiền sống, vừa theo học quay phim Cái giải nhất nước sạch khiến em tiếp cận được với nghệ sỹ Phan Gia Nhất Linh. Mặc dù thày chẳng trực tiếp dạy dỗ gì, nhưng theo thày, nghe, nhìn và chịu khó áp dụng vào việc dựng phim thuê, em không chỉ học được nhiều điều về nghề, mà còn đủ sức tồn tại ở cái thành phố bậc nhất của cả nước trong việc cuốn con người vào vòng xoay kiếm sống tới chóng mặt ấy. Tất nhiên vì cái việc thứ 7, chủ nhật chẳng thấy về, cuối cùng thì cha cũng biết. Nhưng không làm gì được đứa con trai lớn, khi nó đâu cần phải có sự trợ giúp của gia đình để sống .

Lại cười “ mấy video clip Hai anh em, Vị đời…em làm chơi ở bon làng đăng lên facebok  được tới hàng triệu lượt người xem. Cứ 1 triệu lượt người coi là em được 1$. Thấy hay hay và có tiền, em quyết định tìm cho mình một lối đi khác”.

Người “ khai sáng” con đường tìm về văn hóa của chính tộc người mình cho em, là một trí thức dân tộc Mnông Nong ở Bình Phước, anh Điểu Bửu, làm quen được ở thành phố Hồ Chí Minh. Là thành viên của một cộng đồng và gia đình đã hoàn toàn chuyển đổi đức tin theo đạo Tin lành, nên không còn bất cứ một phong tục tập quán nào như đánh ching, cưới hỏi, tang ma… của văn hóa truyền thống được giữ lại; nhưng Điểu Bửu lại có sự hiểu biết và tình yêu sâu nặng với vốn văn hóa dân gian cổ truyền của tộc người mình. Anh truyền ngọn lửa đam mê đến gần như bế tắc ấy của mình sang cho Lâm Đăng. Những câu chuyện bên ly cà phê sáng tối, những bình luận về các thước phim quay còn đầy vụng về được bạn bè trên facebok chia sẻ, khiến em “ ngộ” ra một điều “ văn hóa, lối sống của tộc người mình hay thế, đẹp thế, mà chính  mình cũng chưa hiểu hết. Bằng cách nào để thế hệ các bạn trẻ như mình đều thấy ra điều ấy?”.

“ Em không phản đối sách vở và bài viết đâu, đó là tập hợp tri thức của loài người, sao mình bỏ được? Nhưng có nhiều con đường cô nhỉ? Bây giờ người ta đi làm, kiếm sống vất vả, thời gian rảnh rỗi đâu có nhiều để mà đọc sách. Nhất là lớp trẻ nữa, lướt mạng xem tin ngắn, video ngắn, hài hài một chút, là lạ một chút,  vừa có được thông tin, vừa có sự thư giãn… Nhiều người xem, nhiều người bình luận, thậm chí là tranh cãi nảy lửa, cũng là để vấn đề được đào sâu hơn. Nên em sẽ làm khác đi ”.

Đám thanh niên ham chơi trong buôn rất quý Lâm Đăng, không chỉ vì “ để được quay lên phim”, mà còn vì em lan tỏa được cả tình yêu văn hóa truyền thống của tộc người. Mẹ Đăng vui vẻ kể “ Nó xin hai con heo làng và hai ché rượu cần. Rồi rủ đám thanh niên trong buôn tới đốt lửa nướng heo, hát karaoke suốt đêm ngoài sân. Mẹ bảo khuya rồi, để mọi người trong bon ngủ. Nó nói chỉ một đêm thôi, không có lần sau đâu”. Trong đêm ấy, các anh em đã trò chuyện những gì, mà chỉ sau đó vài tháng, khi Lâm Đăng gọi tới nhà học tấu ching goong thì hầu như đủ mặt. Nhất là khi Đăng huy động tham gia video clip về một sử thi MNông nào đó. Đội ching trẻ của buôn bây giờ còn có thêm cơ hội phục vụ du lịch khi cần đến nữa. Hào hứng lắm. Việc lêu lổng chơi bời cũng bớt hẳn. Không chỉ các nghệ nhân già yên tâm, mà gia đình các bạn trẻ cũng vui lòng. Cũng không phải chỉ thế , hàng triệu lượt người xem trên yutobe, có tháng mang về cho Đăng tới 12 triệu đồng. Vậy là cha yên tâm để con theo đuổi đam mê của mình. Còn mẹ. một nghệ nhân đam mê dệt thổ cẩm, thì ủng hộ hết lòng, thậm chí còn theo Đăng đi làm phim.

Câu chuyện của chúng tôi trong bữa ăn trưa thêm đậm đà với toàn những đặc sản núi rừng, nào đọt mây luộc, lá mì cùng với đọt đu đủ xào cá khô, canh lá bép, măng lửa và cà dại, ngon tới hai chậu cơm hết hồi nào không hay. Những món ăn mà cha mẹ của Lâm Đăng thết những người cùng chung niềm đau đáu về sự mất đi của những tinh hoa của một miền đất “ ăn rừng” ngày nào của GS Comdominas.

Cha là người Mnông Rlâm, mẹ là người Jẻ –Triêng. Cư trú ngay tại buôn Jun, buôn du lịch nổi tiếng bên cạnh hồ Lăk. Dòng máu Tây Nguyên chảy rần rật trong người. Đó là những động lực để Lâm Đăng  bằng chính năng khiếu của mình, những sự tìm tòi để hiểu chính mình, qua những đoạn video clip, những câu hỏi từ một tập quán, một cái tên địa danh, cách đặt tên cho con cái, nghề dệt chiếu, hội đua voi… khơi dậy làn sóng bình luận và kiếm tìm của những người DTTS, kể cả những “ gạo cội” trong làng sưu tầm văn hóa Tây Nguyên, lẫn các bạn trẻ cùng thế hệ thông qua sự lan tỏa nhanh của facebok .

Đó là cách em chọn lựa con đường để cùng bạn bè tiếp cận và chung tay gìn giữ văn hóa truyền thống. Mong có được nhiều bạn trẻ người các dân tộc thiểu số, tìm được đường về với cội nguồn như Y Lâm Đăng Bing

 

[...]
Xem tiếp

Trò chuyện cùng Phan Văn Thắng Tạp chí Văn Nghệ Nghệ An

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-04-05

1.Lâu nay ở VN đã và đang nói rất nhiều đến vấn đề hòa giải, hòa hợp dân tộc và nổi lên như một vấn đề, một nhu cầu vừa cấp bách vừa cơ bản dài lâu của quốc gia dân tộc. Thực ra vấn đề này không phải chỉ có ở VN, và cũng không phải bây giờ mới xuất hiện. Sau mỗi biến cố lịch sử quan trọng của bất kỳ quốc  gia – dân tộc nào thì cũng đều xuất hiện nhu cầu này. Tùy vào tính chất mức độ phân hóa, phân  ly sau các biến cố mà nhu cầu nhiệm vụ hòa giải hòa hợp đặt ra với các quốc gia - dân tộc khác nhau. Ở VN, suốt hơn 70 năm qua, đặc biệt là từ sau sự kiện 30.4.1975, vấn đề này được đặt ra như một nhu cầu tất yếu, cơ bản làm nền tảng  để ổn định và phát triển đất nước, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ chính trị đến kinh tế, văn hóa… Trong cuộc gặp gỡ hôm nay, chúng tôi muốn chúng ta sẽ chủ yếu trao đổi vê hòa giải, hòa hợp dân tộc về văn hóa.

Thưa các anh chị, sau sự kiện 30.4.1975, nhu cầu hòa giải, hòa hợp về văn hóa đã xuất hiện và lộ diện như thế nào? Tại sao phải thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc về văn hóa?

 

Đáp : Sau 1975, VN có quá nhiều  việc phải làm, đặc biệt là vấn đề phát triển kinh tế . Nên có một thời gian dài không mấy ai quan tâm tới sự đổi thay theo hướng thụt lùi. Cho đến khi VH được quan tâm thì đã qua vài chục năm rồi. Ví dụ như vấn đề  đánh đổ đồng cả văn hóa truyền thống Tây Nguyên chúng tôi vào “ mê tín dị đoan” , đến khi muốn phục hồi thì gần như quá muộn. Mất gần hết theo sự ồ ạt chuyển đổi tín ngưỡng để khỏi bị coi là “ mê tín”, là “ lạc hậu” rồi còn đâu. Việc bất bình đẳng về văn hóa vẫn diễn ra từ trước đến nay, có thể không do ý thức hệ, mà do sự thiếu hiểu biết . Đến tôi còn không dám nhận mình hiểu hết về văn hóa dân gian Tây Nguyên nữa là người miền xuôi ở Tây Nguyên. Tuy nhiên có còn hơn không, thời điểm nào thì việc thấu hiểu để hòa hợp văn hóa cũng vẫn là điều cần và nên làm.

2. Đây không phải là lần đầu tiên VN phải đối mặt với nhiệm vụ hòa giải, hòa hợp dân tộc. Trong lịch sử, tôi nghĩ, khi quốc gia Đại Việt mở rộng lãnh thổ về phương Nam, hẳn là cũng phải thực hiện hòa  giải, hòa hợp với văn hóa Cham. Rồi để có một thế quân bình tam giáo đồng nguyên Nho - Phật - Lão, chắc chắn cũng là một thực hành hòa giải, hòa hợp không đơn giản và nhanh chóng. Rồi đến đầu thế kỷ XX, Nho/cựu học và Tân học cũng là một hóa/hòa giải để có sự hòa hợp. Nhìn lại lịch sử để nhận thức hiện tại, theo các anh chị thì công cuộc hòa giải hòa hợp lần này có gì khác và giống trước đây? Cái giống, và cái khác cơ bản nhất là gì?

Đáp :Tôi đồng ý rằng trong lịch sử đã có những sự hòa hợp/ hòa giải về văn hóa của văn hóa miền xuôi đất Việt với Chăm Pa, với Trung Hoa…. Nhưng có lẽ nó ở vào thời quá vãng đã xa lắm rồi, còn vài chục năm trở lại đây đối với văn hóa Tây Nguyên chúng tôi, không có được điều ấy. Tất cả gần như chỉ toàn là sự áp đặt. Áp đặt lên VH ở và làm triệt tiêu VH vật thể. Áp đặt lên VH phi vật thể để nó cũng dần triệt tiêu nốt. Đến khi Unesco công nhận toàn bộ “ Không gian VHTN” là Di sản của nhân loại, đại diện cho nhân loại thì đổ bao nhiêu tiền của vào để  cứu vãn cũng không được nữa rồi. Điều này xuất phát từ sự nhìn nhận bất bình đẳng về VĂN MINH NƯƠNG RẪY của các DTTS miền núi mà ra, chỉ thấy VH đồng bằng là ưu việt nên mới áp đặt lên tất cả như thế. Liệu chúng ta bàn đây có thay đổi được điều ấy không? Vì có ai công nhận nền Văn Minh Nương Rẫy ấy đâu chứ ??

 

3. Mục tiêu và nhiệm vụ hòa giải, hòa hợp về văn hóa lần này là gì?

Đáp : Làm sao để mọi người dân Việt Nam đều hiểu biết giá trị văn hóa cả miền xuôi lẫn miền ngược mà mình có. Không chỉ qua hệ thống trường học mà nhất là qua các phương tiện thông tin đại chúng

Gần đây TV có rất nhiều chương trình giới thiệu văn hóa  phong tục tập quán, nghệ thuật diễn xướng, ẩm thực…) các dân tộc khắp 3 miền,đó là một hướng đi đúng đắn, nên tiếp tục triển khai sâu và rộng, chứ đừng làm hời hợt. Các phương tiện thông tin khác cũng nên hưởng ứng, nhưng đừng giới thiệu dưới dạng “ bí ẩn, bật mí..” giật gân, câu khách, mà là những nét đẹp, nét độc đáo . Tất nhiên phải có sự thấu hiểu qua tìm hiểu kỹ càng, “cưỡi ngựa xem hoa” như các “phóng viên máy lạnh”rồi phán thì chẳng khác gì “ bêu xấu”. Điều này các cơ quan thông tấn địa phương có vẻ làm tốt hơn TW, vì sự cận kề chăng?.

 

4. Nội dung hòa giải, hòa hợp trên bình diện gía trị cần được xem xét và xác định như thế nào?

Đáp: Theo tôi, quan trọng nhất vẫn là ngành GD. Trong SGK nên có những trích đoạn giới thiệu VH DTTS trong các cấp học, kể cả VH dân gian lẫn VH hiện đại. 12  năm phổ thông đâu có ngắn. Sao chỉ học có văn hóa và văn học Kinh? Nhưng ngành GD còn đang bận cải cách, chưa chắc đã có thời gian ngẫm ra việc này.  SGK cấp III của tổ chức Cánh Buồm đã làm được rồi đấy. Chỉ e chưa được công nhận thôi  (mình thích gọi cấp 1,2,3 hơn là Tiểu, trung học…nha)

 

5. Trên bình diện hình thức, cái hình thức thể hiện, cái bản sắc, cái thẩm mỹ… thì cần được xem xét và xác định thế nào?

Đáp :Mỗi tộc người đều có bản sắc VH riêng. Cho dù có nhiều tương đồng như VH các DTTS Trường Sơn , Tây Nguyên , thì gần 30 tộc người vẫn có những tập tục, tiếng nói, trang phục, nghệ thuật diễn xướng…khác nhau. Vấn đề là phải phát huy trí tuệ vùng miền để có sự chọn lựa những nét tiêu biểu, sau đó cần sự thẩm định của các nhà khoa học cấp cao để sàng lọc lần nữa. Đâu có phải chỉ một vài người ôm trọn được mọi vấn đề?

 

6. Tôi nghĩ là ngay bây giờ đây, ở Việt nam, không chỉ là hòa giải, hòa hợp theo tập quán của hệ quy chiếu ý thức hệ, nhất là các vấn đề văn hóa hậu chiến mà còn có cả những vấn đề tồn dư lâu dài của lịch sử ví dụ như văn hóa giữa các tộc người, giữa các cộng đồng cư dân có tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau, giữa các vùng miền… nhằm tạo ra sự thấu hiểu, tôn trọng lẫn nhau, chia sẻ và tiếp nhận để tạo nên những giá trị chung của quốc gia dân tộc. Quan điểm của các anh chị về về vấn đề này như thế nào ạ?

 

Đáp: Đi dạy lớp năng khiếu, các cháu hỏi “ Thưa cô tại sao trong lịch sử Việt Nam không hề có trang nào về sử Tây Nguyên?” . Đem điều này hỏi một nhà sử học nổi tiếng, ông ấy buông một câu “ Biết gì đâu mà nói”. Có lẽ thế thật??? Cả trong văn hóa cũng vậy. Chúng ta thường nói “VN có 54 dân tộc anh em”, trong đó chỉ có 1 dân tộc đa số, còn lại 53 dân tộc thiểu số. Mỗi tộc người một đặc trưng văn hóa riêng, mới làm nên tổng thể văn hóa VN . Chúng ta cũng lại thường nói “ VN có một nền văn minh lúa nước vô cùng rực rỡ và độc đáo” . Vâng, nhưng lại chỉ có 04 dân tộc sinh sống ở đồng bằng canh tác lúa nước, còn 51 tộc người khác chỉ chuyên canh lúa rẫy. Vậy phải chăng nên nói thêm cho công bằng rằng “ tồn tại song song là nền văn minh lúa rẫy cũng độc đáo và đặc sắc không kém” Hoặc là nói “ Việt Nam có hai nền văn minh lúa nước và văn minh nương rẫy tồn tại song song và đều vô cùng độc đáo?”. Đấy, cái sự khác nhau nó rõ ràng như thế, vậy mà SGK từ lớp 1 cho đến lớp 12, thậm chí cả bậc đại học nữa, tỷ lệ văn hóa các dân tộc thiểu số là bao nhiêu phần trăm? Hay chỉ toàn văn hóa Kinh và nước ngoài thôi? Tôi không phản đối cái hay, vẻ đẹp của văn hóa Việt từ trước đến nay vẫn được tôn vinh, cũng không phản đối những tinh hoa trí tuệ quốc tế mình phải học. Nhưng tỷ lệ ra sao ? và tôi muốn có sự công bằng. Chí ít cũng nên để người Việt Nam hiểu đúng về văn hóa Việt Nam chứ. Điều này chưa bao giờ và chưa có ai nói đến.

 

 7 . Việt Nam hiện có khoảng gần bốn  triệu đồng bào định cư ở nước ngoài. Đây là một bộ phận không hề nhỏ với tư cách đồng chủ thể văn hóa Việt. Các anh chị nhận xét gì về vai trò văn hóa của họ trong hơn 40 năm qua, và xa hơn đó nữa, của các thế hệ người Việt Nam định cư ở nước ngoài từ đầu tk XX đến trước năm 1975.

            Đáp: Tôi học âm nhạc, nên biết rằng hơn 40 năm qua, đã có rất nhiều thế hệ người làm nghệ thuật Việt Nam, trong đó có âm nhạc, được đào tạo thành danh ở nước ngoài, chỉ nguyên lực lượng đó thôi, nếu thu hút được họ về nước, dù chỉ là để biểu diễn hàng năm, cũng đã nâng cao vị thế âm nhạc VN lắm rồi. Huống gì nếu họ ở lại với vai trò giảng dạy thì lo gì VN không có “ thần đồng âm nhạc” ? vấn đề là họ sẽ  sống và làm việc ra sao?  trong bối cảnh nào ? hay cũng lại  phải đôn đáo lo kiếm sống? Đấy mới chỉ là 1 mặt thôi nhé. Còn bao nhiêu vấn đề khác về VH Việt ở hải ngoại nữa, hình như cứ né tránh , không muốn công nhận??? May là gần đây cũng có nhiều nghệ sỹ trở về hoạt động nghệ thuật trong nước, nhưng là tự phát, tự bơi thôi…Hay là mình  phải nói do chính sách mở cửa của VN nhỉ?

            Tôi có điều băn khoăn, sao hơn 40 năm rồi mà lòng dân vẫn chưa yên? Chưa tin? ĐBDTTS từng tin và theo cách mạng đến hy sinh hết cả trí lực lẫn của cải nghèo nàn của mình để cùng thực hiện Giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, mà nay bà con cũng không tin là sao?

 

8. Để thực hiện hòa giải, hòa hợp thành công, theo các anh chị cần có những điều kiện nào? Điều kiện nào là tiên quyết? Cách thực hiện nên như thế nào? Lực lượng nào phải chủ động và trở thành trụ cột trong công cuộc khó khăn và phức tạp này? Vì sao?

Đáp: Theo tôi, chỉ có 4 chữ thôi “ Thấu hiểu , đồng thuận”.  Điều tiên quyết không chỉ nằm ở tầm vĩ mô. Các nhà lãnh đạo cấp cao thấu hiểu và đưa ra được quyết sách thì  lại lo không có người thực thi.

     Sau nữa là sự thấu hiểu và đồng thuận của hai ngành chủ chốt  VH và GD. Không hiểu  thì người ta sẽ nói kiểu như “ còn bao nhiêu việc lớn hơn phải lo tới, kinh phí đâu, thì giờ đâu…”. Ở VN mình “ trên bảo dưới không nghe” là chuyện thường mà. Cứ như việc bảo tồn và phát huy không gian VH cồng chiêng TN ấy nhé. Có quyết định của HĐND, UBND rồi, hết nhiệm kỳ, hết hiệu lực vẫn  chỉ giải ngân được ¼ kinh phí thì …làm gì được nhau nào? 

[...]
Xem tiếp

Ông ấy là em của Comdominas

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-24-04

.“ Chúng tôi ăn rừng” của GS Georges Condominas là sách gối đầu giường của những người nghiên cứu và yêu văn hóa Tây Nguyên. Ngày ông trở lại Đăk Lăk, tôi không có điều kiện được đi cùng. Nhưng cái ước muốn tới cho được cái làng Sar luk xa thật xa, hẻo lánh và heo hút, để hiểu cho được cái gì đã khiến một trí thức Châu Âu mới ngoài 20 tuổi, dám bỏ hết mọi phồn hoa ở kinh đô ánh sáng, gắn bó tới 3 năm với một bộ tộc mà trong mắt những kẻ thực dân, vẫn còn là “ man di mọi rợ” , ở nơi cách thành phố Buôn Ma Thuột bây giờ, với đường nhựa láng cóng, chạy ro ro, tới gần cả trăm cây số vậy? Chỉ tính từ cái ngày ông ấy nhìn thấy “ bộ đàn đá” cổ xưa nhất của loài người, năm 1949 tới nay thôi, cũng đã là 73 năm rồi còn gì?

Đọc sách của ông, hình dung rất rõ những không gian sinh tồn từng gắn bó như máu thịt với người Tây Nguyên: rừng săn bắn hái lượm, rừng thiêng tang ma, rừng làm rẫy, mặt nước và rừng chăn thả. Với không gian và tín ngưỡng vạn vật hữu linh ấy, cuộc sống bon làn trở nên đầy sinh động, mới lạ trong con mắt và tâm trí Condominas. Ông lấy đó làm điều phải học, phải hiểu, để rồi yêu quý những con người chất phác ấy như những người anh em của mình. Một trong số “ người muôn năm cũ”  còn đến hôm nay là già Y Wan Rtung.

Ừ, rất may, già làng Y Wan Rtung ( thường gọi là Ama Chông) vẫn còn đó. Lưng đã còng, bước chân thập thững không còn nhanh nhẹn, nhưng nhắc tới Condominas dường như ông khỏe và minh mẫn hẳn ra, theo đoàn làm phim “ Rừng & sự sống” của VTV tới tận nơi, mà trong trí nhớ mang mang của ông, chàng thiếu niên chưa đầy 20 mùa rẫy, khi ấy đứng chỉ cao hơn thắt lưng Condominas chút xíu,  rằng “ miềng đã chạy đưa Condo tới đó xem cái đá kêu ấy”.

Dọc theo dấu vết xưa cũ của con đường đá ngày ấy dẫn đến Đàm Ròn của Lâm Đồng, ông rành rẽ :

- Bon của miềng hồi xưa gốc là bon Sar Luk, không biết sao bây giờ người ta đổi thành bon Rchai A. Vô sâu hơn, chỗ này là bon Sar Lang. Bây giờ cũng vẫn thưa thớt người thôi. Rừng. Toàn là rừng.

Đưa chúng tôi tới chỗ ngày xưa từng là nơi trú chân của các công nhân làm đường. Ông chỉ  vạt đất ven suối :

- Bây giờ người ta san đồi trồng cà phê hết. Dòng sông cạn khô,con suối cũng cạn khô. Hồi xưa rộng và đầy nước lắm. Tìm được mấy tấm đá to đó, rồi còn kiếm được đá kêu dưới con suối này nữa mà.

Năm 2006, trong lần trở lại, đã có một con trâu, một con heo lớn được “ ăn” ở cái nơi ngày nay là nhà cộng đồng của bon Rcai A ( dựng theo kiểu nhà dài Ê Đê), xưa là nhà của Condominas, để làm lễ kết nghĩa anh em với Y Wan và trả lễ cả bon Sar Luk đã rộng vòng tay đón ông. “ Năm đó chỉ còn lại hai người tui với SRaang, bạn gái của Condo thui. Nên ổng kết nghĩa với hai người chúng tôi. Bây giờ bà ấy cũng đi theo ổng rồi. Ổng cũng mời miềng đi sang Pháp chơi, nhưng không có tiền nên không đi ” .  Mấy bạn trẻ trong nhóm làm phim tranh nhau  hỏi :

- Ủa, ổng mời thì phải chi tiền chứ.

- Chi chớ sao không? Ổng coi mình là em mà. Nhưng cũng phải có chút tiền dắt trong lưng mua quà về cho con cháu chớ !

- Ông Condo có con ở đây với bà SRaang không?

- Có chớ, sao không? Nhưng mà ổng chối thí xác đấy. Nhìn nó thì biết ngay.

Cả xe cười lăn lộn vì cụm từ “ thí xác” ông dùng.

Từng thoát ly đi làm cán bộ phong trào vận động quần chúng ở tận Gia Lai trong thời kỳ chống Mỹ. Được tặng Huy chương khánh chiến hạng nhất. Từng làm cán bộ buôn, có giấy khen nông dân sản xuất giỏi. Nên việc rành rẽ tiếng Việt của ông, cho dẫu là vẫn sai dấu đi nữa, cũng là điều dễ hiểu. Theo quy chế hiện hành thì xấp  xỉ 90 mùa rẫy như ông, chỉ có ngồi nhà hút thuốc rê, xem ti vi mà thôi. Nay vẫn là một già làng có uy tín để bon làng đến hỏi những việc quan trọng. Ông còn là một nghệ nhân diễn tấu chưng goong khá thành thạo, đúng nghĩa “ mang chiêng đi đấm” tận Hà Nội, thành phố Buôn Ma Thuột,các tỉnh bạn…Ông buồn và lắng lại đôi chút khi được hỏi về văn hóa truyền thống của người MNông. Lia mắt khắp những ngọn núi xung quanh chỗ chúng tôi ngồi : Juk mâo Yang Go - núi Đá thần Go,  Juk Rhau – núi chó rừng, Juk Blok – Núi bẫy hầm, Juk Yang RSâm, …rồi như có dịp trút bầu tâm sự, ông nói một thôi một hồi:

- Thời bây giờ khác trước lắm. Đâu còn đi làm rẫy nơi này nơi khác nữa. Nhà ở tại chỗ, nước lấy tại chỗ, trồng cà phê, trồng lúa nước tại chỗ. Có tivi, có điện, là do nhà nước chỉ bảo. Đói không nhiều, nhưng văn hóa mất gần hết.  Mình còn quên cách mặc khố, kể gì lớp nhỏ. Chúng biết gì về hồi Condo đâu . Đó, thằng cháu  Lâm Đăng nói đi tìm hoa văn Mnông, có ai còn biết ? Dệt vải, may áo…theo người Ê Đê hết.  Hồi đó cái gì cũng cúng. Mình sống với rừng, mình xin “ nó” cái gì thì phải cúng cái đó. Ching goong đánh quanh năm. Bây giờ vẫn còn nhưng có đủ ăn đâu mà cúng lúa. Giếng nước có rồi, đâu ai cầu mưa. Lâu lâu có hỗ trợ thì làm một chút. Không có thì bỏ qua luôn. Vậy thôi. Ai mà quan tâm.

Nỗi buồn như đọng lại thành từng hòn, từng cục chẹn nơi cổ họng khiến ông nghẹn lời. Y Wan Rtung như pho sử sống của một thời săn bắt hái lượm, lang thang khắp rừng này, núi kia với chiếc gùi đè trĩu trên vai; của thời Condominas từng quen mà lạ; thời theo cán bộ kháng chiến chống Mỹ hy sinh tất cả cho độc lập tự do… của vùng Sar Luk này. Liệu còn ai nhớ những điều ấy, hay lúc nào đó ông sẽ mang theo về cõi Mang Lung??

[...]
Xem tiếp

LINH NGA NIEKDAM - SOẢI CÁNH CHIM GIỮA ĐẠI NGÀN

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-15-04

Tôi đã viết nhiều chân dung bạn bè văn nghệ sỹ nhưng khi có ý định viết về nữ sỹ Tây nguyên Linh Nga Niêkdam  có phần phân vân và dè dặt,  sự dè dặt ấy có cái nguyên do là vì chị quá nổi tiếng trên hầu hết lĩnh vực văn hóa nghệ thuật của Tây Nguyên hùng vĩ này. Có nhiều danh xưng dành cho chị: Nhà văn, nhạc sỹ, nhà nghiên cứu và thậm chí là đạo diễn, nhà biên kịch...Ở tâm thế nào chị cũng lừng lững như cây đại thụ mà khó có người sánh kịp dù chỉ một trong những danh xưng của chị. Không thế mà chị đã và đang là ủy viên BCH của các Hội: Hội Nhạc sỹ Việt Nam; Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam và từng là Phó tổng thư ký Hội VHNT các DTTS Việt Nam ( Khóa II-II-IV). Ấy thế mà tôi vẫn thích gọi chị cái danh xưng nữ sỹ Tây Nguyên, bởi tính từ trước đến nay chưa có một phụ nữ Tây nguyên có bề dày sáng tác và xuất bản nhiều đầu sách như chị .

Tôi biết đến tên chị từ năm 1983 từ khi tôi bước chân vào Đoàn nghệ thuật Đam San làm họa sỹ thiết kế mỹ thuật. Nghệ sỹ nhân dân Y Brơm thường nhắc đến tên chị và trân quý chị như một bạn đồng môn tâm đắc. Chị đã từng là diễn viên đơn ca của Đoàng Ca múa Tây Nguyên từ những năm 70-76 của thế kỷ trước.

Chị Linh Nga Niê kdam là người con gái Ê Đê, sinh ra ở  Tuyên Quang . chị được đào tạo bài bản ở nhạc viện Hà Nội tốt nghiệp đại học môn thanh nhạc năm 1979 và môn sáng tác âm nhạc năm 1990, nên chị khởi nghiệp bằng con đường âm nhạc? Chuỗi tác phẩm âm nhạc từ ca khúc đến các khảo luận về âm nhạc như : Rồi một chiều Ban Mê; Thêm một lần Tổ Quốc; Bình minh rừng cao su; Tình ca Cao Nguyên; Trăng chiều Ban Mê; Mưa Cao Nguyên; Cao Nguyên say; Ngã sáu tôi yêu; H Linh hát trên dòng sông Srê Pok. Vân vân và vân vân. Những ca khúc ấy đã đi vào lòng người trong cả nước qua giọng ca của các thế hệ danh ca  núi rừng. Bước nhảy vọt từ sáng tác chị nhảy vào lãnh địa nghiên cứu âm nhạc một cách nhẹ nhàng như cuộc dạo chơi trong vườn , sau đó chị cho ra hàng loạt các khảo cứu âm nhạc có giá trị khoa học :Âm nhạc trong không gian cồng chiêng; Âm nhạc trong đời sống văn hóa truyền thống Tây Nguyên; Đặc tính âm nhạc của trường ca, sử thi Tây Nguyên … vân vân và vân vân. Cũng từ những đam mê về vùng đất và con người Tây Nguyên,chị đã nói lên tiếng nói và hơi thở của con người chân chất ở đây bằng cách xây dựng cấu tứ bố cục và hình tượng nghệ thuật qua các tác phẩm văn chương : Nỗi lòng M Tao Ama Thuột; Ngày chúa đi vắng; Bóng chiều bảng lảng; Chiếc bầu nước của H Lâm; Rưng rưng cỏ hát; Pơ thi mênh mang mùa gió; Con trai của rừng Xa Nu vân vân và vân vân.

Bước sang lĩnh vực nghiên cứu văn hóa dân gian có lẽ là sở trường vốn có của chị, Linh Nga Niêk dam quan niệm sưu tầm và nghiên cứu văn hóa đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên như là một trách nhiệm . Thái độ trách nhiệm trong việc giữ gìn văn hóa được chị đặt lên hàng đầu và chị coi đó là cơm ăn nước uống hằng ngày không thể thiếu để nuôi cơ thể chị khỏe mạnh, để đôi chân chị rắn chắc như cây Ko Nia hằng ngày hằng tháng có mặt trên khắp núi rừng Tây Nguyên này. Vì thế trong lĩnh vực này chị đã để lại biết bao công trình khoa học về vùng đất và con người ở đây : Lễ hội cộng đồng của người Tây Nguyên; Nghệ thuật diễn xướng Ê Đê Bih; Lễ cúng hồn lúa của người Sê Đăng; Lễ Chrai của người Mnông Gar; Lễ hội Tam Nghét Vân vân và vân vân.

Tháng hai vừa qua tôi vinh dự được chị mời tham gia cùng tìm hiểu một mảng nhỏ trong phần vật thể của người RMam tại xã Mô Rai huyện Sa Thầy tỉnh Kon Tum. Lần đầu tiên được chứng kiến nữ sỹ Tây nguyên bước vào tuổi thất thập ( Xưa nay hiếm) làm nghiên cứu, quả tình tôi không ngờ sự nhạy bén khoa học trong quá trình khai thác tư liệu. Sự năng động tháo vác để tranh thủ từng thời gian hiếm hoi trên vùng thực địa quả khó có người thừa sức khỏe làm được như chị. Trong khoảng thời gian phải chờ nghệ nhân, chị lao vào bếp núc để sửa soạn bữa ăn và chăm sóc sức khỏe cho từng thành viên như một người mẹ. Với chị thời gian và công việc là một cặp song sinh được mặc định mà Giàng đã trao cho chị và mặc nhiên chị không thể làm trái ý Giàng. Định mệnh của chị là phải làm và tranh thủ làm để giữ lấy vốn văn hóa truyền thống trên quê hương Tây Nguyên trước khi quá muộn.

 

                                                                                  Phùng Sơn

 

[...]
Xem tiếp