Linh Nga Niê Kdăm
taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Tiếng kêu cứu của bày voi

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-26-07

Nếu như trước đây đàn voi lớn tung hoành dọc ngang giữa đại ngàn, giúp đồng bào Tây Nguyên giữ rừng, giữ đất, bảo vệ buôn làng thì nay do nạn phá rừng và săn bắn trái phép, voi ở Tây Nguyên đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.

 

                                                        Bày voi nhà, niềm tự hào của Tây Nguyên 

 

Theo thống kê của Trung tâm Bảo tồn voi tỉnh Đăk Lăk, từ 2009 đến nay đã có 17 con voi hoang dã bị chết và hiện quần thể voi hoang dã còn khoảng 4 đàn với khoảng từ 60 đến 65 con; chúng sống co cụm tại khu vực rừng thuộc huyện Buôn Đôn và Ea Súp. Trên hình là Cơ quan công an đang kiểm tra hiện trường vụ hai con voi hoang dã bị giết chết trong Vườn quốc gia York Đôn vào tháng 8/2012.

       Voi bị giết giữa rừng già 

 

                                                           bướu trên thân voi

Theo các nhà khoa học, trong 20 năm trở lại đây, đàn voi nhà của Đăk Lăk không còn sinh sản; nguyên nhân chủ yếu do môi trường chăn thả bị thu hẹp, thiếu thức ăn, nguồn nước hạn chế trong mùa khô khiến sức khỏe của voi giảm sút. Trên hình là con voi nhà bị mắc bệnh u bướu.

 

                                 Không chỉ phục vụ du lịch mà còn phải kéo gỗ lậu

Do những thay đổi lớn về điều kiện tự nhiên và tình trạng phá rừng trái phép đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến nơi cư trú và tập tính sinh thái của voi, khiến số lượng voi hoang dã cũng như voi nhà suy giảm nhanh chóng. 

 

                                          Chết cũng không toàn thây

Trong số 17 con voi chết từ năm 2009 đến nay đã có ít nhất 5 con voi chết có nguyên nhân trực tiếp từ con người, với bằng chứng là tại hiện trường, xác voi đã mất nhiều bộ phận cơ thể như ngà, đế bàn chân và đuôi.

 

                                                 Ai tung tin lông đuôi voi là may mắn?

Bên cạnh việc săn bắn, tình trạng buôn bán, tiêu thụ các sản phẩm từ voi như ngà, xương, lông đuôi voi cũng có xu hướng ngày càng gia tăng. Điều này đã tiếp tay cho nạn săn bắn voi trái phép trở nên khốc liệt hơn. Những món quà lưu niệm từ voi như ngà, xương và lông đuôi voi vẫn ngang nhiên được bày bán ở Bản Đôn.

 

                                                         Ngà voi giả làm nanh trang sức

Từ năm 2008 đến nay đã có ba vụ chặt trộm đuôi voi. Anh Nguyễn Công Trung, Phó giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi tỉnh Đăk Lăk, người phụ trách công tác bảo tồn voi nhà cho biết, lông đuôi voi có chức năng xua đuổi ruồi muỗi, côn trùng, nếu không có nó voi rất dễ bị côn trùng tấn công gây bệnh. Vì vậy, việc chặt trộm đuôi voi để lấy lông làm các đồ mỹ nghệ mang tính tâm linh sẽ gây hại trực tiếp cho tính mạng của voi.

Theo Vietnamnet

 

[...]
Xem tiếp

Mùa này dã quỳ nở rộ

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-22-07

                                                                                                                                                  Truyện ngắn H’Siêu Byă 

Mình biết buồn khi Đăm – người thương đầu tiên trả lại chiếc vòng đồng hẹn ước. Chiếc vòng sáng choang có khắc hình đôi chim rừng quấn qu‎ýt. Chiếc vòng biểu tượng cho sức mạnh của tình yêu, sợi dây ràng buộc vững chắc giữa hai người. Người Êđê chỉ trao vòng cho nhau khi chắc chắn đối phương sẽ là người đầu ấp tay gối trong tương lai. Mình buồn quá, tay chân mềm nhũn như lá chuối hơ lửa, tan chảy và nghẹt thở. Tiếng gió rít u u không ngăn nổi tiếng vọng ban chiều:

-  Đừng nhớ Đăm nữa. Con gái buôn bên sắp qua nhà cầu hôn. Amí đồng ý rồi, năm sau dăm dei sẽ tiễn Đăm xuống cầu thang sang nhà vợ.

Và Đăm đi.

Vội vã, gấp gáp như nụ hôn Đăm đặt lên môi mình dạo ấy. Mình tròn mắt nhìn cho đến khi bóng Đăm lẫn trong đám lá quỳ xanh động đậy rồi mất hút.

Ngồi phịch xuống tảng đá, tảng đá cựa quậy, nhìn cánh đồng quỳ, cánh đồng quỳ cựa quậy, ngó đám mây, đám mây cựa quậy, liếc dãy núi, dãy núi cũng chao đảo ngả nghiêng.

Chiều lắm rồi. Buôn mình rục rịch nhóm bếp lửa chuẩn bị buổi tối, đám khói ngoằn ngoèo, chúng chụm lại và toác miệng như cười ha hả đắc chí về chuyện tình vỡ toang hoang như quả bầu khô của mình. Chiếc điện thoại trong túi tút tít reo, mặt mình đầm đìa nước và câu hát bỗng chợt ngân vang:

Anh với em

Vòng đã trao

Lời thề giữ trong lòng…

Mình ngước mắt lên, cánh đồng quỳ đã ngập trong màu tối, vài ánh sao nhấp nháy không đủ soi rõ con đường mòn về nhà, chiếc vòng trong tay rung rung, nó tự động xoay tròn ba lần bên trái, bảy lần bên phải rồi bật tiếng khóc ư hử. Lạ quá! Một đôi chim trong suốt, đuôi dài như đuôi chim trĩ, chim công bay ra. Đôi chim tíu tít bay quanh như muốn hút lấy hết mùi thơm trên cánh đồng quỳ hoang dại:

Củ nghệ vàng em tắm lúc chiều hôm

Đêm nằm anh càng thương, càng nhớ

Ơ! Đó là giọng của Đăm, Đăm hay hát như thế trong những lần hẹn hò, khi chờ mình đến . Giọng hát đã làm mình chao đảo, trái tim mình rộn ràng như hoa nở, cái đầu lúc nào cũng líu lo niềm vui. Mình mang tiếng hát ấy lên lớp học tiếng Kinh, mang khi ra bờ suối giặt váy và lúc tỉa bắp với amai adei trên đồi. Chưa hết ngạc nhiên, con chim mái hát đối đáp:

Gửi bông hành, bông nghệ nhớ không thôi

Em mong anh đã lâu

Như em mong chim phí

Em đợi anh đã nhiều

Như em đợi chim giong

Ơ! Đó là giọng của mình, mình đã bắt aduôn dạy nhiều klei duê về tình yêu ,khi mình bắt đầu biết cúi mặt mắc cỡ vì mặc tấm váy đẹp đi qua trước mặt thằng con trai. Aduôn mình đã già hơn cây M’nut cạnh bìa rừng, lưng còng hơn chiếc cần uống rượu, nhìn mặt người nhập nhoạng trắng đen, nhưng trong đầu aduôn lúc nào cũng đầy ắp klei duê. Mình biết Đăm khi hai đứa còn địu trên lưng amí đi khắp các quả đồi tỉa lúa rẫy. Đăm sinh ra đã là “Người có môi thần cho. Miệng thần tạo. Tai dính chặt với đầu. Là người có tài hát kưt, muin, ayray”. Yêu Đăm, muốn đắp tấm chăn cùng, đêm đêm được nằm trong đôi tay săn chắc và đen bóng của anh ấy mình phải học thật nhiều klei duê, hát airei đối đáp. Aduôn mình mừng vì con cháu chịu học câu nói xa xưa của ông bà. Ngày ngày ra dring giũ váy, xoã tóc cười tủm tỉm và hát airei.

Đôi chim nhìn nhau rười rượi buồn, gió thốc mạnh đưa tiếng dế rỉ rả ra xa, đưa ánh sáng đóm đóm lại gần, đưa tiếng hát chim đực bên trái, con chim cái lắng nghe bên phải:

Ơi em!

Một trái dưa chẳng quên

Một trái bắp cũng dành cho nhau là thế

Đừng quên anh khi mặt trời đỏ hửng

Nhớ nhau mãi cho đến lúc mặt trời khuất núi

Tim mình nhói quá, tựa không thở được, có con ma rừng đang bóp bên trong. Đôi chim lượn lượn một vòng tròn lớn quanh cánh đồng quỳ mênh mông rồi tiến thẳng về Vực Yang Tao. Đó là vực thẳm sâu hun hút, đứng cạnh vực này nhìn buôn tây thấy bầu trời tối mịt, ngó buôn đông thấy sấm chớp nổi giận đùng đoàng. Chưa một ai nhìn thấy đáy . Đó là khu vực người già cấm kị nhất trong vùng thảo nguyên của tù trưởng Ma Đrăk, nghe nói nhiều đôi trai gái đã gieo mình xuống dưới chết chung, vì tình duyên không thành. Có lần Đăm kể cho mình nghe về chuyện tình Y’ Du và H’ Jan “Cách đây không lâu Y’ Du, H’ Jan đã nhảy xuống dưới Vực Yang Tao. Cuộc hôn nhân của họ không được người già chấp nhận. Buôn Y’Du và buôn H’ Jan có mối thù nặng như ghế Kpan mười người khiêng, như tảng đá to trăm người vác. Vết khắc trên cây Tang vẫn còn, trí nhớ của người già chưa hết, bến nước hai buôn vẫn còn ngăn. Buôn H’ Jan không được rước Y’Du về, buôn Y’ Du không cho phép con trai làm rể bên nhà buôn ấy. Vậy là họ rủ nhau chết chung. Năm ấy dã quỳ thi nhau nở rộ kín mít, trải dài đến chân núi, sáng rực cả một vùng trời. Một đêm trời nhuốm màu đen đặc, rơi những hạt mưa to như nước trút, quất những trận gió lớn dữ dội. Người ta không thấy Y’Du và H’Jan trộm yêu đương nữa. Người già nhất buôn mơ thấy Yang Bến Nước về báo mộng. Ngài giận, uống rượu cần xoay lưng, con cháu đưa chén thịt không thèm nhìn, chén cơm trắng muốt chẳng buồn ngó. Ngài giận vì mối thù lâu lắc, hàng trăm con trăng rồi mà mọi người chưa quên để giờ làm khổ con cháu. Vậy là sáng hôm sau người ta không thấy vết khắc trên cây Tang đâu, bến nước đã hoà cùng dòng chảy, hai buôn đã chịu nhìn mặt nhau, trai gái tự do hò hẹn.”  

 Mình nức nở khóc từ khi câu chuyện chưa dứt. Đăm dỗ nín hoài. Mình không thương cho Y’ Du, H’ Jan, ít ra họ cũng bên nhau cho đến lúc chết. Mình thương mình. Mình yêu Đăm nhiều quá, lỡ một ngày anh ấy bỏ mình đi...

Rồi mình chạy theo đôi chim về phía Vực Yang Tao. Nhành cây ven đường kéo tay, cây gai kéo áo, cục đá ven đường níu giữ đôi chân. Chẳng ích gì, mình không muốn sống nữa. Không muốn nghe thấy tiếng ching rộn ràng đưa Đăm xuống cầu thang. Không muốn nghe tiếng cười nói của dăm dei Đăm khi nhận của cải “bắt chồng” từ đàng gái. Không muốn khóc mỗi một mùa quỳ nở rộ, lúc ấy năm nào Đăm cũng ngắt một bông to nhất cài lên tóc xoăn tít của mình. Tha lỗi cho con gái hư khi không thể giặt váy lúc amí vào tuổi xế chiều. Tha lỗi cho con gái hư khi không thể giúp ama gùi nước đổ vào vào ché mỗi khi khách tới chơi... Mình sẽ chôn vùi tình yêu, kỉ niệm, chiếc vòng ... tất cả những gì thuộc về Đăm xuống Vực Yang Tao. Sẽ thả người rơi tự do từ trên cao xuống theo đôi chim lạ. Chắc không đau vì người ta nói rằng Vực Yang Tao không có đáy, mình không sợ. Mình vắt nụ cười lắt lẻo trên ngọn cây cao trước khi chìm nghỉm vào giấc ngủ chập chờn....

Hôm nay nhà sàn thật đông, người lên xuống cầu thang không biết bao nhiêu mà kể, amí nói làm lễ cúng sức khoẻ cho mình trước khi xuống dưới Sài Gòn học làm cô giáo. Trong nhà cũng không ai dám nhắc tên Đăm, họ sợ chạm vào vết thương đang ri rỉ máu, họ không muốn nhìn mình lại nằm bất động cạnh Vực Yang Tao cách đây mấy hôm.

Lễ cúng bắt đầu, chinh k’nă sẵn sàng chờ nhau vào nhịp. Thầy Cúng bắt mình ngồi xoay về hướng đông, gần ba ché rượu cần nấu ba tháng, cạnh cây nêu vẽ máu heo cách đây hơn ba giờ. Thầy vẩy nước tung toé lên tóc, lên áo và lên váy. Nước mát được lấy từ giọt sương đêm, đựng trong chén bằng đồng sóng sánh. Mình nhìn thấy mặt Đăm trong đó, anh ấy đang ngắt đoá quỳ và cười. Nước mắt lăn theo bài cúng, dứt rồi lại chảy dài theo những nhịp chiêng bay bay. Mọi người nhìn mình ái ngại. Trong góc bếp amí lấy vạt váy châm chấm lên mắt. Mình ngồi im. Câm lặng như người chết trở về.

Ngày lên xe, amí cũng rưng rưng, amí nói đã đuổi được con ma xấu trong chiếc vòng hẹn ước. Ri – em mình đã kể cho amí nghe chuyện mình trộm đôi vòng đồng trong hòm “Amai trao vòng đồng cho anh Đăm, còn thề nếu không sống được chung nhà, cả hai sẽ nhảy xuống Vực Yang Tao”. Amí nói mình bị chiếc vòng đồng xui khiến, nó là vật linh thiêng, vật có linh hồn. Aduôn đã mua của người Chăm bán dạo để bắt chồng cho con gái lớn, chiếc vòng sẽ hành động dựa trên cảm xúc của người bị bội ước.

Hôm ấy, amí kể nếu Đăm không báo kịp thì không ai biết mình nằm ngất xỉu cạnh Vực Yang Tao. Mình tức khi amí nhắc đến Đăm, mình hận, mình quyết định xuống thành phố học để bắt đầu cuộc sống mới.

Chiếc xe khách lăn bánh, mình khóc nức lên như một đứa trẻ lần đầu xa nhà. Mưa tầm tã, tấm kính nhoè nước rỏ thành giọt long tong ngoài của sổ, mình lấy tay lau để nhìn rõ cánh đồng quỳ đang thụt dần phía sau nhưng sao mờ quá. Chiếc xe chạy xa dần, xa dần rồi khuất núi. Mình mang một gùi nặng những u uất, giận hờn, nhớ nhung xuống thành phố.

Sài Gòn bao dung đón nhận, tống vào đầu mình nhiều suy nghĩ, nếp sống mới lạ. Họ nói quên sạch sẽ thằng con trai xấu tính trên thảo nguyên ấy đi, dưới này nhiều trai đẹp và giàu có. Son thật thà, duyên dáng, mang nét hoang dại của núi rừng các “đại gia” xối xả chạy theo chứ chẳng đùa. Trở thành vợ đại gia rồi Son hãy trở về thảo nguyên, bằng xe hơi trắng tinh hẳn hoi nhé. Nhớ phả khói vào mặt thằng con trai xấu tính từng phản bội Son... Họ làm chiếc gùi sầu muộn bớt nặng dần, mình đã nhoẻn miệng cười, bắt nhịp với cuộc sống ồn ào như thác nước, cho đến một ngày nhận điện thoại của amí.

- Thằng Đăm chết rồi, hồi sáng. Nó bị hư gan nặng. Người ta sẽ chôn nó giữa cánh đồng quỳ...

Điện thoại trong tay mình rơi. Lời của amí ngắt quãng giữa chừng. Tiếng tút tút kéo dài và chìm vào khoảng không tĩnh lặng. Mặt lạnh và tái. Nước mắt không chảy, ứ lại giữa hai hốc mắt đang mở to nhìn trừng trừng về phía dãy nhà cao tầng màu trắng. Mình thấy Đăm giữa cánh đồng quỳ vàng rực, tóc bồng bềnh theo làn gió, anh ấy cười và say sưa hát airei.

Trở về thảo nguyên giữa mùa quỳ nở rộ. Mình mặc áo, quấn tấm váy có đường hoa văn mặt trời Đăm thích đứng trước mộ. Tháo chiếc vòng trên tay thả vào ché. Vòng rơi xuống đáy leng keng, âm thanh vang vọng thật dài.

Mình đứng đó nhớ Đăm – người thương đầu tiên .

27/3/2014

 

 

 

 

[...]
Xem tiếp

Diễn xướng nhạc múa dân gian Mnông

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-21-07

Tây Nguyên có hơn 20 dân tộc anh em bản địa, mỗi tộc người một sắc thái văn hóa riêng, hài hòa chung trong văn hóa vùng miền Trường Sơn – Tây Nguyên. Tín ngưỡng và hệ thống các lễ nghi – lễ hội chính là môi trường tốt nhất để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trường tồn theo thời gian, trong đó có nghệ thuật diễn xướng.

Nghệ thuật diễn xướng là hình thức trình diễn có công chúng. Một trong những đặc trưng của nghệ thuật dân gian là công chúng có thể vừa là người hưởng thụ ( khách thể), vừa là người trình diễn (chủ thể).Thậm chí còn là người sáng tạo ( tạo tác). Diễn xướng bao gồm nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau : trình diễn nhạc đàn, trình diễn múa, trình diễn con rối, trình diễn nhạc hát … Toàn bộ những yếu tố trình diễn trên được tiến hành trong hoặc ngoài nhà sàn hay tại nương rẫy hoặc nơi nhà mồ, kết hợp cùng nghệ thuật tạo hình ( trang phục, cột lễ cúng, tạc tượng gỗ…), nghệ thuật ẩm thực

( các món ăn, đồ uống, hút ), bên cạnh diễn tấu của các thành tố văn học ( kể chuyện cổ tích, răn dạy con cháu, hát – kể trường ca…) …; làm thành một tổng hòa của “ Không gian văn hóa” các tộc người thiểu số tại chỗ Tây Nguyên, đã được tổ chức Quốc tế Unesco công nhận là  “ Di sản văn hóa phi vật thể truyền khẩu của nhân loại”.

Nghệ thuật diễn xướng Mnông ngoài hát dân ca còn có :

Trình diễn nhạc đàn :

                                                                        Dàn chưng Mnông trình diễn tại Đan Mạch

 Khu vực miền núi Trường Sơn – Tây Nguyên, là nơi có sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng về loại hình nhạc đàn ( khí nhạc) hiếm có nơi nào sánh bằng. Tộc người Mnông tuy có ít nhạc cụ hơn so với những tộc người khác, nhưng cũng vẫn rất phong phú về hình thức.

Một trong những sự cốt lõi của “ Di sản văn hóa” đó chính là các bộ gong chêng ( cồng chiêng) . Gong ching Mnông ở cả địa bàn tỉnh Đăk Nông và tỉnh Đăk lăk đều có hai loại : bộ 3 chiếc có núm gọi là gong và bộ 6 chiếc không có núm gọi là chưng ( hoặc chêng). Khác với một số tộc người như Ê đê, Jrai, Sê Đăng, Bâhnar trình diễn ching chêng là sự hợp tấu của cả những ching có núm và không có núm; người Mnông có sự tương đồng với tộc người K’Ho, Cil, Châu Mạ, Stiêng… trong việc diễn tấu riêng biệt bộ gong 3 chiếc có núm, hoặc bộ chưng ( chêng) 6 chiếc không có núm.

Dàn chêng sáu của người Bu noong Preh, khi trình tấu có hai chiếc giữ nhịp trì tục của bè trầm: Chêng Me tiết tấu nhịp đơn,  chêng Ng’râm tiết tấu nhịp kép,  chêng tê - chiếc chêng nhỏ nhất-cũng trì tục, nhưng đảo phách giữa hai chêng lớn. Ba chiếc chêng ở giữa đi giai điệu. Có một điều rất đặc biệt là người Pu Noong Preh truyền dạy gong chêng không chỉ  hướng dẫn cách đánh, mà còn bằng phương thức đọc tên các chêng theo giai điệu của những bài chêng đó, ví dụ như n’dớt, n’dớt, n’ớt, tr’u,tr’ơ...Nhưng cũng chính vì cách đọc truyền miệng này, mà một số bài chêng cổ và có tiết tấu khó đã thất truyền, vì không ai còn nhớ giai điệu nữa.

Ngoài bộ chưng bo, gong chêng, người Mnông ở Đăk Nông còn có bộ ching Prăk, là ba cặp ching đồng có núm, hình dạng nhỏ như cặp bát úp, tương tự như những chiếc xập xòa của người miền xuôi, nhưng dày hơn. Rất quý hiếm. Chỉ xử dụng khi có những lễ nghi thật đặc biệt, của những gia đình được coi là có quyền thế đối với một vùng rộng lớn.

Bên cạnh các bộ gong chêng ( chưng) bằng đồng, các vùng cư trú tập trung của người Mnông (Lăk, Đăk Rlâp…) đều phát hiện được những thanh đá kêu đã có sự ghè đẽo và sắp xếp để tạo nên âm thanh & tiết điệu tương ứng với bộ gong chêng bằng đồng, được gọi là gong lú ( ching đá) . Thậm chí còn có ý kiến cho rằng “ Người MNông là chủ nhân đích thực của những bộ đá kêu – đàn đá ” đã từng được phát hiện.

Gong chưng Mnông thuộc loại diễn xướng động. Khi trình tấu , cả dàn thường đi vòng tròn ngược chiều kim đồng hồ quanh cột gâng ( ngoài nhà) hoặc trong nhà sàn. Chỉ có gong lú ( ching đá) đánh ngoài rẫy hay ngoài suối sẽ phải buộc lên cây hoặc giá treo nào đó và đứng tại chỗ để trình tấu.

Bên cạnh đó việc trình diễn nhạc đàn cũng rất phổ biến với nhiều loại nhạc cụ bằng tre nứa trình diễn theo phương thức dùng hơi thổi ( rlet, m’buốt, wao, nung, guach, n’hôm…), dùng tay hoặc dùi gõ ( đing gơr, gơr) , hoặc dùng tay để gảy ( goong kla, goong ring ) …rất đa dạng.

Có những loại nhạc cụ chỉ dùng trong những lễ nghi như nung, rlet.Có những loại chỉ dùng trên rẫy như goong kla, wao, n’hôm.Có những loại dùng trong sinh hoạt đời thường như mbuot, hoặc guach ( đàn môi).

So với nhạc cụ của một số tộc người anh em Tây Nguyên, hình dạng có thể giống nhau, như Wao giống với đinh buốt, đinh kle của người Ê đê, Gong kla giống với gong reng , Nung với Ki pah ( Ê đê)- pơ nung ngkae ( K’Ho), nhưng môi trường diễn xướng có khi lại khác nhau. Như cây kèn Đinh năm ( Ê Đê) – m’buốt ( Mnông)- K’Mbuôt ( K’Ho) giống nhau ở trái bầu và sáu ống nứa, nhưng tộc người Ê đê chỉ được thổi ngoài nhà mồ khi có tang lễ, thì với người Mnông, sáng sớm mờ sương, trong tiếng chày giã gạo bậm bịch của những người vợ tảo tần, dưới mái nhà vòm, có tiếng Mbuốt du dương dỗ con  ngủ tiếp của những người cha .

Trình diễn múa :

                                                             Múa dân gian Mnông

Các nhà khoa học chia các tộc người tại chỗ Tây Nguyên làm hai nhóm ngữ hệ Môn –Khơmer và Malayo – Pôlinisieng; nhưng trong nghệ thuật múa lại có những sự trình diễn tương đồng không cùng nhóm ngôn ngữ; như giữa các tộc người Bâhnar, JRai, Sê Đăng, Chăm Hroaih có cả  múa nghi lễ lẫn múa sinh hoạt. Ngược lại, các tộc người Mnông, Ê đê, K’Ho, Châu Mạ…hầu như không xử dụng múa trong sinh hoạt mà chỉ có múa trong nghi lễ. Múa Mnông cũng chỉ xuất hiện trong một vài nghi lễ, như trong các lễ trưởng thành cho con trai, con gái của các gia đình giàu có, nhất là các lễ cúng có ăn trâu của cộng đồng.

Nếu múa của các tộc người Ê đê, Jrai, Baahnar, Sê Đăng…có sự tham gia đầy đủ và ngang bằng về số lượng của cả nam và nữ, thì nghệ thuật múa của tộc người Mnông là sự trình diễn, phô bày nhan sắc, hình thể của phái nữ, rất ít có múa nam. Tuy nhiên, trong lễ ăn trâu, khi có nhiều bon làn khác cùng đến tham gia, thường có màn đấu chêng giữa các đội. Trong tiếng chêng rộn ràng và hứng khởi vì được thưởng rượu, tất cả những người tham dự, kể cả người xem lẫn người trình tấu, đều nhún nhảy cả thân hình ( chân, hông, mông) theo nhịp điệu từng bài chêng. Tinh thần của cuộc đua tài càng hăng, tiết tấu chêng càng nhanh, sự chuyển động cũng mạnh mẽ theo từng nhịp điệu.

Múa Mnông tương đồng với các tộc người Tây Nguyên khác ở chỗ sử dụng động tác tay và mông nhiều hơn động tác chân. Các động tác múa mô phỏng hình dạng thiên nhiên trong môi trường sống của con người ( đuôi vẫy của chim chìa vôi), hoặc động tác lao động sản xuất ( suốt lúa, giã gạo, làm cỏ, dệt vải…).

Tuy ít ỏi và có phần đơn giản, nhưng động tác múa Mnông rất độc đáo, khác với những tộc người xung quanh. Ví dụ như múa trong các lễ cúng Yang thường có động tác lưng khom xuống, cong toàn bộ, rất thành kính nhưng lại bộc lộ một cách rất lộ liễu, dường như để khoe phần ngực và cặp mông rất tròn đầy của những người con gái. Hoặc động tác múa lắc bầu ngực vô cùng quyến rũ trong lễ  trưởng thành dành cho người con gái; động tác múa cọ vòng tay, vỗ bắp tay khỏe khoắn trong lễ trưởng thành của những chàng trai đến tuổi vị thành niên.

Nghệ thuật đàn và múa luôn luôn chiếm vị trí quan trọng, cuốn hút trong mọi không gian lễ nghi, lễ hội truyền thống của người Mnông

 

[...]
Xem tiếp