Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Chanh trĩu cành

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-26-04

                                                             Nữ TNXP Trường Sơn

                Truyện ngắn

Giao mùa ở cao nguyên thường vào tháng tư của năm. Thời tiết những ngày này thật khắc nghiệt. Cái nắng nóng khủng khiếp luôn gầm gừ đe dọa con người suốt cả ngày. Càng về cuối chiều ông trời càng giận dữ cầm từng chảo lửa hắt xuống mặt đất. Ấy thế nhưng sáng sớm lại tỏ ra an ủi con người bằng cách  se se lạnh, đủ bắt phải mặc thêm một chiếc áo mỏng làm duyên khi chạy xe ngoài đường.  Chưa tỏ mặt người. Ngôi sao mai cô đơn cố tận dụng những giây phút cuối cùng của bóng đêm để tỏa nốt chút ánh sáng rực lên trên vòm trời còn mờ mờ tối. Gió man mát. Hơi rùng mình. Ông Chiến ngồi xuống  gờ vườn hoa, lấy khăn  lau mồ hôi trên mặt, trên cổ sau quãng đường từ nhà ra tới bùng binh với cái mâm bánh cặp ngang hông. Không xa lắm. So với thời bộ đội hành quân qua rừng Trường Sơn thì chưa thấm tháp gì. Nhưng tuổi đã xấp xỉ 80 rồi, ông đâu còn khỏe nữa.

Cẩn thận cuộn tấm nilong mờ hơi nước vì bọc  mâm bánh nóng. Những chiếc bánh tiêu vẫn còn hôi hổi. Ông Chiến bưng chiếc mâm tiến về chỗ đám xe thồ đang túm tụm bên kia đường, đợi  chuyến xe cuối cùng từ Sài Gòn về lúc mờ sáng nhả khách.

- Bánh tiêu nóng mấy chú.  Mua ủng hộ lão già nhé. Ăn sáng cho ấm bụng.  Có khách rồi về.

- Ăn bánh đi mấy cha. Bánh tiêu ông già ngon lắm đó.

- Cho tui hai chiếc bố già.

- Tui nữa nè, hai chiếc lun.

- Ông già gân sao lại làm cái việc bán bánh của đàn bà vậy ?

- Mỗi người một hoàn cảnh mà anh. Tôi đi bán cũng có sao đâu.

- Anh mới ra đứng đây chưa biết. Bà vợ ổng đau ốm liên miên. Hai ông bà chỉ trông vô mâm bánh đó rau cháo hàng ngày thôi.

- Ủa chớ con cái ổng đâu?...........

Năm 1975. Thượng sỹ Duy Chiến rời đơn vị lính vận tải Trường Sơn xuất ngũ. Về làng với tấm giấy chứng nhận thương binh. May mà không sứt mẻ chân tay gì. Chỉ  di chứng bị sức ép của pháo bầy, làm mỗi khi trở trời ngực ông đau nhói. Những lúc  đất trời giao mùa như thế này, ông thường thở rất khó khăn. Cứ như có một ngọn lửa đốt trong lồng ngực với từng hớp không khí ngắn. Khò khè thở cũng mệt chứ đừng nói đến lao động chân tay

Quê Chiến, gió Lào cát trắng, nơi thắt eo nhỏ nhất của thân thể dáng hình chữ S, từng là cái túi đựng  nhiều bom đạn nhất suốt 21 năm đất nước chia cắt thành hai miền. Cha mẹ  đã mất trong một trận máy bay Mỹ trút bom thừa xuống làng trước khi bay trở ra biển. Đứa em duy nhất sống sót, năm 7 tuổi, là một trong hàng ngàn đứa trẻ được đưa ra phía bắc ăn học trong chủ trương “ còn người còn của” . Đến ngày chấm dứt  đạn bom, vẫn không có chút tin tức nào. Được sự đóng góp của cả dòng họ, Chiến dựng lại túp nhà tranh trên đám đất cũ nám cháy đen. Thăm hỏi họ hàng xóm giềng vãn. Túc tắc làm vài vạt rau,  tìm kiếm và chờ đợi thông  tin về đứa em trai mà mãi vẫn chưa có sự hồi âm nào. Hai năm. Vẫn không nhận lời tham gia Đảng ủy hay chính quyền địa phương. Chiến quyết định đi tìm lại Thương, cô  thanh niên xung phong quê Thái Bình đã từng hẹn thề với nhau trên rừng Trường Sơn ngày nào.

Chuyến ấy xe Chiến hỏng, cố chạy đuổi theo đội hình đơn vị đến cách suối Đăk T’ri chừng hơn 1km nữa thì tiếng máy bốc khói và im bặt. Tang tảng sáng. Mặt trời đã ràng rạng hồng nơi cuối rừng. Biết đại đội thanh niên xung phong ở gần, Chiến tạm ngụy trang xe rồi chạy bộ tìm sự giúp đỡ. Người đầu tiên Chiến gặp là Thương, trực đếm bom hôm ấy. Cô gái xuất hiện chắn ngang đường chạy, khiến Chiến sững sờ quên cả việc mình định nhờ vả. Chiếc thắt lưng bó gọn tấm thân mảnh mai trong tà áo lính màu cỏ úa, quần đen xắn đến quá gối, chiếc mũ tai bèo rủ xuống quanh khuôn mặt xinh xắn, với nước da nâu hồng hào. Lại còn đôi mắt sáng tự tin và thông minh, lông mày là hai đường cong tuyệt đẹp. Như một bông hoa lạ giữa rừng. Trông cô ấy vừa duyên dáng lại vừa rất oai phong.

- Anh muốn chết à? Chúng rải bom hôm qua,chưa rà phá hết đấy.

-  Tôi cứ tưởng xong rồi, định cố rút ngắn thời gian lại mà xe chết máy. Đại đội vượt đường cả rồi, còn mình tôi thôi.

- Thế anh bỏ của chạy lấy người  a? Một đống xương máu của bà con chúng ta ngoài Bắc đấy ông ạ.

- Thế mới phải chạy đến nhờ các cô xúm đẩy hộ vào rừng để mà ngụy trang và sửa xe . Chứ để lồ lộ vậy chắc chắn thế nào cũng bị thằng OV10 nó chỉ điểm.  Mất cả xe lẫn hàng như chơi. Mẹ nó chứ !

Chuyến ấy không chỉ đẩy giúp xe quặt vô một quãng rừng, mà cả tiểu đội con gái còn xúm lại làm “ cố vấn” cho Chiến sửa xe. Họ quen nhau từ đấy. 

                                                *                        *

Trường Sơn vào sâu mùa  khô. Những cánh rừng khộp khô khốc khoe vẻ đẹp của mùa lá rụng. Đỏ ối trên cành, đỏ sậm phủ đầy mặt đất. Gió bỡn cợt tung lá đỏ bay phất phơ. Rừng như quang hẳn đi mặc dù những cây cỏ xước bò lan trên mặt đất vẫn xanh rờn. Đường Hồ Chí Minh tấp nập quân đi đông vui như bây giờ thiên hạ rủ nhau đi  lễ hội. Câu hát của nhạc sỹ Hoàng Hiệp “ gặp em trên cao lộng gió/ rừng Trường Sơn ào ào lá đỏ” liên tục vang lên như phương tiện làm quen của những người phơi phới tuổi đôi mươi. Đại đội thanh niên xung phong của Thương án ngữ chỗ cua tay áo ở quãng suối Đăk T’ri. Con suối mùa mưa ăm ắp nước. Thậm chí có khi lũ về như một con trăn khổng lồ ào ạt trườn đến, quăng mình vụt đi. Nhưng mùa khô lại chỉ còn là một dòng chảy nhỏ, rụt rè vờn quanh những tảng đá xám.

Ngày này qua ngày khác . Cứ 9 giờ sáng là con người và con đường cùng dường như nằm im nín thở vì tiếng ầm ù và sau đó là hàng tấn bom dội xuống. Âm thanh chát chúa. Mùi khói bom khét lẹt. Bụi mù đến không nhìn thấy cả cảnh vật xung quanh. Đất đá văng tứ tung cao hàng thước, rơi xuống như một cơn mưa. Đường bị khoét nham nhở thành những hố lớn nhỏ, như một vết thương bị hoại tử  khiến trở thành lở loét. Nhiều đoạn đường bị băm nát, cắt khúc, cầu phà bị sập, cây rừng cháy rụi. Tuổi trẻ hăng máu. Chẳng ai ngán bom đạn, pháo bầy. Câu chuyện về sự hy sinh của 10 cô gái Đồng Lộc hay hang 8 Cô … chỉ làm cho chị em cắn chặt răng, nén nỗi xót thương, chứ hết đợt bom lại tay xẻng tay cuốc lao ra bám mặt đường ngoan cường với tinh thần “địch phá ta sửa ta đi”, thách thức “địch cứ phá, ta cứ đi”, đảm bảo đêm đến toàn tuyến thông tuyến cho từng đoàn xe lại nối đuôi nhau hướng ra tiền tuyến chi viện cho chiến trường.

Không có gì mà các cô gái thanh niên xung phong đại đội của Thương chưa từng trải qua. Không chỉ mắt tinh, tai thính đếm bom đánh dấu cho công binh rà phá, san lấp mặt đường sau mỗi trận bom cày.  Mà còn cả mặc áo trắng lội giăng hàng ngang con suối Đăk T’Ri mùa nước đầy làm cọc tiêu cho xe qua ngầm trong đêm. Rồi ván kê vai để bộ đội hành quân cắt đường qua đầm lầy Ia San vào tuyến; Sơ cứu thương binh bị thương xong tiếp tục khiêng võng chuyển về trạm xá. Thậm chí chặt cây, leo lên lợp mái lán, chọc tiết lợn, sửa xe cút kít, mài cuốc xẻng … cũng vẫn là chị em. Bởi thanh niên xung phong rất ít con trai …

Một đám con gái hơ hớ xuân xanh không ngại bom đạn gian khổ, nhưng lại khóc thầm vì tóc rụng từng đám vương đầy gối. Dòng Đăk T’ri trong xanh là thế, nay chị em đặt cho cái tên là “suối tóc rụng”, chắc chắn bị ngấm bom hóa học do máy bay ném xuống, nên tóc của tất cả chị em các đơn vị đóng quân dọc suối cứ thế thưa dần, rồi rụng hết. Mái tóc của Thương ngày ở nhà mẹ nâng niu toàn bẻ bồ kết, lá bưởi, lá sả vườn nhà nấu nước cho gội, dài đến tận khoeo chân, dày đầy hai chét tay mới nắm hết. Sau mấy năm ở rừng Trường Sơn, chỉ còn lại một mớ lỏng lẻo chẳng vừa một bàn tay. Không chỉ mình Thương, mà nhiều chị em khác đã phải tiếc nuối cắt ngắn đến mang tai để cho dễ chải và cảm giác đỡ rụng. Mỗi khi đi qua con đường này, mọi chiến sỹ lái xe có điều kiện đều  có quà là những chùm bồ kết rừng để các cô gái gội đầu.“Tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu/Ngày bom vùi tóc tai bết đất”.  Câu thơ cảm thán ấy của một nhà thơ nào đó diễn tả thật đúng  cuộc sống vô cùng vất vả, thiếu thốn của lực lượng thanh niên xung phong trên toàn tuyến. Sốt rét, tóc rụng, bòn từng lon gạo nấu cháo hay ăn rau rừng lót dạ, nhiều bạn nữ sức vóc nhỏ con có lúc đã lả đi. Cả bầy con gái thui thủi một lũ trong rừng không một mống đàn ông suốt mấy năm trời! Đơn vị Thương chỉ mới lây khóc tập thể chứ chưa bị như ở Ia Đra, mấy chục đứa con gái phát cuồng, lúc ôm nhau cười mãi không thôi, lúc xé hết quần áo kéo nhau chạy tồng ngồng giữa rừng như những con điên.

Khổ nhất là cái Huyền đang lén lút làm cái việc bây giờ thanh niên gọi là “tự sướng” bên con suối  sâu tít trong rừng mà vẫn bị bắt gặp. Suốt ba đêm liền, từ sau bữa ăn tối cho đến gần sáng, Huyền bị  cả trung đội nữ kiểm điểm gay gắt, với hàng chục lời sỉ vả. “Ghê tởm, thật ghê tởm!” “ Suy đồi đạo đức! Bêu xấu hình ảnh cả đội ngũ thanh niên xung phong đã tình nguyện hy sinh vì đất nước” , “ không làm chủ được mình, đi ngược lối sống tốt đẹp của tuổi trẻ nơi chiến trường ”; thậm chí cực đoan hơn “ xử bắn con đĩ bẩn thỉu ấy đi!”…. ….Cắn chặt răng lại mà nguyền rủa bạn. Có đứa phát biểu xong ngồi thụp xuống ôm mặt khóc. Có đứa bỏ chạy ra ngoài. Chỉ huy quát hỏi thì nói “ xấu hổ cho tất cả quá!”. Sang ngày thứ tư, không chờ đồng đội kết tội và ra án kỷ luật, Huyền, cô gái Hà Đông có gương mặt tròn xinh như một con búp bê,  “con đĩ bẩn thỉu ” ấy đã tự treo cổ trên cành cây ngay chỗ bị bắt gặp.*
      Cả tiểu đội của Thương vừa khóc vừa lặng lẽ làm nốt những công việc cuối cùng cho bạn. Không dám giữ lại ba lô để sau này chuyển cho gia đình như mọi trường hợp hy sinh khác ( vì biết nói với mẹ thế nào đây?) . Họ lấy tăng bọc cẩn thận tấm thân con gái thịt da trắng ngần, chỉ  đôi bàn chân, bàn tay móng ngấm đầy đất đỏ. Đặt toàn bộ tư trang của Huyền xuống huyệt. Kể cả đôi dép cao su, cuốn truyện cổ Andexen, chiếc lược bằng duyra và cái gương nhỏ chị em cũng không giữ lại. Đánh dấu trên đầu mộ bằng một tảng đá to mấy người vần mới chuyển. Phủ kín lên đủ các loại hoa rừng có thể kiếm được. Những câu lẩm bẩm cứ tuôn chảy  “Tội nghiệp nó! Họ bảo thì bọn mình phải kiểm điểm, chứ thương lắm!”. “Khối đứa như thế. Chỉ có không ai biết thôi”….

Nơi đóng quân của đại đội Thương ở giữa thung, cách con suối Đăk T’ri một đoạn không xa lắm. Mùa nắng ở Tây Nguyên kéo dài sáu tháng. Suối gần như cạn khô.  Nước hiếm và nhiễm độc, nhưng ai cũng nghĩ đơn giản “ nước chảy đi cơ mà. Có đọng lại đâu mà sợ”, vì nhiệm vụ với con đường huyết mạch nên vẫn phải ở, phải dùng.  Hàng chục cái giếng chị em thay nhau đào tới hai, ba mét bên bờ suối mà vẫn không vét đủ nước để ăn, còn đâu cho việc tắm giặt. Có lần, mấy bạn trực cả tuần trên đồi không được tắm, khi về chỉ được để phần một bi đông nước uống, phải chờ múc hàng tiếng mới thêm một ít nước để dùng. Thanh niên xung phong trên toàn tuyến truyền cho nhau kỹ thuật tắm bằng cách thấm nước lên người, bôi đến đâu kỳ cho “ghét” rơi ra đến đó, nếu chưa đủ, vận động mạnh đợi mồ hôi ra kỳ tiếp. Con bé Hà hát chèo hay nhất tiểu đội, tự giễu bằng nhại lời một bài hát “Cò chết còn để chút lông…” rằng “Cò tắm còn hết một xoong/ Chứ chị tắm thì một bi đông cũng thừa!”. Chắc anh nhà thơ nào đấy nghe thấy sẽ thương chứ chẳng nỡ trách chị em.

Tắm gội đã thế. Giặt quần áo cũng là cả một kỳ công của con gái. Trước tiên phải gấp và  nhẹ vặn xoắn lại rồi mới đem nhúng vào vũng nước nào còn sót, sau đó mang ra bên cạnh vắt. Cứ để xoắn nguyên thế, tiếp tục nhẹ nhàng dìm xuống cho ngấm nước, rồi lại ra chỗ khác vắt. Làm vài lần đến khi nước cạn sạch, chẳng còn giọt nào nữa thì coi như đã giặt xong.

Mùa nắng ở Tây Nguyên khô khỏng đến vậy. Mùa mưa cũng kéo dài sáu tháng, con gái khổ kiểu khác. Mưa chợt đến chợt đi chẳng làm chị em rời mặt đường. Nhưng kể cả những ngày không có mưa thì trong rừng già cũng đầy sương mù tích lại chảy thành giọt trên lá, rơi tí tách suốt như mưa dầm. Quần áo ngày nào ra hiện trường cũng phải thay vì lấm lem đất đỏ, giặt rồi phơi cả tuần cũng không khô. Áo ngực càng khổ, cái nào cũng chần chỉ dày như mo nang nên hong hai tuần vẫn âm ẩm.  Mặc dù bếp đơn vị nào cũng phải thiết kế nơi sấy cho chị em, nhưng quần áo cả trong ngoài chưa kịp khô, còn ẩm mà vẫn phải thay mặc hàng ngày. Đến tháng còn khổ hơn. Vải xô màn là thứ quý nhất. Tiêu chuẩn được phát ai cũng như nhau. Bị nhiều,dùng rách hết thì xé quần áo mà lót. Rối loạn kinh nguyệt, đau bụng khi đến kỳ là “ chuyện thường ngày ở Trường Sơn”. Không thuốc men, không điều kiện tắm rửa  kỹ lưỡng. Khổ hơn là bệnh ghẻ lở hắc lào bám riết. Chúng len lỏi vào mọi ngóc ngách và các vùng ẩm ướt, kẽ bàn tay, bàn chân, háng, nách, bẹn… đều có. Biết các cô gái bị những vết loét, nhưng y tế tuyến trên chỉ có thuốc đỏ để gửi cho họ. Đến nỗi cái Minh tiểu đội 3 quê ở Hải Dương bị nấm ăn núm vú. Bắt gặp nó dấm dứt khóc lén, Thương kéo ra bờ suối gạn hỏi :

- Có chuyện gì thì nói ra để chị em chia sẻ chứ? Yêu anh nào à? Hay dại dột có chửa rồi?

- Tớ bị lở hết đầu ti rồi Thương ơi.  Sau này về chẳng thằng nào nó thèm lấy. Có chồng, sinh con làm sao cho  bú được.

- Xời ơi ! Phải nói để y tá cho thuốc chứ

- Làm chó có thuốc gì? Toàn thuốc đỏ sao khỏi. Thủ trưởng biết lại phê bình làm yếu tinh thần đồng đội. Nhưng mà ngứa với đau không thể chịu nổi .

Thương lén vẫy y tá đến xem cho Minh, thì hỡi ôi, đã quá muộn, cụt mất núm vú rồi. Y tá phải theo kinh nghiệm dùng lá dã quỳ để làm vết loét khô đi.

Con gái đang xuân thì. Ở nhà ăn chưa no, lo chưa tới. Ở rừng cái đói gặm mòn cơ thể. Tiêu chuẩn lương thực rất cao, mỗi người 24 cân một tháng. Nhưng do những trận bom dội liên tục ngày đêm, nên gạo thường thiếu hoặc không đến được. Khẩu phần ăn giảm sút nghiêm trọng, có lúc chỉ còn bốn cân cho một người, có khi phải ăn cháo. Muối và rau xanh không chỉ thiếu mà gần như không có. Thương và mấy bạn có biệt tài tìm các loại rau và măng rừng. Các cô còn có thể phân biệt được không chỉ rau độc mà cả những loại rau nào bị nhiễm chất hóa học, nên được  đặt biệt danh là “các bà chúa rau”. Có giỏi gì đâu, cứ rình lũ thú rừng, lá nào chúng ăn là không có độc. Thiếu nước, thiếu rau, thường xuyên phải uống nước suối, nên nhiều khi thèm quá, chị em chặt cây chuối rừng, bóc lấy nõn chia nhau để ăn. Mỗi người được nhận một khúc, dùng tay đo để những khúc chuối ấy không dài hơn nhau, không ai phải tị nạnh. Đôi khi học các bạn giao liên người dân tộc, đặt bẫy được cả thú rừng để cải thiện bữa ăn, nhất là khỉ, dù các cô rất thích nuôi, nhưng không đủ lương thực và việc giết thịt như thế lúc đầu ai trông cũng thấy có vẻ dã man.

Vậy mà chẳng ai bỏ trận địa. Và yêu đời lắm. Lán con gái giữa rừng nhìn biết ngay, vì treo đầy phong lan. Mỗi lần có hoa nở là cả tiểu đội vui như được quà tết. Hết mùa cũng vẫn có hoa chuối rừng đỏ tươi dắt cửa lán. Thích nhất là những lúc hoa săng lẻ trắng, hoa lộc vừng đỏ rụng như tấm thảm lững lờ trôi trên mặt suối, cả lũ  khỏa trần như tiên nữ tắm giữa bồn hoa. Xong một đợt san đường. Ai mệt quá thì ngủ. Còn thường thì đám con gái quây quần quàng vai nhau, hết  chèo lới lơ Thái Bình, đến hát xá chầu văn Nam Định, lẫn mời trầu quan họ Bắc Ninh, cả đến ví dặm Nghệ Tĩnh, hát xoan Phú Thọ lẫn ca khúc…những câu hát trong veo tràn trề tình yêu như “ tay bưng chén muối đĩa gừng/ gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”; hay “ cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn/ hai đứa ở hai đầu xa thẳm”. Không cần giọng hay giọng dở. Hát đúng hay hát sai. Chẳng tính dân ca hay nhạc mới. Ai thuộc bài gì thì hát bài ấy. Những cuộc hát đã trở thành huyền thoại Trường Sơn. Thậm chí cánh lái xe chỉ mong  vì bất cứ lý do gì, được chờ ở suối Đăk T’ri chứ không phải chỗ khác, để được hát với chị em thanh niên xung phong một buổi.

Thế nhưng đừng có mà chọc giận bầy con gái. Một anh chàng ở tiểu đội của Chiến vốn nghịch ngợm.  Hôm trên đường vào, thấy chị em đang tháo nước trên mặt đường xuống rãnh cậu ta vừa nhấn còi toe toe hết cỡ vừa bất ngờ cho xe tăng tốc, té đầy bùn lên đầu tóc quần áo, làm cả tốp thất kinh nhảy dạt sang lề đường.Vậy là căn đúng ngày xe quay ra, gần cả trung đội một hàng dài toàn quần đùi áo cộc xanh màu lá, đứng sẵn hai bên ngầm. Một tiếng hô “ hai ba nào …!” lập tức hàng chục cái xẻng nhất loạt té nước bùn lên cửa ca bin khi xe đang chầm chậm bò qua, lái xe như ướt con chuột bị lột da!

 Tiểu đội Thương cũng là đơn vị đầu tiên ở Trường Sơn tìm ra quy luật hoạt động của  máy bay địch để lên kế hoạch san lấp, sửa chữa đường nhanh chóng hơn. Đó là khi nào không thấy các loại máy bay quần đảo liên tục, bầu trời im ắng khác thường thì thế nào B52 cũng xuất hiện. Lúc đó mọi hoạt động phải dừng lại trong vòng 30 phút, rút khỏi trọng điểm để vào hầm trú ẩn. Đã thành phản xạ tự nhiên, cứ tiếng bom dứt là lao ngay ra mặt đường, vì chỉ được an toàn trong vòng 20 phút là lại tiếp đến đợt bom khác. Máy ủi, tay người cùng nhau khẩn trương san lấp, phá bom nổ chậm rồi cùng lập tức rút ngay. Ngược lại địch cũng thâm hiểm, biết được các đơn vị TNXP thường làm việc vào ban đêm. Vậy là nhiều ngày liên tiếp cứ chiều muộn chúng mang bom tai hồng, mìn díp, mìn lá rải đầy đường. Mìn lá nhìn chẳng khác những cái lá khô, mìn díp lại giống hệt con cờ cá ngựa, hai thứ đó rất khó phòng ngừa, dẫm phải thì chỉ có tháo khớp chân. Chị em bảo nhau phải ra lúc trời chưa tối hẳn để nhìn cho rõ đường, nhặt sợi tơ của bom bi dây, mìn lá, bom tai hồng, mìn nhíp ném xuống vực và thường nhắc nhở nhau cẩn thận.  Nhưng bóng chiều chập choạng làm khó phân biệt, đã có những đôi chân nát nhừ hay đầu gối bầm dập. Đôi khi dày đặc quá, đành bỏ dở đấy, chờ máy gạt đi trước đè bẹp mìn lá mới san lấp được hố bom. Cuộc sống của nữ thanh niên xung phong Trường Sơn những ngày ấy là thế.

                                            *                  *

Ngôi chùa nhỏ cũ kĩ  như những con người ngụ trong ấy. Một vòng rào tre bao quanh. Ẩn kín mát rượi gió bên bờ dòng sông nặng đỏ phù sa. Cánh cổng gỗ khép hờ màu sơn đã bợt bạt, mọt ăn thủng lỗ chỗ, sẵn sàng rít lên kèn kẹt báo hiệu khi có người đụng đến. Chùa nhiều cây quả. Có hai cây vối và một cây ngọc lan cổ thụ tỏa bóng rợp cả vạt sân trước. Hoa hải đường đỏ,cúc vạn thọ vàng, mẫu đơn hồng, bụi sả xanh chạy bao quanh chân tường. Vườn sau rộng, cam, bưởi, đào, mận vài cây, cành quấn quít giao nhau. Đặc biệt là cây chanh tứ quý ra quả quanh năm, cành nặng la đà võng xuống mặt đất. Cận tết quả vàng trong đám lá xanh. Xuân sang  đào hồng, mận trắng ken dày như vầng mây. Các sư nữ đủ quả và hoa quanh năm đặt vào đĩa bày lên ban thờ. Sát tường cuối vườn là những cây xoan đào được chăm chút tỉa cành cho thân thẳng tắp. Mùa đông, quanh gốc hoa tím rụng đầy. Sư thày bảo xoan với tre dành để khi cần tu sửa chùa. Bảng lảng thoảng nhẹ khói nhang và hương hoa. Không gian thanh tịnh, sâu kín.

 Sư trụ trì từng là một cựu nữ thanh niên xung phong đóng quân ở tuyến lửa Quảng Bình. Xuất ngũ hai năm sau ngày đất nước thống nhất. Sư thày xuống tóc năm tròn 21 tuổi. Cho dẫu chẳng một lời giải thích nhưng cả nhà có căn tu tại gia, nên gia đình cũng chấp nhận. Ngôi chùa cưu mang nhiều mảnh đời bất hạnh bị xã hội lãng quên và một vài cựu nữ thanh niên xung phong quanh vùng không tái nhập được với cuộc sống mới. Họ trồng rau, chăm sóc hoa, làm đậu phụ, bánh đúc, nuôi lợn gà bán chợ quê. Lặng lẽ với nhịp sống xa cõi tục.

Chiến bước vào sân chùa đã nhận ngay ra Thương trong bộ áo xám đang quét sân.Thay cho chiếc mũ tai bèo năm nào là cái mũ len cũng màu xám. Dẫu đã phôi phai nhưng vẫn là gương mặt đã khiến anh choáng ngợp giữa rừng năm ấy.

- Thương ơi !

-  Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát.  Xin thí chủ xưng hô với người tu hành theo đúng cách của nhà Phật.

- Anh đến làng người ta nói gia đình em không còn ai. Em xuống tóc đã gần mãn năm. Anh xin lỗi, vì phải tìm kiếm đứa em trai vẫn còn đang thất lạc nên không thể đến ngay với em như lời hẹn được. Em khỏe không?

- Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát. Xin thí chủ cho bần tăng được bình an nương náu nơi cửa thiền.

- Anh đến để xin sư trụ trì cho được đón em về. Có lẽ nào một cô gái xinh đẹp, từng luôn vui tươi, tràn đầy năng lượng như em, lại có thể sớm chiều đốt hương, gõ mõ tụng kinh, quét chùa được?

- Mô Phật. Bần tăng đã cạn duyên đời, bén duyên Phật rồi.

- Nếu anh phản bội em, phản bội lời hẹn thề ở Trường Sơn năm nào, em mới có thể chọn chốn tu hành náu nương. Nhưng anh đã nói rồi, bởi cha mẹ mất , chỉ còn một cậu em trai đang lưu lạc nơi nào chưa rõ. Nên hôm nay anh mới có thể đến tìm em được.  Xin em. Hãy cho cả hai chúng ta một cơ hội bắt đầu cuộc đời mới. Chúng ta xứng đáng được có sau những gì đã cùng trải qua mà Thương.

- Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát. Xin thí chủ đừng vật nài, ảnh hưởng đến tâm tu của các sư nữ.

Ni cô quay người xách cây chổi lên, nhẹ bước như lướt qua sân về phía sau chùa.

Chiến vào thẳng chính điện tìm gặp sư trụ trì. Lặng lẽ chiêu nước vối vàng sánh như mật ong ra những chiếc bát gốm. Sư thày lắng nghe toàn bộ câu chuyện của Chiến, rồi nhỏ nhẹ :

- Nhà chùa đồng ý với thí chủ rằng hai người, cũng như những ni cô đang ăn mày cửa phật ở chùa này, đều xứng đáng được có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Cũng như ai cũng nên có cơ hội để bắt đầu một điều gì đó. Nhưng số phận mỗi người đều có căn duyên. Thí chủ hãy để cho nhà chùa trò chuyện lại với ni cô Thích Tâm Thương. Nếu có duyên, nhà chùa xin ủng hộ.

Ở lại xã một tuần. Năm ba lần qua lại. Với cả lời khuyên giải của sư thày, cuối cùng Thương cũng đồng ý . Ba tháng sau,nhà chùa làm một lễ hằng thuận giản dị do sư thày chủ trì  để Đức Phật chứng giám cho hai người, cùng với sự chứng kiến của các tăng ni phật tử, cả những đồng đội một thời ở Trường Sơn. Sau khi cùng quy y Tam bảo và thọ trì Tam Quy Ngũ Giới, cuối buổi lễ đức chư tôn cùng đại chúng làm lễ niêm hương bạch Phật và chúc phúc cầu nguyện cho đôi tân lang tân nương trăm năm hạnh phúc. Thương theo Chiến về quê.

                                           *                           *

Ở làng. Đất ruộng còn đầy rẫy bom mìn. Tìm kiếm em trai vẫn bặt vô âm tín. Vợ chồng Chiến Thương đem nhau vào Tây Nguyên. Không đủ sức lao động để mua đất trồng cà phê, chỉ làm thuê, cuốc mướn. Nương nhờ đồng đội vài năm. Cuối cùng cũng gom góp được tiền mua một căn hộ nhỏ chỉ hơn hai mươi mét vuông, cuối một con ngõ sâu hun hút ở ven thành phố cao nguyên ồn ào sôi động. Nhưng dường như con quỷ chiến tranh không muốn buông tha những kẻ đã từng chạm vào nó. Gia đình ngày càng kiệt quệ vì hàng ky lô những tờ đơn thuốc nho nhỏ cho cả cha mẹ lẫn con.

Ông Chiến được coi là người khỏe nhất trong gia đình, là lao động chính, bởi chỉ sang chấn của sức ép bom đạn khiến ông thở khè khè mỗi khi chuyển mùa. Bà Thương sau này báo đài nói nhiều mới biết, nhiễm chất độc da cam do chung sống khá lâu với nước của “ suối rụng tóc”, chân mỗi ngày một thêm teo tóp. Trời Phật thương tình, mãi gần chục năm sau ngày cưới mới cho Chiến Thương một báu vật.  Ngày bà Thương sinh, ông Chiến trồng ngay cổng một cây chanh lấy giống tận chùa quê. Hương hoa chanh xuân gợi nhớ làng quê Bắc bộ. Quả sai chi chít. Nhưng Hoàn, đứa con gái duy nhất mắc bệnh máu trắng, năm nào cũng vài tháng nằm viện để thay máu. Thân thể con bé từ khi sinh ra đến khi thành thiếu nữ thường bị những vết bầm tím và chỉ va chạm nhẹ cũng dễ dàng chảy máu. Ăn ngủ ít, liên tục giảm cân. Đêm đến thường vã mồ hôi và sốt. Ấy vậy mà Hoàn vẫn bất chấp tất cả để lớn lên và rất nỗ lực học tập. Từ tiểu học cho đến hết cấp ba, không xuất sắc nhưng con bé đều đều lên lớp và luôn là học sinh tiên tiến. Có một giọng hát khá truyền cảm, đỗ vào khoa sư phạm âm nhạc trường trung cấp Đam San, con bé được thỏa nỗi đam mê trở thành cô giáo. Học đàn, đọc nhạc, là các môn học mà bố mẹ nông dân chẳng có chút năng khiếu nào để giúp được, thế nhưng Hoàn lại luôn đạt điểm cao. Âm nhạc trở thành niềm vui lớn của cả cô bé lẫn gia đình. Đi học thì thôi, về nhà con bé luôn cố gắng đỡ đần mẹ những việc nho nhỏ theo sức mình như quét nhà, tự giặt quần áo, rửa bát đĩa. Tối tối, sau khi học bài, Hoàn thường đàn và cùng hát với ba mẹ những ca khúc thời chiến tranh chống Mỹ. Căn nhà nhỏ đầy ắp bệnh tật và thuốc uống, thuốc tiêm nhưng cũng tràn đầy tình yêu thương lẫn niềm vui. Cô bé dấu những cơn đau để cha mẹ khỏi lo lắng. Hai ông bà già tạo mọi nụ cười để con gái thêm niềm vui sống. Ba con người gày gò, bệnh tật, già nua, dựa vào nhau, sống vì nhau, vui cho nhau.

 Biết hoàn cảnh, cô chủ nhiệm và bạn bè trong lớp rất thương. Ngày ngày các bạn thay nhau đến chở Hoàn tới lớp. Những lúc phải nằm viện, bạn chép hộ bài, thày cô sẵn sàng phụ đạo thêm ngoài giờ để Hoàn theo kịp chương trình học và thi. Qua học kỳ hai của năm cuối, thấy con bé thường tích cực tham gia giúp đỡ phong trào thanh niên và văn nghệ phường, lại còn dạy hát dạy đàn cho bọn trẻ con nghèo quanh xóm, ông Phó chủ tịch ở gần nhà hứa khi nào học xong sẽ đặc cách xin cho dạy ở trường tiểu học thuộc phường. Nhưng còn một tháng nữa thi tốt nghiệp, Hoàn phải nhập viện và lần này thì gục hẳn. Nhìn thân hình con gái choắt lại như đưá trẻ lên mười, ông Chiến bà Thương ruột đau như cắt, không còn nước mắt để khóc. Từ lâu nay ông Chiến dành phần cho máu mỗi khi Hoàn cần, vì sợ bà Thương vẫn rất yếu. Các bạn cùng lớp cũng đã mấy lần hiến máu giúp Hoàn. Ngày thi tốt nghiệp các môn lý thuyết, ông Chiến cõng con vào lớp điểm danh, chép đề bài rồi lại phải đưa về viện. Buổi tối thi môn dàn dựng nghệ thuật thực hành, nhà trường gọi taxi chở Hoàn đến hội trường. Nhìn con bé ngồi say sưa hát, giơ tay múa theo các bạn trên sân khấu, ngực ông Chiến thắt đến nghẹn lại....Toàn bộ Hội đồng trường nhất trí cho Hoàn điểm khá những môn thi tốt nghiệp. Dường như chỉ chờ có thế. Một tuần sau, cô bé  thanh thản vĩnh biệt 19 năm đớn đau của cõi tạm.

Một tháng sau. Xe chở Ban Giám hiệu trường Trung cấp Đam San và các cán sự lớp sư phạm nhạc dừng trước ngõ nhà ông Chiến. Cô hiệu trưởng nhỏ nhẹ :

    - Thay mặt nhà trường, chúng tôi mang bằng tốt nghiệp của Hoàn đến …..

                Tấm ảnh trên bàn thờ và trong bằng tốt nghiệp đều mang gương mặt cô gái cười  roi rói.

                                                                *                *

Bà Thương mỗi năm một khó đi lại. Đôi chân ngày nào bay nhảy khắp các cánh rừng Trường Sơn, nay còng quèo như những nhánh cây khô. Việc duy nhất bà có thể  là để kiếm sống là xỏ đôi tay vào hai chiếc guốc gỗ mà ông Chiến đã đóng, lê thân hình vào bếp buổi tối để nhào bột và ủ, sớm tinh mơ chiên bánh tiêu. Ông lãnh việc mua nguyên liệu và mỗi sáng mang đi bán dạo. Nỗi đau trong họ dường như đã sắt lại, vón thành cục rỉ sét dính chặt vào tim óc. Hai tấm thân, hai tâm hồn mang đầy thương tích nương vào nhau, vì nhau mà tồn tại với một quyết tâm đến kinh ngạc.

Đất trời cao nguyên vẫn khó tính và thất thường nắng mưa như thế. Cây chanh đầu ngõ vẫn thơm ngát hương đồng quê Bắc bộ mỗi độ gió xuân tràn về. Trái lúc lỉu cành oằn xuống sát nền sân.

 

 

 

* Tư liệu từ facebok Thái Bá Tân

[...]
Xem tiếp

Dừng lại, Thủy điện !

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-24-04

Tháng 3,  hội đua voi, bạn hỏi “ Có đi Buôn Đôn không”. Mình không đi, bởi quá buồn khi một lễ hội truyền thống nổi tiếng của quê hương ( nằm trong “Không gian văn hóa cồng chiêng – Kiệt tác Di sản văn hóa phi vật thể truyền khẩu của nhân loại” được  thế giới tôn vinh), mà lãnh đạo phải làm công văn ra tận Hà Nội xin can thiệp để thủy điện xả nước cho địa phương tổ chức. Con sông của quê hương Tây Nguyên, gắn bó hàng ngàn đời nay với con người, mà nay người Tây Nguyên phải xin ai đó để được thực hiện các lễ hội truyền thống của mình ! Điều ấy có bất nhẫn không? Vậy mà bây giờ  lại tiếp tục phá vườn  quốc gia, ngăn dòng, chắn lối cho những công trình gọi là thủy điện của một ai đó lắm tiền của…?Điều ấy có đúng vì lợi ích của bà con các dân tộc, chủ nhân đích thực của Tây Nguyên không?

                                                                            Sông Srepok 

 1.Cách đây gần 20 năm, mình có dự & đọc hết những tham luận của các nhà khoa học trong & ngoài nước về sự đa dạng sinh thái rất tuyệt vời của vườn quốc gia Jok Đôn. Họ tìm hiểu và trân trọng sự sống không chỉ của loài đặc sản cá lăng nặng hàng chục ky lô, mà còn của cả từ con ong, tổ kiến, đến những loài cá nhỏ mình chẳng biết tên sinh sống trong đầm lầy.

          2.Rừng khộp ở Buôn Đôn, Mình đã nhiều lần được tận mắt chứng kiến, có hai mùa đẹp nhất : rừng lá đỏ rừng rực mùa khô ( ai cũng biết bài hát Lá đỏ, nhạc Hoàng Hiệp thơ Nguyễn Đình Thi nhỉ? Xúc cảm từ vẻ đẹp của rừng khộp và niềm tin về ngày chiến thắng đấy ).Và đầu mùa mưa khi cả một vùng rừng mênh mang mươn mướt chồi xanh non biếc trên cành.

      Vườn Quốc gia Jok Đôn ôm ấp trong lòng mình con sông Srêpôk, là một trong những dòng sông có lưu lượng lớn nhất & dài nhất ( 31.100 km) . Để đền ơn, sông góp mình  gìn giữ vẻ đẹp của Cha Trời, mẹ Đất ban cho vùng quê này.               

3.Núi rừng, dòng sông thiêng liêng ấy, ngày đã xa không chỉ có chủ rừng ( pô dliê) , chủ đất ( pô elăn),  mà luật tục buộc phải thay mặt các cộng đồng thường xuyên chăm sóc “ cái nong cái nia, cái lưng ông bà”. Sông và rừng còn được bà con trân trọng, thành kính coi như những thực thể sống, muốn làm gì động tới phải xin phép, vi phạm phải tạ lỗi, cầu được ước thấy phải tạ ơn ( như các đại gia vay tiền Bà Chúa Kho ấy mà). Suốt một vòng đời người và vòng nông lịch, người Tây Nguyên gắn bó với rừng : rừng thiêng tang ma, rừng làm rẫy, rừng săn bắn hái lượm, rừng đất ở. Sông và rừng khép kín vòng tay, nuôi nấng những đứa con của mình sống bình yên, no đủ.

                                                                        Sông Ba                                                           

 Hàng trăm năm nay sông Mẹ ( Krông Ana) & sông Cha ( Krông Knô) trân mình chắt chiu hứng từ mọi vầng mây, từng giọt  từ thượng nguồn đổ về Srê Pok, thậm chí cả về sông Mê Kông để nuôi sống và vun đắp nên nền Văn Minh Nương Rẫy của các tộc người thiểu số tại chỗ ở phía Tây Trường Sơn.  Buôn Đôn chính là một trong những địa chỉ lưu giữ nền văn hóa truyền thống đa dạng ấy của 4 nhóm tộc người Mnông, Jrai, Ê Đê, Lào . Nay có thêm người Tày & Kinh nữa ( bà con ở đây nói thành thạo cả 6 thứ tiếng nha). Bằng cách thông qua tiếng ching chêng và những con vật hiến sinh mà gửi tấm lòng kính trọng tới các vị Yang để được phù hộ . Thế nên mới có  những lễ  cúng bến nước,  Lễ ăn cơm mới, Lễ bỏ mả, hội săn & đua voi….Tạo nên toàn bộ  không gian huyền thoại đã trở thành “ Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể  truyền khẩu của nhân loại”  ( cho mình nhấn lại nha : của Nhân Loại chứ không riêng ai).

             Nhưng bây giờ 10 công trình thủy điện đã băm nát dòng sông  xanh màu lá rừng mang đầy huyền thoại ấy. Dày đặc những cái gọi là     thủy điện Krông Kma, Buôn Kuop, Drai Hlinh 1,2,3, Buôn Tuor Sra, Srepok 3,4,4A ... góp phần làm các loài cá sông bị ảnh hưởng nặng nề đến tập tính sinh sản. Ngoài ra, tình trạng đánh bắt cá bừa bãi và bằng các hình thức tàn sát vốn xa lạ với tập tục của người Tây Nguyên, như dùng xung điện, lưới điện, lưới vét, thuốc nổ... Cộng với chất thải từ các khu công nghiệp Hòa Phú (Đăk Lăk), Tâm Thắng (Đăk Nông) được xây dựng ngay bên bờ sông cũng góp phần làm nguồn lợi thủy sản của dòng sông bị ảnh hưởng và ngày càng thêm cạn kiệt, nhiều loài đang lâm vào tình trạng nguy cấp. Ngay trong thời điểm hiện tại, cá lăng và cá mõm trâu, những loài cá đặc sản của dòng sông khi xưa vốn rất dồi dào nay đã trở nên hiếm hoi. Công trình thủy điện Srêpôk 4A ngăn dòng, chuyển nước sang khu vực khác để phát điện, làm khúc sông Srêpôk chảy qua  huyện Buôn Đôn cạn trơ đáy, chỉ còn là bãi đá và đã trở thành dòng sông “chết”.

4.Mình rất dốt về khoa học. Nhưng điều này thì biết nè : những năm cuối của thập kỷ XX, Đăk Lăk đói, phải mang 1kg cà phê xuống Nam Bộ đổi lấy 25kg gạo. Vậy mà chỉ 5 năm sau, những cánh đồng lúa nước cả ngàn ha ở Buôn Triết, Buôn Trấp, Ea Suop – điều vô cùng mới mẻ đối với các tộc người thiểu số TN - đã nên hình hài, nâng sản lượng lương thực Đăk lak lên tới 21.000 tấn/năm không quy thóc. Nhưng chuyện ấy dường như xa lắm rồi. Mai đây, sẽ không còn nữa những đêm suang trong nhịp ching chêng ngày lễ hội.  Rừng khộp của Mẹ Đất cũng chẳng còn để mà kiêu hãnh khoe vẻ đẹp. Các cánh đồng lúa chưa kịp vàng bông lẫn hàng ngàn ha cà phê, cây trồng chưa kịp đơm bông, mà những người nông dân chân trần, tay không, đã từng tưởng được đổi đời, đã cháy khô. Cái đói, cái khát lại trở thành “ chuyện thường ngày” ở Tây Nguyên, khi những dòng sông Ba, sông Sê San, Srêpok, Ayun Pa  huyền thoại trở thành lợi ích của nhóm người nào ( Có ai gọi đích xác tên chủ các công trình ấy không ta ) ?

                                                                                Sông Poko

5. Không còn rừng, không còn sông, chỉ có lũ ào ạt về khi độc quyền ngang nhiên xả nước không cần báo trước và hạn khô khi ngăn dòng tích nước, chỉ để gìn giữ những con đập của ai đó. Điều ấy đồng nghĩa với  toàn bộ đời sống vật chất lẫn nền văn minh độc đáo gắn với không gian rừng và sông của người Tây Nguyên ( Di Sản văn hóa của nhân loại) bị bức tử. Một cái chết toàn diện cả vật chất lẫn tinh thần của hàng vạn con người trên chính quê hương của họ, đang được báo trước. Không phải từ từ mà rất cấp tập. Đừng đổ cho biến đổi khí hậu hay Elnino, Nina. Cũng đừng đổ hết cho bà con các dân tộc Tây Nguyên hay người di cư phá rừng. Không!  “Đói thì đầu gối phải bò”. Có ai chứng kiến hay hiểu nỗi đau của những Con Người bị tước hết tín ngưỡng thờ phượng tinh thần lẫn đất đai phương tiện sống của mình thế không?

Nhân danh ai mà họ được phép cướp đi cuộc sống và Di Sản văn hóa độc đáo ấy của Nhân Loại vậy ? Dòng điện ấy có thật chạy đến các buôn, bon,kon, plei? Hay chỉ là những dòng tiền chảy vào túi ai đó cho thêm lộng lẫy những biệt thự? Sang trọng những chiếc xe hơi, đồ trang sức đắt tiền? Còn đói ư? Khát ư? Đâu có ? Bởi sẽ có những đợt cứu trợ, vì “không thể để cho dân đói, dân khát” . Nhưng còn Di Sản Văn Hóa thì sao ? Hay là thế giới phẳng rồi, phải chạy theo và biến đổi chứ ? Tây Nguyên cũng là Tây thôi mà (?). Đồ hoài cổ !

Hỡi ôi “ DI SẢN KHÔNG GIAN VĂN HÓA ” ! Có còn không khi tiếng ching chêng đâu phải rộ lên từ các buôn bon kon plei, mà chỉ trên những sàn diễn của các khu du lịch để các nghệ nhân ngửa tay nhận lấy vài đồng tiền nhỏ nhoi thay cho niềm vui được mùa? Hay giả vờ cúng trên những sân khấu hội diễn đâu đó để chứng tỏ với thế giới rằng đã từng hiện diện một nền văn minh như thế?

Bạn tôi từng có câu thơ “ Ta ra lệnh các tinh cầu dừng lại !” chỉ để nghe một tiếng đàn piano.

 Mình cũng muốn hét lên : Dừng lại đi , thủy điện !

[...]
Xem tiếp

Y Phôn Ksor-Theo dấu Nữ thần Mặt trời

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-13-04

Dlei Yang theo tiếng Ê Đê của Phôn có nghĩa là Rừng thần, Núi thần, Núi thiêng. Nó là ngọn núi cao nhất quê hương bạn. Núi cao là chỗ thần rừng, thần núi và tất cả những gì cao thiêng nhất “sống”, tụ lại. Rảo bước trên Dlei Yang mới nhận ra đây chính là nơi khởi nguồn của con sông lớn Ea Hleo chảy giữa  trái tim Tây Nguyên. Quê hương bạn là nơi đầu núi, đầu non. Bạn đã uống những giọt nước đó, ăn những chiếc lá đó mà nên người, thành Y Phôn.

                                                           Một lần về làng 

* Quê bạn thật mênh mông. Hai ngày qua đi, đứng chỗ nào cũng trông thấy núi Dlei Yang. Không còn một chỏm rừng nào cả, dù xứ rừng hội tụ, “Rừng thần”, nên càng thấy nó mênh mông. Tôi và bạn đang như gió lang thang. Cứ thế đi qua nhiều dấu tích của suối khe, rừng, rồi những rẫy cà phê, cao su, tiêu của tha nhân. Sao lúc này, giữa thiên nhiên Dlei Yang, bạn không nói gì với tôi về âm nhạc cả thế, mà cứ kể miệt mài về những hẻm hốc núi, khe vực nước chảy, về mùa mưa, mùa khô xứ sở, về cái gốc cây cổ thụ cháy xám trơ lại trên một sườn đồi, rồi một hai cái cây còn sót xanh trên sườn núi xa xa hơn kia.
- Hát đi mà, nói đi mà, về âm nhạc ấy, Y Phôn à.
- “Chứ không thấy cả thiên nhiên, cả cao nguyên lúc này đang là một bản giao hưởng miên man à!”-giọng Phôn.
Phôn bảo tôi sao đang ngày Tết mà lại cứ thích lang thang rừng núi. Tôi rằng Tết nhứt chỉ là “trò chơi quy ước” của con người cho một thời khắc, nó có nghĩa lý gì đâu với bóng hình con người trong vũ trụ chứa chan.
- “Vậy thì ông như con chim Phí rồi !”-Y Phôn tiếp.

* “Chim Phí là con chim phiêu bạt như thế!”, Phôn vừa bước vừa nhỏ nhẹ. Người Ê Đê nhận ra nó là loài chim không bay rợp trời, không thành bầy đàn đông đảo. Hình thái nó gầy guộc, nhỏ con, như bạn vậy. Con mái có màu xanh lá non, con trống có màu đỏ. Thi thoảng mới gặp năm bảy con chung sống và không sống cố định một cánh rừng nào. Chính cộng đồng bạn cũng không biết nơi ở của nó, tổ của nó không mấy khi nhìn thấy. Bạn nói rằng, có một điều chắc chắn rằng rừng nào xuất hiện nó là chỗ đó là cánh rừng đẹp và thuần khiết an lành. Những cánh rừng xao động, suối ô nhiễm, núi lở, cây đổ, cây cháy không bao giờ thấy loài chim này. Từ bé thơ, ông cha bạn đã bảo nó là vật linh, nguồn cội của dòng dõi bạn-dòng họ Ksor của nhóm sắc dân Ê Đê Bih. Vậy thì con chim đó, đã vận vào chính bạn, hoặc bạn chính là một hiện thân nào đó của nó rồi.

Yàng kia như đã chuyển hóa chim Phí thành bạn, hoặc bạn là con người biết hót được “ngôn ngữ” của chim Phí. Không trốn tránh đâu được nữa, Phôn ạ. Sáu tuổi bạn đã biết đi rẫy rừng như một người đàn ông. Ngày ấy, vào một ngày nắng chang chang như hôm nay, bạn nhìn thấy ổ chim Phí có bốn con non đang nằm trong ấy đã rơi nằm dưới đất và cha bạn nhặt lên. Cha bạn để nó lên một gốc cây, không quên làm một cái dù bằng cây xanh cho nó. Chim Phí mẹ bay vào đút mồi cho con. Biểu hiện của sự hồn nhiên, an lành, tự tin và tình thương yêu. Hai cha con bạn nhìn cuộc đoàn tụ của kẻ mất nhà, dù chỉ là chim, mà ngây ngây hạnh phúc.

 
 

Bài hát đầu tiên của bạn là “Lời ru mùa lúa”, nhưng chỉ khi viết “Chim Phí bay về cội nguồn” bạn mới được thừa nhận là “nhạc sĩ”. Ngày bạn chưa được biết đến, đây đó ở Tây Nguyên có người đã ngang xương bảo mình là tác giả bản “Chim Phí bay về cội nguồn”, dù nó được viết ra từ một đứa con thầm lặng của Dlei Yang là Y Phôn Ksor. Ngày đó bạn gắn chặt mình ở Dlei Yang, viết nhạc bằng bản năng, trong tâm linh và tâm thế của một thằng con trai rẫy nương, chứ đâu phải  “Nhạc sĩ” để mà thiên hạ biết. Đó cũng là bản tân nhạc “Tây Nguyên” nhất đầu tiên, đánh đổ  hoàn toàn những bài hát lâu nay gọi là đại diện cho Tây Nguyên của những nhạc sĩ lữ khách, chợt đến yêu và cảm Tây Nguyên, hoặc đóng giả là Tây Nguyên. Không phải Y Phôn thì ai mà biết để mà viết ra được rằng: “Chim Phí bay ngang bay ngang qua bầu trời/ Chim Phí vẫn bay về cội nguồn”. Và càng rõ hơn, chói ngời hơn, khi sau đó bạn cho ra bài hát “Đi tìm Nữ thần Mặt trời”. Ca khúc này càng làm sửng sốt đời sống âm nhạc cả nước khi nhìn về Tây Nguyên, đưa Tây Nguyên thoát khỏi vị trí vùng trũng của âm nhạc hiện đại, thoát khỏi tính miền núi, vùng xa. “Bầu trời”, “Mặt trời”, là hiện thân của xã hội văn hóa mẫu hệ của người Tây Nguyên.

Dừng lại bên một ngọn núi thấp cũng đã thảm đầy rẫy cà phê, bạn chỉ tôi ở đấy là nơi bạn hay lang thang và viết ra những giai điệu: “Một mình lang thang trên đất này/ Một mình qua sông, qua núi đồi/ Theo dấu chân cha ông ngàn đời”. Lang thang đã là một trạng thái của nghệ sĩ. Cái lang thang của nghệ sĩ, nhạc sĩ Y Phôn là từ trong hồn cốt của “công dân rừng”, con của rừng. Nó chảy ra từ sự chìm đắm hoang dã; nó lặng, nó động, nó hấp thụ và chuyển hóa rốt ráo. Nó đau khổ tận cùng, và nó vui vẻ quyết liệt. Nên nó mới vang lên giai điệu: “Tôi như con chim lạc bay trên đồi cao/Tôi như dòng sông khao khát lời/Tôi như giọt mưa không có lời”. Bạn phải đủ thương hoặc đủ đau mới viết được những gì thuộc về cái bên trong của một sắc dân, cộng đồng, xứ sở, một cành cây, một con suối, một con thú chăng.

Đi trong nắng gió thật sướng toàn thân. Nhưng đôi lúc cũng nên nghỉ chân dưới một bóng cây, hoặc một cái chòi. Tôi và bạn bước vào căn nhà sàn hoang nhỏ bé trong một rẫy cà phê. Nắng rọi nhiều tia vào các vách gỗ bị thủng, khiến cho cái hoang không ẩm lạnh, cô tịch. Gió và nắng là khách của nó. Những khi bạn về với rẫy là lúc ngôi nhà này “có chủ”. Bạn đưa tay vừa đi vừa gạt một số màng nhện to, rồi vớ tay lấy một trái bầu trên giàn bếp lau. “Nhà sàn của mình. Cà phê ngoài kia của gia đình mình”, bạn tự hào. Với người Ê Đê, những khi làm mùa, cần ở lại rẫy là có những căn nhà như thế này. Phôn nói rằng cả bài hát “Đôi chân trần” cũng ra đời trong rừng nương mà tôi đang ở đây. “Cha đi lượm quả ngọt rừng, cho con đỡ đói qua đêm/Cha đi lượm từng hạt thóc, cho con một bữa cơm chiều”. “Chim phí bay về cội nguồn” cũng thế, vừa viết về cái sự thật đời mình và cái siêu thực của thế giới mẫu hệ qua hình ảnh của mẹ, của chị và nhất là về đứa em gái bạn hàng ngày lầm lũi lên rẫy. Lúc này đây, ngay trên đồi nương hằn dáng hình đứa em gái lam lũ, mất chồng, chất ngất cô độc đó, cộng với phẩm chất hoang dã của  bạn trồi lên trong quặn quại để trào ra những câu nhạc đắng thanh thoát mà đầy thương yêu: “Cô gái trở về một mình, về với ngọn núi xa/...Ánh mắt bay nghiêng chiều/…Ngọn nguồn núi, chiếc lá rơi rơi” (trong bài hát “Cô gái trở về một mình”). Bạn bày tỏ, những lúc nằm trong căn nhà sàn chơi vơi thế này bạn mới thấy mình đang “ở nhà”, đang sống đúng chỗ của mình. Vì thế mà nay căn nhà bé con bạn mới có được ở ngoại ô Buôn Ma Thuột chỉ cốt cho hai đứa con tiện ăn học. Còn bạn, cứ cuối tuần phóng xe hơn trăm cây số để về với Dlei Yang, không gian làng buôn máu thịt.

* Nhạc của Y Phôn đẹp, khác hoàn toàn bất cứ ai viết về Tây Nguyên. Nghe là biết nhạc “Y Phôn”, man mác trong đó là hơi thở dân ca truyền thống Ê Đê. Cái đẹp từ cái chân thật, sự thật về những gì bày ra, cùng dòng chảy chuyển động bên trong của đời sống, tâm hồn, vạn vật ở Tây Nguyên. Bạn không giả danh hay son phấn lên câu chuyện, đối tượng mình viết. Bạn viết không cần người nghe. Bạn viết không xu thời, xu thế. Hồn của bạn ở nương rẫy. Đúng nghĩa, bạn là kẻ cuốc rẫy, tay thợ rừng viết nhạc, từ nghĩa đen cho đến chiều nghĩa thăm thẳm của nó. Bàn tay chai lỳ, ngón tay ngắn đủn, nhưng sao mà nhạc nó mênh mông, hoang thẳm đến vậy không biết…

Nguyễn Hàng Tình

[...]
Xem tiếp

Chuyện nhà Y Len Ksor (2)

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-08-04

Như dòng suối Ia Pa ở buôn sau mỗi lần con đập chắn để cả làng tát cá được dỡ bỏ, nước chảy băng băng mạnh mẽ xuôi dòng, mang theo sự trong trẻo mát lành của rừng đại ngàn đến với mọi buôn làng. Y Len từ đó có thêm nhiều bài hát mới, ra đời một cách nhanh chóng đến không ngờ. Trái tim Jrai của anh bật ra những  âm điệu thấm đẫm hơi thở dân ca, cả từ tâm sự thầm kín với H’Lanh, nào là “ Em yêu dấu, Hỡi anh Nu, Bến nước ta tươi đẹp, Em đi gùi gạo đánh Mỹ…”.  Những câu hát nồng nàn say đắm “ Em ơi lắng nghe tiếng ve Jut ve Tê kêu vang rừng già, như tiếng lòng anh gọi em, gọi em” **; hay tha thiết lời yêu gọi bạn  mỗi đêm trăng sáng “ Trăng non ngủ yên trên đỉnh rừng, em chờ anh bên suối. Đất trời mênh mông, tiếng hát em vút bay như cánh chim về bên anh”**…. Làm người xem ngẩn ngơ như bị bắt mất hồn. Bộ đội mới đánh thắng đồn giặc, Len có ngay bài hát “  Thắng đồn Plei Kly”. Du kích bắn rơi máy bay trực thăng bằng súng trường, anh sáng tác liền bài “ Du kích bôn bắn máy bay ”. Nhất là những điệu nhạc cho H’Lanh dựng múa, lúc sôi nổi, cuốn hút như vòng suang đêm hội bôn làng, lúc mềm mại như hình ảnh người con gái vươn mình giã gạo đầu sàn trong sương sớm. Hai người họ cứ như là sinh ra để một người sáng tạo múa, một người “ làm” nhạc nâng những bước chân, cánh tay đó bay lên. Chú khỉ Y Điết tinh ranh được các chiến sỹ nam nghịch ngợm, bày làm mấy trò nhào lộn, chuyền bóng với người, làm cho Đội bỗng dưng có thêm nhiều tiết mục lạ, phục vụ khắp chiến trường rừng núi Tây Nguyên, khiến bộ đội, du kích và bà con các bôn làng thích mê. Y Len từ lúc nào thành người sáng tác, thậm chí còn được an hem gọi là “ nhạc sỹ”. Đội văn nghệ  được tặng Huân chương vì cả thành tích phục vụ bộ đội lẫn tăng gia sản xuất và nâng lên thành Đội Văn công tỉnh. Khi lệnh quân khu  điều ông đội trưởng về Trung ương Cục, Len nghiễm nhiên trở thành lãnh đạo thay thế.

Bữa  về báo cáo điển hình ở Đại hội thi đua quân khu, nhà báo hỏi Y Len :

- Anh lớn lên ở trong buôn làng, học ở đâu mà sáng tác được nhiều bài hát, nhạc múa  thế?

- Mình chỉ được học chút chút với đội trưởng từ ngoài Bắc về thôi. Nốt nhạc còn chưa biết ghi, phải học thuộc lòng miết miết mà.

- Bí quyết nào khiến các tác phẩm của anh được mọi người yêu thích vậy?

- Chu cha, sao mình biết được? Vì những thứ nhạc đó ở trong tim mình lâu rồi, chắc từ khi còn ở trong bôn ấy, gọi là nó ra thôi.

- À, nghĩa là từ dân ca của buôn làng phải không anh?

- Nhà báo nói thế cũng được. Bài gì mình cũng thuộc trong đầu, giống như mở cánh cửa nào ra cũng thấy, chỉ cần sắp xếp lại rồi cho lời vô thôi. Mà cũng do mấy bạn ca sỹ có giọng hay, mấy bạn nam nữ múa đẹp nữa chớ!

Đoàn ít người, ai biết hát chút chút cũng ra sân khấu cùng tốp ca. Chỉ chân tay cứng quèo quèo mới không tham gia múa. Công việc khiến Y Len và H’ Lanh ngày đêm liên tục phải làm việc cùng, khiến họ ngày càng xích lại gần nhau hơn. Những cái xiết tay vội vàng, những đụng chạm thân thể trong bài múa, khiến ngọn lửa càng cháy bùng lên trong trái tim hai người. Một bữa Y Len hẹn H’Lanh khi trăng mọc thì gặp nhau nơi bờ suối. Chờ H’Lanh mà Y Len gần như dẫm nát đám cỏ quanh gốc cây săng lẻ cụt ngọn.   

- Lanh ơi, tui thương em quá mất rồi. Trái tim với cái đầu tui chịu không nổi nếu một ngày không nhìn thấy em.

- Len không sợ thủ trưởng phê bình, đuổi về sao?

- Tui làm giao bưu chưa lần nào sợ khi vượt rừng đưa công văn, dẫn cán bộ. Làm văn nghệ chưa lúc nào bị bộ đội chê diễn không hay. Tui hổng sợ ai hết.

- Những lỡ em bị đuổi về bôn thì sao?

- Đuổi H’Lanh lấy người nào dựng múa? ….

Thế thôi! Rồi chẳng còn lời nào được thốt ra. Trăng tò mò lách qua vòm lá xem  mặt người hai người, nhưng ngạc nhiên sao chỉ thấy có một. Rừng và gió đuổi nhau xạc xào xao động. Cây khép tán chở che. Suối rì rào mách nhau, đon đả đưa đấy câu chuyện làm quà. Đom đóm nhấp nháý con mắt cười và trăng chảy dài trong không gian những giọt sáng long lanh.

Chuyện tình của Y Len, H’Lanh rồi cũng lan khắp căn cứ. Thủ trưởng gọi lên bắt làm kiểm điểm :

- Giữa lúc kháng chiến đang gay go thế này, sao hai người bày chuyện yêu đương làm yếu lòng chiến sỹ? Ai cũng học theo mà yêu, ai cũng lấy nhau mang bầu có con thì làm sao đi phục vụ được, cản trở nhiệm vụ công tác của cả đội. Y Len là lãnh đạo, phải biết cái gì nên làm, cái gì không nên chớ. Còn giáo dục diễn viên nữa.

- Cái việc này tự nó khắc đến thủ trưởng ơi. Mình không muốn vi phạm kỷ luật chiến trường đâu. Nhưng con trai con gái phải hơi nhau in như lửa cháy rừng ấy. Làm sao ngăn được.

- Mình làm cán bộ phải biết nén cảm xúc làm gương cho chiến sỹ. Tự thả mình sao được?

- Chu cha, thủ trưởng thử làm xem có được không? Con kiến nó bò trong tim, con bọ cạp nó chích trong người đó. Chịu không thấu đâu. Không lẽ cột lại? Thôi, thủ trưởng cho hai tụi mình cưới đi. Để lâu thằng nhỏ chịu không nổi, lớn chuyện hơn là lỗi của thủ trưởng, hổng phải của tui à nghe.  

Đám cưới hai người vui chưa từng có, bởi là lần đầu tiên ở cứ. Diễn viên nữ lo đi hái hoa rừng chuẩn bị trang hoàng hầm cưới và hầm tân hôn. Các bạn nam chia nhau nhóm vác súng luồn rừng mang về được một con heo rừng to, nhóm bì bõm lội suối khiêng lên một nồi đầy tôm cá. Đội văn công có nhiều người từ các nơi đến, ai cũng muốn góp phần nên có nhiều món ăn lạ. Mấy bạn Ê Đê trổ tài nấu món vech bằng toàn bộ phèo non, xương sống lưng heo cho đến tận chót đuôi cùng với bốn cẳng chân ( riêng bộ móng để dành nay mai mẹ hầm ăn có sữa cho em bé bú) và món canh bồi bột gạo nấu chung mười hai loại rau rừng cùng cua ốc suối. Món canh thụt với trái cà dại đắng xiu xíu mọc hoang bên suối và tất cả những con tôm cá nhỏ, ruột cá lớn giã nát nhừ nấu trong ống nứa của nhóm diễn viên Mnông. Cá suối lớn bằng bắp tay đánh sạch vảy, bọc lá ổi rừng vùi trong than hồng của bạn Sê Đăng. Nhiều nhất là những món ăn ngày lễ ở quê Y Len, nào thịt heo từng xâu từng xâu nướng, thịt băm nhỏ với muối ớt đùm trong lá chuối tươi thành từng gói treo trên than. Bì da luộc chín xắt mỏng trộn đu đủ rừng làm gỏi. Đọt mây xào tim gan heo, canh ếch ôm măng….Món nào cũng có vị đắng và cay, giúp tránh được bệnh tật. Trong rừng nhiều loại lá thơm được mọi người hái về ướp thịt cá, nên cả một góc rừng chỉ toàn mùi thức ăn thơm phức. Dường như tụi địch cũng…thương đôi vợ chồng trẻ nên hai ba ngày liền không thấy có chiếc OV10 nào vè vè trên đỉnh rừng nhòm ngó. Mọi người dỡn nhau :

- Nếu có, mình chỉ lo giữ đừng cho nó thấy lửa khói thôi, máy bay không  ngửi được mùi đâu mà lo.

                                *                                    *

Theo tính toán của y tá trạm, còn chừng hai con trăng nữa thì H’Lanh sanh. Thủ trưởng cho về buôn để amí chăm sóc, vì trường hợp này thai quá to, chắc sẽ khó sanh.Ở trạm không có nhiều thuốc men và người quen xử lý việc sanh nở.

H’Lanh ngồi chống hai chân xuống sàn. Đôi tay nắm lấy cây nứa cột ngang trên vách. Một bà buê phía trước đỡ em bé. Một bà buê khác vỗ lưng.

- Hít vô, thở ra. Rặn đi, rặn đi! Hít vô, thở ra !

- Được rồi !

- Bụng vẫn còn to quá hè ! rặn đi, rặn đi!

- Chu cha !  Hai em ! Một gái một trai !

Phải cháy tới hết cây đèn sáp ong mới có  được hai tiếng khóc.

Các bà đỡ lấy nước suối lau sạch, bọc hai bé trong tấm thổ cẩm, đặt nằm bên người H’Lanh. Một con gà luộc, một ché rượu nhỏ đã được chuẩn bị sẵn để sau khi nói lời  tạ lỗi vì cuộc khai hoa nở nhụy phần nào làm ô uế nơi ở của các vị thần linh, hai bà đỡ dùng rượu rửa tay và vẩy rượu pha huyết tẩy rửa cho ngôi nhà, cho cả ba mẹ con. Hai bà làm luôn việc thổi tai cho  đứa trẻ. Yă buê thứ nhất và dăm dei mang chiếc vỏ bầu khô nhỏ đựng nhau và rốn của hai đứa trẻ ra chôn ở đâu đó dưới đất thật sâu, cho thú rừng khỏi bới lên được. Yă buê thứ hai lấy chiếc ống nứa nhỏ nhúng một đầu vô chén rượu huyết, lần lượt thổi tai trái, thổi tai phải từng bé, khấn thần Pút “ Ơ Yang, nhà này mới thêm em bé. Ta thổi tai phải cho nó biết nghe những lời hay, lời tốt. Thổi nốt tai trái cho nó biết lời nào xấu lời nào sai, lớn lên thành trai giỏi gái tài của bôn làng. Ơ Yang”. Xong rồi hai yă buê hút mỗi người một cần rượu.

“Hai em” ! Hai từ đó như tiếng ồm ồm vọng lại từ vách núi, từ rừng già, cứ thế vòng quanh trên nhà sàn, lan lan ra khắp buôn. Yă buê chấm chấm chiếc đùi gà vô miệng hai đứa nhỏ.  Hai bà chưa ăn hết đã thấy thày cúng và già làng lập cập bước lên sàn.

Y Len vừa diễn một đợt ở H.6 về đến cứ, nghe có lời nhắn từ trong bôn :

-  Về ngay, H’Lanh có chuyện xấu rồi.

Chưa lội qua con suối  Ia Pa đầu buôn đã nghe tiếng ching chêng rầm rập lúc ngưng, lúc rộ lên báo tin dữ, Y Len càng thêm bối rối. Trên nhà sàn rất đông. H’Lanh nằm  gian trong co mình ôm chặt hai đứa nhỏ trong tay, nước mắt chảy dài. Cuộc nói chuyện đang hồi căng thẳng. Không lớn tiếng nhưng mặt ai cũng đỏ rần rần.

- Chúng là anh em ruột mà ngủ với nhau ngay từ trong bụng mẹ. Phạm luật agăm rồi.

-  Phải đem hai đứa nhỏ bỏ trong rừng sâu hoặc chôn xuống đất. Không được để chúng lớn lên.

-  Cả bôn sẽ bị Yang phạt, không phải chỉ riêng nhà này đâu.Coi chừng bệnh tật hết cả người với trâu bò sẽ xảy ra đó.

- Lỗi này nặng lắm, Yang sẽ không tha cho. Giận hung Yang bắt phải dời bôn đi chỗ khác thì làm sao.

- Nếu trai gái lớn là bắt phải trần truồng bò từ bến nước về  ăn máng heo rồi.

- Hai đứa nhỏ ra một lúc Yang không cho  nuôi đâu. Khó lắm đó !.

- Vợ chồng H’Lanh với Y Len chắc làm gì các Yang không ưng nên mới bị cho sanh như thế.

-  Hai đứa nó đi làm hát múa, vui bụng bộ đội với dân làng. Ai cũng thương. Đâu có điều gì sai?

- Phải cúng trâu cho Yang thôi. Để cả bôn nay mai có chuyện xấu, dòng họ Rchom có đền nổi không?

- Cúng trâu bò Yang cũng không ưng bụng đâu. Phải thả hai đứa trôi theo suối Ia Pa thôi.

 Hết mọi người già trong buôn và trong dòng họ nói qua nói lại, vẫn không ai đưa ra được quyết định cuối cùng. Y Len chống hai cánh tay dài lòng khòng vô đầu gối đứng lên xin phép được nói :

- Thưa chủ làng, thưa Pơ yao, thưa ama, amí. Mọi người trong buôn đều biết hai đứa vợ chồng chúng con mấy năm nay đi theo giải phóng, chỉ đem niềm vui tới cho mọi người và bộ đội. Không có làm điều gì phạm lỗi với các Yang. Theo y tế của bộ đội, việc sanh hai bé không có gì là khác thường, chỉ là hai trứng đi chung đường thôi. Vậy xin các già và Pơ yâo cho gia đình chúng con được cúng theo đúng phong tục để tránh mọi điều xui xẻo cho cả buôn, rồi sẽ đưa ba mẹ con về binh trạm .

- Đúng rồi đấy !  bây giờ người ta không có cấm kỵ như hồi xưa nhiều đâu. Giết bỏ con nít là không nên đâu.

- Để vợ chồng tụi nó đưa hai đứa nhỏ về bộ đội nuôi. Không ở trong buôn là được mà. Yang đâu có phạt được giải phóng.

- Phải cúng Yang đúng tục lệ ông bà mới được đưa đi.

Vậy là được lời rồi. Dòng họ RChom nhà H’Lanh gấp rút chuẩn bị ngay những con vật dâng các thần linh cho 3 lễ cúng. Lễ thứ nhất xả xui cho gia đình gồm một ché rượu, một con vịt, một con chó, một heo hết lớn, cùng với sự tham dự của cả dòng họ. Y Lên phải trực tiếp giết các con vật, lấy rượu, đầu heo, cùng mỗi thứ thịt một ít với chén cơm trắng và trầu cau bày lên mâm cúng. Đầu vịt và đầu chó đem treo trên cây cao trước nhà, Thày cúng mặc áo hoa đỏ và khố mới, gọi rất nhiều Yang, khấn vái rất lâu “ Ơ các Yang trên cao phía Đông phía Tây, phía Nam phía Bắc. Ơ Yang đất, yang rừng Núi, Yang sông suối, yang nhà và các cây cối. Ơ Yang Pút và các linh hồn tổ tiên. Ta dâng lễ máu vịt máu chó này xin tạ tội cùng các Yang vì đã để hai đứa nhỏ ngủ với nhau từ lúc chưa ra đời. Nay ta cúng nhiều lễ vật cho ma quỷ ngoài rừng hết lấy cớ đổ thừa , hết lấy cớ làm le mà gây chuyện. Xin dùng máu heo máu bò xóa bỏ hết nóng nảy và chất độc.  Xin xóa hết dịch bệnh ốm đau. Xin Yang đừng giận nữa. Đừng làm hại cháu con của  mình.  Hãy cho gia đình được yên ổn sống.  Ơ Yang”.

Pơ yâo khấn xong, Y Len lấy rượu hòa huyết heo nhúng cành lá mây quét lên lưng tất cả mọi người để tuốt sạch hết xúi quẩy. Sau đó quét hết lên thành bếp, ching, trống, ché lớn,cột nhà, cầu thang, kho lúa , hàng rào của gia đình.

Lễ thứ hai xả xui cho ba mẹ con. Vì là sinh một trai một gái, nên phải cúng một ché Tuk và một bò. Thày cúng khấn xong lấy xôi và thịt mỗi thứ một nắm chấm lên miệng hai đứa rồi cho H’Lanh ăn hết.  Coi như Yang chứng nhận hai đưá nhỏ kết nghĩa chị em. Sau này không cãi nhau bằng lời, hay đánh nhau bằng chân tay, tính tình hòa thuận, tình thương mến thương nhau. Sau hai lễ cúng này mọi người đều hỉ hả cùng ăn chung bữa cơm, vì mọi điều xui xẻo cho dòng họ đã được dỡ bỏ.

Nhưng vẫn chưa xong, bởi bò mới cúng cho dòng họ.  Một trai một gái nên cha mẹ còn phải cúng thêm một trâu, nhỏ nhất là trâu “ một em” cũng được và rượu ché tuk, ché tang, mời cả bôn làng cùng tham dự, lớn nhỏ không được sót một ai. Nhưng mà đã ăn trâu là phải có tiếng ching chêng. Ching không cất lời sao các Yang biết mình cúng trâu chứ. Vậy là cột gâng đã dựng lên ngoài sân, trâu cái “ hai em” đã dắt về buộc chặt. Tiếng ching nổi lên trong khi thày cúng một lần nữa lại kêu gọi các Yang về tha thứ cho cả bôn vì đã không biết cùng nhau dạy dỗ cháu con, để chúng gây chuyện ngay từ trong bụng mẹ “ Xin các Yang hãy thương chúng chưa biết ăn biết nói, chưa biết lớn. Chưa thổi tai. Để tạ lỗi chúng ta đền thần con trâu. Để cầu xin chúng ta đền thần ché Tang ché Tuk. Ta cúng xóa máu trâu rồi. Mong các Yang đừng chấp đừng giận. Hãy ăn trâu này, uống rượu phạt này của chúng tôi. Đến mùa sau Yang lại cho lúa bắp đầy nhà, không ai ốm đau bệnh tật.  Chim thú đầy rừng. Tôm cá đầy suối, … Chúng ta lại cúng bò cúng trâu các Yang.” Rồi vòng suang khởi đầu từ những người mẹ trên mái tóc vắt chéo chiếc khăn đen với những bước chân nhỏ nghiêm ngặt . Tiếp tới đội suang của các chị thân hình dẻo mềm như sợi mây. Cuối cùng là đội suang những em gái bàn chân còn lấp vấp trong vạt váy. Ching tung ching. Ching tung ching. Tay đưa lên, sang phải sang trái. Chân nhún xuống bước tới bước ngang. Chúng tôi đón rước các Yang và linh hồn tổ tiên ông bà từ cõi atao về phía mặt trời để chứng giám và tha thứ cho bôn làng. Mặt trăng lặn xuống, mặt trời nhô lên. Vòng suang cứ thế xoay mãi, xoay mãi như không thể dừng.

Rượu huyết chấm lên trán những người có vai vế ngồi trong nhà sàn. Rượu huyết quét lên cầu thang và chuồng trâu bò mọi nhà trong bôn, cả trên ống dẫn và những hòn đá lớn ngoài bến nước, các cây to đầu buôn, kho lúa ngoài rừng. Đảm bảo mọi vị thần linh thiêng coi sóc các gia đình, ngoài bến nước đều biết dòng họ Rchom đã hiến trâu. Yang tha thứ rồi, nếu xảy ra cháy nhà, người chết xấu, dịch bệnh hay mất mùa đói khát, không phải là lỗi của hai đứa nhỏ “ loạn luân” nữa.

Cổng đường vô buôn bị cắm lá xanh để cấm người lạ không ai được bước qua. Trống ching sầm sập đánh suốt ba ngày lễ, cho gần xa đều biết buôn Ama Hŭt đã cúng lớn đến đâu.

Qua ba con trăng, sau khi hứng nước sương – hiện thân của linh hồn tổ tiên -làm lễ xin đặt tên, Y Len đón mẹ con H’Lanh về lại căn cứ. H’Plang và Y Then uống nước cơm bộ đội ngày qua ngày, năm qua năm lớn nhanh như thổi.

 

* Dân ca Ê Đê, JRai

** Bài hát của nhạc sỹ Ama Nô

 

[...]
Xem tiếp