Linh Nga Niê Kdăm
taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Bốn cây Knia- Bốn tâm thế sáng tạo

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-01-08

Mỗi lần nhắc đến Tây Nguyên tôi cứ mong được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của cây Knia. Người ta bảo, knia không phải là loại cây gỗ quý, không dùng vào việc gì được. Thế nhưng knia lại là một biểu tượng tâm linh của người Tây Nguyên. Tôi từng nghe kể, cây knia là nơi trú ngụ của thần linh và của linh hồn người chết, vì thế knia được giữ gìn, bảo vệ và được xem như một biểu tượng của buôn làng. Trong chúng ta dù ai đó chưa một lần đến Tây Nguyên, nhưng hình ảnh cây knia đã rất quen thuộc, như ngấm vào tâm tưởng qua bài hát “ Bóng cây knia” của nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu phổ thơ Ngọc Anh rồi. Hình ảnh cây knia thân thuộc đến mức, nhắc đến Tây Nguyên là ta liên tưởng đến cây knia và ngược lại, nhắc đến cây knia là liên tưởng đến đồng bào Tây Nguyên hướng về cách mạng. Cả nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu và nhà thơ Ngọc Anh  đều không phải là người Tây Nguyên mà sao lại có được tác phẩm để đời về một loại gỗ rừng bình thường như vậy ( nếu chỉ nói về giá trị xử dụng)? Phải chăng có chuyện tâm linh kỳ bí nào?

                Knia là loại cây  xanh quanh năm và có sức sống mãnh liệt, chịu hạn tốt, rễ cọc ăn sâu, nên ít bị đổ do mưa bão. Theo họa sỹ Xu Man : “ Knia không mọc lung tung bao giờ, không lẫn trong các loại cây khác. Nó mọc rất đều ở các khoảng đất trống, ở giữa đồng…để cho người đi bộ hay làm rẫy mệt quá, nóng quá, thì có một cây cho ta ngồi ở gốc nghỉ ngơi. Nếu đi tiếp, bao giờ thấy mệt, thì lại sẽ có một cây Knia nữa hiện ra cho bóng mát ta ngồi. Nơi ấy như có các thần linh trú ngụ và chở che”. Có lẽ, các nghệ sỹ đã nhận ra ở cây Knia tính biểu tượng của tâm hồn người Tây Nguyên mộc mạc mà thủy chung qua vẻ đẹp trầm mặc, bền vững mà tạo hóa ban cho loài cây này.

                Đặt tên chung cho tập sáng tác tuyển chọn của mình là Bốn cây knia, bốn nữ tác giả H’Linh Niê, Niê Thanh Mai, Trần Hồng Lâm, Siu H’Kết như tìm đến với tâm linh của sáng tạo nghệ thuật. Và quả thật, bốn tác giả đó thực sự là những đại diện tiêu biểu trên các lĩnh vực mà họ đang hoạt động sáng tạo. Qua mỗi sáng tạo của mình, họ mang vẻ đẹp mộc mạc, xanh tươi của loài cây knia đến với bạn đọc.

                Chúng ta biết rằng, các tộc người Tây Nguyên  theo tập tục mẫu hệ. Qua tác phẩm “ Bốn cây Knia”, thấy có gì đó thật ấn tượng và cũng thật khó lý giải về hiện tượng “ mẫu hệ” trên văn học nghệ thuật của Tây Nguyên hôm nay.

                Bốn cây Knia trong tập sáng tác chọn lọc này có hai “ cây” văn xuôi, một “ cây” mỹ thuật và một “ cây” nhiếp ảnh. “ Cây Knia” bóng cả nhất là H’Linh Niê- Linh Nga Niê kdam, thuộc lớp nghệ sỹ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ và thành danh trong thời kỳ đổi mới. Cha là người Ê đê, sinh ra ở Việt Bắc, lớn lên ở Hà Nội, sau giải phóng trở về quê hương Tây Nguyên làm báo, sưu tầm nghiên cứu văn nghệ dân gian, sáng tác âm nhạc và viết văn. H’Linh Niê thành đạt ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật và nhận nhiều giải thưởng sáng tác âm nhạc, văn học, sưu tầm , nghiên cứu văn nghệ dân gian của Trung ương và địa phương. Bước qua tuổi lục thập mà sức viết của chị vẫn dồi dào, trẻ trung và nhiều bứt phá. Những năm làm chủ tịch Hội văn học nghệ thuật tỉnh Đăk Lăk, Linh Nga Niê Kdam đã dày công cùng tập thể lãnh đạo Hội phát hiện, bồi dưỡng , dìu dắt thế hệ trẻ của Đăk lăk trong hoạt động sáng tạo. Niê Thanh Mai, Trần Hồng Lâm, Siu H’Kết – ba  “cây knia” trong tập sách này cũng nằm trong số tác gỉa trẻ lớn lên từ sự chăm sóc, vun trồng ấy.

                Là một nhà văn gắn bó với quê hương, với đồng bào các dân tộc, các truyện ngắn của H’Linh Niê cho ta hiểu sâu sắc thêm đời sống, con người Tây Nguyên, những nét đẹp văn hóa cổ truyền và cả sự hy sinh lớn lao của người Tây Nguyên trong chiến tranh và trong công cuộc xây dựng vì hòa bình, vì tây Nguyên và vì cả nước. Chị có nhiều trang viết xúc động về chiến tranh và cả những vết thương khó lành vẫn nhức buốt sau hàng chục năm hậu chiến ( Tháng tư mùa bướm bay, Gió trên đỉnh Ngok Linh). H’Linh Niê cũng cảnh báo về sự bất cập, chủ quan của không ít dự án kinh tế đã và đang diễn ra ở Tây Nguyên, làm tổn thương đến môi trường sống, không gian và môi trường văn hóa truyền thống các dân tộc, làm băng hoại nhiều giá trị tinh thần đã tồn tại bao đời nay ( Dài lắm giấc mơ của làng, Mùa này hoa bằng lăng không nở, Xôn xao ngày nắng). Truyện ngắn Hoa Bó Khiu lấy bổi cảnh miền núi tây bắc, đề cập đến tệ nạn buôn bán ma túy trái hép qua biên giới, tệ nạn đó đang hủy hoại cuộc sống thanh bình nơi bản làng miền núi Tây bắc, hủy hoại cái đẹp và chôn vùi biết bao số phận người muốn làm giàu bằng mọi giá, gây hệ lụy cho cả cộng đồng. …

                Văn của H’Linh Niê điềm tĩnh mà sắc sảo, để lại nhiều dư âm, suy nghĩ cho người đọc.

                Niê Thanh Mai còn rất trẻ - sinh năm 1980, đa xtham dự nhiều Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc. Chị đa xin ba tập tryện ngắn, được nhận giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Tạp chí văn nghệ Quân đội. Niê Thanh mai quan tâm phản ảnh những vấn đề của cuộc sống hiện tại nhiều hơn mảng đề tài quá khứ dân tộc, quá khứ chiến tranh. Nếu H’Linh Niê đi vào đề tài chiến tranh và những vấn đề nóng đang đặt ra từ các chủ trương, dự án kinh tế, xã hội gây không ít hệ lụy cho Tây Nguyên, thì Niê Thanh Mai hướng ngòi bút của mình đến cuộc sống của giới trẻ, vấn đề tình yêu, sự tha hóa đạo đức từ trong gia đình và xã hội. Hơi thở của núi là truyện ngắn viết có tay nghề chắc, bố cục gọn mà sáng sủa. Tác giả gửi tới người đọc một thông điệp rõ ràng : tình yêu không thể dùng thủ đoạn tàn độc mà có được. Tình yêu trước hết phải xuất phát từ trái tim lương thiện. Niê Thanh Mai chỉ ra rằng sự tha hóa về đạo đức, lối sống trước sau cũng bị trả giá ( Ngủ quen nơi không có gió, Góc núi mờ sương).

                Cuộc sống vốn ngổn ngang và phức tạp, nhiều khi con người miền núi không biết phải lựa chọn sao cho đúng. Một xã hội vốn khép kín trong cộng đồng buôn làng, nay mọi sự đang bung vỡ, cái mới lạ, cái tốt, cái xấu, cái lương thiện, cái giả trá đan xen…Thanh niên Tây Nguyên   trong các buôn làng đang ngập mình trước một cuộc sống bộn bề như thế, tránh sao khỏi lúng túng, do dự và không ít người lầm lạc, bế tắc ( Sơm mai thoang thoảng, Không thấy vách ngăn, Cây thằn lằn lá xanh).

                Sự do dự, bối rối khi lựa chọn hướng đi để theo đuổi là một thực tế đối với lớp trẻ khi kinh nghiệm sống chưa nhiều. Phải chăng đó cũng là sự bối rối của cây bút trẻ Niê Thanh Mai trước những vấn đề của cuộc sống hiện nay? Trang viết của mỗi nhà văn có trách nhiệm sẽ chín dần .

                Ở hai lĩnh vực nghệ thuật khác, Trần Hồng Lâm ( mỹ thuật), Siu Kết ( nhiếp ảnh) đem đến cho người thưởng thức những suy tư, cảm xúc khác, bất chợt mà níu giữ.

                Trang của Trần Hồng Lâm ( dân tộc Khơmer) có sự ấm áp của bếp lửa gia đình trong tác phẩm Hơi ấm ( sơn dầu), có nét suy tư đầy trăn trở, ngẫm ngợi trong tác phẩm Vọng ( sơn dầu), có sự hồn nhiên mà đầy triết lý trong tác phẩm mẫu hệ (sơn dầu), Người dân Cơ Tu ( sơn dầu), Quê nội ( sơn dầu) và Vũ điệu Tiên nữ ( acrylic). Ngay cả nét hồn nhiên trong tác phẩm Trẻ thơ ( sơn dầu) cũng đượm chất suy tư, hoài niệm. Tranh của Trần Hồng Lâm gần gũi, hồn nhiên mà giàu chất trí tuệ. Đó là neys đặc trưng của một cây cọ người Khơmer đã ăn nắng, ăn gió, đã ngấm cái chất mộc mạc mà trầm từ của loài cây knia Tây Nguyên.

                Siu Kết là một đặc biệt của Jrai, của Tây Nguyên. Đề tài dân tộc, miền núi thu hút rất nhiều tay máy chuyên nghiệp và nghiệp dư theo đuổi, nhưng người dân tộc thiểu số chọn ngành nghệ thuật này lại không nhiều. Theo tôi được biết, cả Tây Nguyên chỉ có một tay máy người dân tộc thiểu số, đó là Siu Kết. Phải chăng đi vào lĩnh vực này rất tốn kém tiền bạc, thời gian…mà người dân tộc thiểu số chưa giàu có gì, thời gian bận bịu với nương rẫy, việc nhà quanh năm, cũng khó dành được sự rảnh rang cho nghề “ đi dao” tìm kiếm những khoảnh khắc đẹp…Siu Kết lại làm được điều với một buổi sớm ở Kon Tum trong tác phẩm Sương sơm, một khoảnh khắc trong ngày hội Đua bò Bảy núi, một bất chợt hiếm hoi trong Sơn nữ một chiều bên suối. Đặc biệt ấn tượng với tôi là cô “ cố định” vĩnh viễn dòng Kí ức lan man như khói tỏa, sương bay của cụ bà Tây Nguyên bên thềm trăng huyền ảo. những nét đẹp của cuộc sống đầy chất thơ trong tác phẩm lên nương, sự hồn nhiên ít nhiều hoang dã trong tác phẩm Chia sẻ, Hạnh phúc cũng là những khoảnh khắc thăng hoa hiếm hoi của cuộc săn tìm cái đẹp. Siu Kết sớm khẳng định mình bằng hàng loạt giải thưởng trung ương, địa phương và quốc tế.

                Rất mừng cho Tây Nguyên và cho Siu Kết .

                Cũng rất mừng khi “ Bốn cây Knia” sáng tạo : H’Linh Niê, Trần Hồng Lâm, Niê Thanh Mai, Siu Kết cho ra mắt bạn đọc ấn phẩm này. Chúc cho sự xanh tươi và tỏa bóng.

                Hy vọng “ Bốn cây Knia” mãi mãi là nơi “ Thần linh sáng tạo” tìm đến trú ngụ.

Nhà thơ Mai Liễu

[...]
Xem tiếp

Thắng cố vùng cao phía Bắc

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-30-07

Đi chợ phiên vùng cao, không chỉ thu hút với người dân miền núi mà còn là sự hấp dẫn với nhiều du khách miền xuôi. Đến với chợ không chỉ là xem, tham gia mua bán mà còn là nơi để người ta gặp bạn, tìm hiểu các phong tục tập quán.

           

 

                                         Một chảo thắng cố ở vùng cao

 Các chợ phiên vùng cao hay được kể đến như Cán Cấu, Xi Ma Cai (Lào Cai), chợ đá cổ ở Đồng Văn… lâu nay đã tạo sự hấp dẫn và được đưa vào lịch trình du lịch của nhiều du khách. Xúng xính váy áo các thiếu nữ, ngất nghểu ngựa và cây khèn lên nước, những nụ cười hiền lành kín đáo và những sự bán mua không bị nhuốm pha cơ chế thị trường như một sự níu kéo các du khách gần xa.

 Các phiên chợ vùng cao, nơi có nhiều người Mông sinh sống này tấp nập khắp nơi nhưng xôm và vui nhất vẫn phải kể đến nơi có những chảo thắng cố.  Đi chợ phiên, gặp bạn, uống rượu và ăn thắng cố là một nét văn hóa đã hình thành lâu nay với người Mông.

 Thắng cố xuất phát từ nhiều tên gọi. Nhưng với người Mông, món này được gọi là thoảng cố (nồi nước) hay khấu tha (canh thịt). Nghe thì có vẻ phức tạp đấy nhưng thực ra đây là món ăn hết sức tổng hợp gồm toàn bộ gân, xương, da, lòng, thịt của một gia súc nào đó được nuôi và được thịt.

 Giờ, thắng cố đã thực sự trở thành một món ăn tổng hợp, được đun nhừ với nhiều thứ thịt. Nhưng theo những người đã được nếm, được ăn và ăn nhiều món này thì ngon nhất vẫn là loại thắng cố được nấu đơn nhất từ thịt của 3 loại gia súc lớn vùng cao như ngựa, bò và trâu.

 Để có một nồi thắng cố ngon, trâu, bò, ngựa sau khi thịt, phải sử dụng mỗi thứ một tý, kể cả da để nấu. Chợ nhỏ thì dùng một phần, chợ lớn, đông người có thể dùng cả con. Để có nồi thắng cố phục vụ khách, những người nấu có khi phải thức thâu đêm.

Sau khi gia súc thịt xong, lửa được nhóm, chảo được bắc lên. Sau đó người ta lựa những phần đã thành phẩm của con gia súc đó rồi cho vào chảo. Các loại gia vị chính như thảo quả, gừng tươi cả cây, vỏ cây bứa… được cho vào cùng. Lửa củi hừng hực, đến lúc sáng trời, chợ họp thì lúc đó nồi thắng cố cũng đã nhừ. Củi lửa bắt đầu liu diu để cho thịt không nhừ thêm nữa và được xúc ra bát để bán cho khách.

 Đi chợ phiên vùng cao, lúc trời lạnh, bảng lảng khói sương mà được nếm miếng thắng cố nóng bỏng cùng với những chén rượu ngô vùng cao hẳn không ít người có thể quên. "Khi lên nhớ dốc Tráng Kìm. Khi về thì nhớ khấu tha Sà Phìn” là câu nói hết sức ấn tượng với món thắng cố ở Cao nguyên đá Hà Giang!   

 

Phương Nguyên

 

 

[...]
Xem tiếp

Độc đáo luk mtah của người Ê đê

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-27-07

Lạ? Sao người mình có hiều món ăn ngon vậy, mà chẳng bạn nào chịu giới thiệu, cứ để người nơi khác tới nói dùm ha?

Người Ê Đê có 2 món tiết canh là Mtah và Priêng luk. Trong đó, Mtah là tiết canh trâu, bò, dê; còn Priêng luk là tiết canh heo rắc bột gạo rang, chính là món tiết bóp hay Luk Mtah  

Khi những con gà rừng còn chưa cất tiếng gáy, núi rừng còn chìm trong giấc ngủ say, trong hơi sương lành lạnh, thì những chủ nhân buôn Choa A của người Ê Đê ở xã Yang Reh, huyện Krông Bông (Đăk Lăk) đã thức dậy, quây quần bên bếp lửa hồng trong ngôi nhà mới của Aduôn Khôi. Họ đang chuẩn bị làm lễ cúng tế thần linh, mừng nhà mới của Aduôn Khôi.

 Lễ bôi máu

Trong màn đêm đặc quánh sương mù ôm lấy cả buôn, Aduôn Khôi cùng những người phụ nữ trong bộ quần áo truyền thống ngồi xúm xít nhóm lửa trong căn bếp còn thoang thoảng mùi gỗ. Ngôi nhà mới của Aduôn Khôi nằm lọt thỏm giữa rừng phút chốc, căn nhà rực sáng giữa bóng đêm. Bên ánh lửa, họ thay nhau thả những làn khói thuốc bay mù mịt, cười nói rôm rả làm huyên náo cả một góc rừng. Ngoài sân, dưới tán cây bằng lăng còn thấm đẫm những giọt sương, đám đàn ông tất bật xung quanh con lợn rừng bị trói gô cả bốn chân, đang nằm ngửa bụng lên trời, kêu eng éc.

Theo lời ADuôn Khôi, trước khi làm thịt, con lợn này đã bị nhốt nửa tháng trước đó và chỉ được ăn các loại rau, lá rừng, nên nó sạch lắm. Bình minh ló rạng cũng là lúc anh A Típ, 42 tuổi, bưng bát tiết lợn pha với rượu vào nhà cho thầy cúng A Ma Nét. Vừa cầm bát tiết, A Ma Nét vừa khấn vái, vừa dùng một cành lá rừng còn ướt đẫm sương đêm, nhúng vào bát tiết, quét khắp nhà, vẩy lên tường. Sau đó, số tiết còn lại ông đổ vào bếp lửa đang cháy bừng bừng. “Lúc khai thiên lập địa, tổ tiên người Ê Đê cho rằng bếp lửa bừng sáng ngày về nhà mới không chỉ đơn thuần dùng để nấu ăn, nướng ngô, khoai hay thịt thú rừng… mà còn dùng để xua đuổi bệnh tật, những điều xấu xa ra khỏi nhà”, thầy A Ma Nét giải thích. Cũng theo ông thầy này, đổ tiết vào bếp cho thần lửa, thì căn nhà sẽ không bị thần lửa thiêu đốt.

Ngay sau đó, tất cả những người có mặt ngồi quanh những ché rượu đã đặt sẵn trong nhà. Gia chủ Aduôn Khôi là người đầu tiên được cầm cần lồ ô, tu một ngụm rượu đầy, sau đó, cần rượu được chuyển sang mời thầy cúng. Dân trong buôn là những người tiếp theo mới được “vít cần rượu” xuống hút. Aduôn Khôi cùng đứa cháu nội trong ngày về nhà mới lúc 6 giờ sáng, khi ông mặt trời bắt đầu nhô lên khỏi những ngọn cây cao nhất trên đỉnh núi, những tia sáng ban mai xuyên qua các khe hở của bức tường làm bằng gỗ kéo dài thành một vệt sáng chiếu vào mặt, báo hiệu ngày mới bắt đầu, cũng là lúc gia chủ Aduôn Khôi đón thêm nhiều khách mới đến.  Từ khoảng sân, hướng mắt về con đường đất đỏ dài ngoằng như đang chẻ đôi quả đồi trước mặt, những chàng trai cô gái đang tuổi trăng tròn, khoác trên mình những bộ quần áo truyền thống sặc sỡ, đang dập dìu đi tới, trên vai họ là những ghè rượu cần thơm lựng hương lúa rẫy, lúa rừng. Họ bước nhanh về hướng nhà Aduôn Khôi để dự tiệc.

                                                               Aduôn Khôi

Người Ê Đê có 2 món tiết canh là MtahPriêng luk. Trong đó, Mtah là tiết canh trâu, bò, dê; còn Priêng luk là tiết canh heo, chính là món tiết bóp hay Luk mtah.  Ngoài món tiết bóp, người Ê Đê còn có món Chim brông, hay còn gọi là thịt nướng ống nứa, vô cùng thơm ngon, ăn một lần sẽ nhớ mãi.  Thịt heo mới mổ còn bốc hơi nóng, sau khi ướp gia vị, được bỏ vào ống lồ ô tươi, nút bằng lá chuối xanh, nướng trên bếp than. Khi ống tre cháy sém vàng, là thịt đã chín. H’lê Lép, năm nay 16 tuổi, tủm tỉm cười, cho biết: “Mỗi khi nhà nào trong buôn sắp có đám cưới hay về nhà mới là các gia đình còn lại đều chuẩn bị sẵn những ché rượu ngon, con gà, mớ rau rừng… để mang đến chung vui với chủ nhà”. Sau khi thầy cúng làm xong thủ tục tế lễ, những người phụ nữ tập trung vào bếp nấu nướng, còn đàn ông chuẩn bị làm món đặc biệt, có tên là luk mtah (tiết bóp - PV) để đãi khách.

Thưởng thức Luk mtah

Sau khi mổ bụng con heo, họ bắt đầu thái nhỏ rất nhiều loại rau rừng và nhiều loại gia vị khác, trong đó nhiều loại rau, gia vị mà tôi chưa từng thấy. Một người khác dùng con dao to bản lạng từng lát thịt mỏng ở hai bên đùi, cả rau, gia vị và thịt heo tươi được nhét vào bụng con vật đang sền sệt máu tươi, còn bốc hơi nóng, trộn đều. Những người đàn ông đang thui heo, và làm món Luk mtah ngoài sân. Cạnh đó, một nhóm thanh niên khác dùng que lồ ô vót nhọn xiên thịt để nướng, nấu những món ăn truyền thống trong chiếc nồi đồng to tướng.

Sau khi món thịt trộn máu tươi trong bụng con heo hoàn thành, chúng tôi được các chàng trai Ê Đê mời dùng thử. Thấy tôi rùng mình lắc đầu, anh bạn đi cùng bảo: “Họ mến khách nên mới mời. Dùng thử đi, ngon lắm. Không ăn là họ buồn đấy”. Nghe vậy, tôi cố thoái thác: “Thịt chưa chín mà, ăn vậy không sợ đau bụng sao?”. Nghe vậy, cô gái trẻ tên H’ Lan, cười trấn an: “Ô, không sợ đâu. Lúc mình thui trên lửa, con heo chín rồi, chín từ trong ra ngoài, ăn ngon, ăn bổ lắm, không bệnh gì đâu”. A Thu, 30 tuổi, như nhiều đàn ông Ê Đê ở làng, từng rất nhiều lần tham gia lễ ăn mừng nhà mới cũng như thưởng thức món Luk mtah có từ ngàn xưa của tộc người mình, nói thêm rằng, Luk mtah là món ăn truyền thống từ bao đời nay của tộc mình, không có hại gì cho sức khỏe hết, bởi thịt chín bên trong, mình bỏ nhiều ớt, ớt cay làm chín thịt.

Sau những lời chân tình của các chàng trai về món máu, thịt tươi này, tôi đành xuôi tai, “nhắm mắt liều” thưởng thức. Và, cảm giác rờn rợn qua đi khi miếng Luk mtah đầu tiên trôi xuống cổ họng. Đó là mùi thơm lựng, bùi bùi, chan chát đầu lưỡi của các loại rau rừng, cay nồng của ớt xanh, là cái ngọt lịm của miếng thịt heo rừng còn bay mùi khói… Còn phụ nữ vào bếp…

“Hồi mới lên đây, lần đầu nhìn thấy họ làm món luk mtah, tôi cũng ớn lắm. Nhưng khi ăn rồi thì thấy đây là một trong những món ngon nhất mà tôi từng thưởng thức. Nhìn thấy ghê, nhưng thực chất là rất sạch, vì con heo trước khi làm thịt đã được họ vệ sinh từ trước đó cả mấy tuần rồi. Đến khi làm thịt, họ nướng và ăn khi nó chưa kịp hết hơi ấm của thịt”. Tôi hỏi: “Ở trên này bà con có ăn thịt thú rừng kiểu như mình không?”. Hiểu ý, anh bạn tôi trầm ngâm một lát rồi đáp: “Cũng ăn, nhưng không ăn kiểu bất chấp. Họ cũng đi săn, nhưng có nguyên tắc chứ không phải cứ thấy con gì bắn con đó. Ví dụ như chuyện ăn bào thai, óc các loại thú như hổ, gấu, khỉ… với họ, đó là tàn ác. Sẽ bị trừng phạt. Rừng núi hay các loại thú, toàn người mình tận diệt. Đó là sự thật”. Ngồi bên cạnh, Aduôn Khôi cũng bảo: “Đi rừng gặp con thú có thai, không được giết nó, nó còn sinh con, làm mẹ nữa”. Giữa không gian lành lạnh, bên bếp lửa cháy bập bùng, những chàng trai, cô gái, đàn ông, đàn bà đang lâng lâng men rượu cần. Họ cùng khoác vai nhau và những tiếng nói cười như rôm rả hơn. Những ché rượu cần thơm lừng hương nếp nương Chúng tôi giã từ Aduôn Khôi khi bữa tiệc đã tàn, mọi người ai cũng ngất ngư, nhiều người đã lăn ra sàn ngáy o o.

                                                              Chia sẻ mọi vui buồn là truyền thống đẹp của người TN

Trước khi chia tay, Aduôn Khôi không quên dúi vào tay khách những xâu thị lợn rừng được xâu bằng những que lồ ô tươi hơ lửa. Rời thôn Choa A với tâm trạng lạ kỳ, cảm ơn những người vùng cao cho chúng tôi có dịp hiểu rõ hơn về một vùng đất cùng những món ăn lạ, và cả luật tục có từ ngàn xưa của tộc người nơi này. Dù có bà con ruột thịt hay không, hễ nhà ai có việc lớn là dân làng tự động đến giúp sức, chung vui  

PHÚC LẬP

[...]
Xem tiếp