Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

Văn học Tây Nguyên đang ở đâu trong thời buổi hội nhập ?

Được cập nhật bởi Admin ngày 2009-06-03 14:50:22

Câu hỏi này rất cần đặt ra với các tác giả đang sinh sống ở Tây Nguyên,
( xin giới hạn trong phạm vi 4 tỉnh Gia Lai, Đăk lăk, Kon Tum & Đăk Nông. Bởi anh em Lâm Đồng từ lâu đã sinh hoạt với nhóm Miền Đông Nam Bộ), rằng Văn học Tây Nguyên – hôm nay- đang ở đâu và như thế nào trong thời điểm Việt Nam đã và đang hội nhập không chỉ kinh tế với thế giới ?

Nếu như sau cách mạng Tháng 8, nghệ thuật dân gian Tây Nguyên làm một cuộc “ trình làng” rất ngoạn mục bằng dân ca, dân vũ...để rồi sau đó là nguồn cảm hứng vô tận cho giới nghệ thuật. Thì, mặc dù có một nền văn học dân gian truyền miệng độc đáo và vô cùng đồ sộ, nhung văn chương Tây Nguyên vẫn chỉ gần như một con số không.

Trước tiên xin hãy làm một cuộc “ điểm danh” nho nhỏ: nếu như trước năm 1975, chỉ mới có các nhà văn Vũ Hạnh, Nguyên Ngọc, Thu Bồn, Y Điêng Kpă Hô Di và tác giả một bút ký chiến trường là Nay Nô, bằng ngòi bút của mình, qua những trang viết, phác hoạ nên chân dung Tây Nguyên qua hai thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ; thì sau 1975, văn học Tây Nguyên là một mảnh đất hầu như trống vắng. Ngoài nhà Văn Y Điêng , sau đó chuyển về Khánh Hoà, cùng với tác giả Nay Nô hoàn toàn ngủ yên cho đến tận hôm nay, chỉ có sự xuất hiện ào ạt trên văn đàn một thời gian của tác giả Phạm Kim Anh, với những tiểu thuyết dày cộp về đời sống người dân tộc Mạ, mà trong quá trình là một chiến sỹ an ninh, ông có điều kiện tiếp cận sâu. Nhưng sau đó, vì nhiều lý do, lại hoàn toàn im hơi lặng tiếng, náu mình dưới bút danh khác để làm một soạn giả sân khấu ( ít người biết Phạm Kim Anh chính là tác giả kịch bản cải lương “ Mối tình qua tết Lirbooong” rất nổi một thời).Sau đó là Nguyễn Trần Thiết với những truyện ký về Phulrro rất được bạn đọc chú ý.Những năm giữa thế kỷ XX, các bút ký của Bùi Bình Thi, truyện & tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh, như những gạch nối khắc hoạ vào bức tranh văn học Tây Nguyên ,cho đến lúc này vẫn hoàn toàn mờ nhạt trên văn đàn chung.
Đội ngũ sáng tác văn học Tây Nguyên chỉ bắt đầu manh nha phát triển từ khi các Hội VHNT tại các tỉnh được thành lập, tập hợp anh chị em tác giả từ nhiều miền quê đến công tác và sinh sống tại TN , dần dà sau đó mới có một vài tác giả người bản địa.
Bằng năng khiếu cá nhân, với sự hỗ trợ ngày một tích cực của các Hội TW và địa phương,đến đầu thế kỷ XXI này bộ mặt văn học TN đã dần dần lộ diện, làm hiện lên có thể gọi là vóc dáng và diện mạo văn chương của một vùng đất không dễ lẫn.Tuy nhiên, cho đến tận hôm nay, ở mỗi tỉnh Tây Nguyên, đội ngũ những người thực sự là tác giả tạm gọi là tiêu biểu, vẫn chỉ đếm không đầy hai bàn tay. Tác giả văn học người các dân tộc bản địa lại càng ít ỏi.Bù lại, bạn yêu văn chương  trong vùng đã  chú ý đến  : thơ của Văn Công Hùng, Tạ Văn Sỹ, Lê Hữu Chỉnh, Phạm Doanh, Hương Đình,Văn Thảnh, Trần Duy Phiêm, Nguyễn Văn Tao....Văn xuôi của Thu Loan, Đinh Hữu Trường, Chử Anh Đào, Nguyễn Ngọc Hoà, Thu Loan, Phạm Văn Long, Đỗ Trọng Phụng...Một số tác giả đầu tiên trở thành hội viên Hội nhà Văn VN ( ngày nay là 11 hội viên) , ghi dấu cho sự trưởng thành của văn học từ miền cao nguyên đất đỏ.
Thế hệ tiếp theo đông đảo hơn, viết khoẻ và mãnh liệt nhưng vẫn không mất đi chất trữ tình vốn có của văn học, là các tác giả Lê Vĩnh Tài, Đinh Thị Như Thuý, Tôn Nữ Ngọc Hoa...Văn xuôi dù “ khó gặm” hơn, vẫn có những tác giả được giới chuyên môn và bạn đọc xung quanh biết đến, với những Nguyên Hương, Lê Khôi Nguyên, Hồng Chiến,Nguyễn Liên, Ngô Thị Thanh Vân,Nguyễn Thiện Đức ...
Đáng chú ý là với sự chăm lo của các Hội VHNT địa phương, một số nữ tác giả người dân tộc bản địa đã “trình làng” mỗi lúc một tự tin hơn như Kim Nhất, H’Linh Niê, Niê Thanh Mai ( văn xuôi), H’Trem Knul, Hoàng Thanh Hương ( thơ).Phía dưới miền Trung có thêm các anh chị Nga H’vê, Đinh Xăng Hiền, Hồ Chư...( người mất người còn vẫn chỉ đếm chưa hết hai bàn tay)....làm đa dạng hơn vườn văn Tây Nguyên.
Về thể loại, từ lúc chỉ có những tập thơ, tập truyện ngắn đến cuối thế kỷ XX, một số các trường ca của Nguyễn Hoàng Thu, Văn Công Hùng, Nguyễn Văn Tao, Lê Vĩnh Tài...tiểu thuyết của Thu Loan, Nguyễn Hoàng Thu, Lê Khôi Nguyên...mở rộng thêm không gian văn học và đời sống văn chương Tây Nguyên.
Tuy nhiên, điều đáng nói trước hết ở đây là nội dung và chủ đề tác phẩm của các tác giả TN. Mặc dù đã có hình hài và dáng vóc của cuộc sống vùng dân tộc, cao nguyên, nhưng vẫn nhạt nhoà và không mấy gây được sự chú ý. Phổ biến trong các tập thơ, tập truyện ngắn, và ngay cả tiểu thuyết của tác giả tại chỗ,Tây Nguyên chỉ được đề cập tới một cách rất ít ỏi. ( ví dụ như ¾ tiểu thuyết của hai tác giả Nguyễn Hoàng Thu & Thu Loan đã được xuất bản cũng là đề tài không dính dáng gì tới miền đất này). Một phần cũng do tình trạng chung về điều kiện in ấn xuất bản, phát hành và phổ biến của tác phẩm văn học ở khu vực ( có thể các anh chị đã viết, nhưng không có điều kiện in ấn), phần nữa cũng do các tác giả không có điều kiện lẫn kinh phí để đi thực tế thu thập tài liệu. Nhất là còn thiếu sự hiểu biết và né tránh những đề tài “nóng”, trong đó cũng phải nói đúng thực trạng là không với tới tầm.Có nghĩa là “ lực bất tòng tâm” (Điều này xin nói cho ngay cả chính tôi) . Đặc biệt là những vấn đề như lâm tặc phá rừng, cuộc chuyển cư của đồng bào các dân tộc phía bắc, vấn đề an ninh chính trị trên địa bàn,sự suy đồi của đạo đức xã hội trong thời buổi kinh tế thị trường có ảnh hưởng đến Tây Nguyên, miền núi không? Như thế nào? Ngay cả sự được mất trong cuộc sống hôm nay của đồng bào dân tộc thiểu số bản địa, mà với chức năng cảnh báo của văn học, lẽ ra phải được các nhà văn đề cập tới, thì hầu như không có.Những đề tài đó, chắc chắn sẽ không chỉ được bạn yêu văn học tìm đọc, mà còn là mối quan tâm của Đảng và Nhà nước để thông qua đó hiểu thêm về đời sống Tây Nguyên, mà hoạch định ra những chính sách, chủ trương nhằm giúp cho Tây Nguyên phát triển ổn định và bền vững. Hoặc giới thiệu ra văn đàn quốc tế ( trong khi người ta cứ đi tìm những cái gọi là “ kỳ thị dân tộc, kỳ thị tôn giáo lẫn mất nhân quyền ở vùng Tây Nguyên đó thôi) .
Rât nhiều đề tài “nóng” của xã hội đã được các nhà văn cả nước nhanh chóng cập nhật và đưa vào tác phẩm , nhưng ở Tây Nguyên thì hoàn toàn thiếu vắng.Những vấn đề môi trường mà Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Hoàng Thu, Nguyễn Văn Tao…đề cập tới trong các trường ca là một tín hiệu đáng mừng, nhưng thể loại văn học đó chưa mấy được đông đảo bạn đọc quan tâm cũng như khó mà  chuyển tải được sâu rộng như tiểu thuyết. Như thế đồng nghĩa với việc văn học Tây Nguyên hiện nay vừa ít lại vừa thiếu.
Vậy sự thiếu hụt đó của Tây Nguyên có là chậm chân quá không,nếu so sánh với bứơc tiến gần hơn là của văn học hiện tại cả nước, xa nữa là khu vực Đông Nam Á khi cứ quẩn quanh với những đề tài tình yêu,cái tôi, với nuối tiếc gì gì đó của một qúa khứ và một miền quê đã xa cách tới vài chục năm, mà lãng quên thực tại nóng hổi nơi mình đang sống? và đã đủ để được coi là mối quan tâm về một vùng văn học của Ban chấp hành chưa ?
Vấn đề thứ hai đáng quan tâm là việc bồi dưỡng đội ngũ sáng tác văn học kế cận, nhất là thế hệ 8-9X, hầu như chưa Hội TW và địa phương nào có chiến lược phát triển, chỉ để mặc cho sự tự phát của các tác giả, rồi ta “hái ngọn”.Đội ngũ các nhà văn người dân tộc thiểu số phía Nam, phía Bắc cũng chung tình trạng thế cả thôi. Nói vậy không có nghĩa là phủ nhận những cố gắng mở trại sáng tác của các Hội địa phương, nhưng để ươm gieo thì cần phải nâng niu chăm bẵm mới thành cây được, chứ cứ vãi hạt rồi để mặc nó , thì bao giờ mới có cây, có vườn ? nhất là đối tượng người dân tộc bản địa ? Chúng tôi có viết được gì cũng là từ sự động viên của  Hội Đăk Lăk những năm trước đây, khi thấy bắt đầu manh nha viết đấy chứ.Tôi lấy ví dụ em Hồng Nhật Rlan Yang người dân tộc Mnông ở Đăk Nông . Qua nhiều lần trại, đều được đánh giá là rất có triển vọng, nhưng làm gì để giúp em phát triển năng khiếu, thì hầu như chưa có ai đề cập tới, kể cả Hội Đăk Nông lẫn Đăk Lăk là nơi đã phát hiện và bồi dưỡng em. Có người nói văn nghệ sỹ phải cô đơn mới viết được. Nhưng cô đơn là trong tìm kiếm chủ đề và sáng tạo, chứ trách nhiệm dìu dắt thế hệ kế tiếp của người đi trước, nhất là trách nhiệm của những người cầm chịch VHNT thì đâu có chối bỏ được.
Cuộc hội nghị nào cũng thấy đề cập đến việc “không có tác phẩm đỉnh cao, tác phẩm chưa đúng tầm, thiếu hụt đội ngũ kế cận...”, văn học Tây Nguyên lại càng hụt hơi. Thiết nghĩ, đã đến lúc Hội nhà Văn VN, Hội VHNTDTTS VN nên kết hợp với các Hội VHNT địa phương Tây Nguyên, thậm chí cả miền Nam Trung bộ, những tỉnh có miền núi & dân tộc,xây dựng một chiến lược cụ thể & lâu dài về việc đặt hàng những tiểu thuyêt có nội dung cụ thể về Tây Nguyên và đào tạo đội ngũ tác giả văn học trẻ. Tại sao lại không nếu Trung Trung Đỉnh, Khuất Quang Thuỵ,Đỗ Kim Cuông, Cao Duy Sơn và ngay cả Thu Loan, Nguyễn Hoàng Thu hay một số tác giả khác trong khu vực nữa, lại không được đầu tư theo chiều sâu, để có thể tìm hiểu và viết về những đề tài Tây Nguyên mà xã hội đang quan tâm, như vừa nêu trên? Nhiều khi các anh chị nói những vấn đề ấy dễ hơn chúng tôi, là người “ trong cuộc” chăng?
Hoặc việc tuyển chọn từ các lớp năng khiếu hè của các Hội , cử tuyển vào lớp đại học tại Trường ĐH VHNT Quân Đội, hoặc lớp sáng tác như Hội Nhà văn vừa tổ chức, có chế độ hỗ trợ học phí đối với các em người dân tộc bản địa Tây Nguyên....
Tất nhiên nói thì dễ nhưng xây dựng hẳn chính sách thì chưa chắc đã dễ, nếu không có quyết tâm, Nhưng bây giờ vẫn chưa muộn.Ngoài việc mong sớm có chi hội các Nhà Văn Tây Nguyên & có sự phối hợp thường xuyên hơn giữa các Nhà văn Nam Trung bộ & Tây Nguyên để có điều kiện hỗ trợ nhau sáng tác, tôi đề nghị  :
Về tác phẩm :
- Các tác giả đã có vốn sống về Tây Nguyên nên đăng ký viết  tiểu thuyết. Còn hai Hội NV & Hội VNDT chọn đặt hàng đầu tư chiều sâu theo đề tài
- Hội Nhà Văn & Hội DTTS cũng nên giới thiệu tác giả, tác phẩm Tây Nguyên với văn học khu vực như đã làm với các dân tộc phía Bắc.Bởi chọn lựa kỹ thì cũng đâu đến nỗi không có tác phẩm tốt?
- Việc in ấn, xuất bản ở các Hội địa phương, ngoài qua các tạp chí, cũng nên lưu tâm nhiều hơn cho những tuyển tập, chí ít cũng là in chung.Mỗi năm một cuốn thơ, một cuốn văn xuôi có là quá khó không? ( Như Hội ĐL, có tiền tài trợ xuất bản, mà hết năm 2007 rồi vẫn chẳng có một tập sách về bất cứ thể loại nào được in ra, thì văn nghệ sỹ địa phương buồn đến mấy? Mà đã không có xuất bản thì lấy đâu để mà phê bình? )
Về phát triển đội ngũ tác giả trẻ :
- Năm 2008, Hội NVVN & Hội DTTS  phối hợp tổ chức một trại sáng tác trẻ cho khu vực phía nam nói chung, Nam Trung bộ & Tây Nguyên nói riêng tại Đà Lạt vào dịp hè. Ngoài một số tác giả đã định hình, nên mời thêm một số em người dân tộc đã qua các trại sáng tác của các Hội. Nên chọn tháng 8 ,là lúc các trường , kể cả ĐH đều được nghỉ hè.Hội VNDT lo nhân sự, Hội Nhà Văn chọn tác giả lão thành có hiểu biết, có tâm với Tây Nguyên đọc & hướng dẫn .Hai năm /lần. Hoặc luân phiên hai Hội mỗi năm /lần. Lo gì không có đội ngũ kế cận.
Tôi  không phải là người có tài năng, nhưng luôn luôn là một người đọc yêu văn chương, nên có quyền trông đợi ở những tác giả mà tôi tin cậy và quý mến chứ?Nhất lại là viết về quê hương tôi.Kon Tum may mắn có nhà văn Nguyên Ngọc, Gia Lai có Trung Trung Đỉnh.Những năm trước, tôi mải miết đi tìm những nhà văn đã từng có một thời chiến đấu ở Buôn Ma Thuột, để mời các anh về “đặt hàng”viết cho Đăk Lăk nhưng không có ai.Đã từng “điếu đóm” cho nhà văn Triệu Xuân đi thực tế để hy vọng, vậy mà vẫn phải chờ đợi. Nhưng không nên mất niềm tin, đúng không ? Độc giả chắc cũng kiên nhẫn mong chờ như tôi thôi.Mong sau hội nghị văn học Nam Trung bộ - Tây Nguyên,các tác giả có thêm nhiều động lực mới , cả điều kiện kinh tế nữa, để đi và viết về Tây Nguyên

Nếu như sau cách mạng Tháng 8, nghệ thuật dân gian Tây Nguyên làm một cuộc “ trình làng” rất ngoạn mục bằng dân ca, dân vũ...để rồi sau đó là nguồn cảm hứng vô tận cho giới nghệ thuật. Thì, mặc dù có một nền văn học dân gian truyền miệng độc đáo và vô cùng đồ sộ, những văn chương Tây Nguyên vẫn chỉ gần như một con số không.
Trước tiên xin hãy làm một cuộc “ điểm danh” nho nhỏ: nếu như trước năm 1975, chỉ mới có các nhà văn Vũ Hạnh, Nguyên Ngọc, Thu Bồn, Y Điêng Kpă Hô Di và tác giả một bút ký chiến trường là Nay Nô, bằng ngòi bút của mình, qua những trang viết, phác hoạ nên chân dung Tây Nguyên qua hai thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ; thì sau 1975, văn học Tây Nguyên là một mảnh đất hầu như trống vắng. Ngoài nhà Văn Y Điêng , sau đó chuyển về Khánh Hoà, cùng với tác giả Nay Nô hoàn toàn ngủ yên cho đến tận hôm nay, chỉ có sự xuất hiện ào ạt trên văn đàn một thời gian của tác giả Phạm Kim Anh, với những tiểu thuyết dày cộp về đời sống người dân tộc Mạ, mà trong quá trình là một chiến sỹ an ninh, ông có điều kiện tiếp cận sâu. Nhưng sau đó, vì nhiều lý do, lại hoàn toàn im hơi lặng tiếng, náu mình dưới bút danh khác để làm một soạn giả sân khấu ( ít người biết Phạm Kim Anh chính là tác giả kịch bản cải lương “ Mối tình qua tết Lirbooong” rất nổi một thời).Sau đó là Nguyễn Trần Thiết với những truyện ký về Phulrro rất được bạn đọc chú ý.Những năm giữa thế kỷ XX, các bút ký của Bùi Bình Thi, truyện & tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh, như những gạch nối khắc hoạ vào bức tranh văn học Tây Nguyên ,cho đến lúc này vẫn hoàn toàn mờ nhạt trên văn đàn chung.
Đội ngũ sáng tác văn học Tây Nguyên chỉ bắt đầu manh nha phát triển từ khi các Hội VHNT tại các tỉnh được thành lập, tập hợp anh chị em tác giả từ nhiều miền quê đến công tác và sinh sống tại TN , dần dà sau đó mới có một vài tác giả người bản địa.
Bằng năng khiếu cá nhân, với sự hỗ trợ ngày một tích cực của các Hội TW và địa phương,đến đầu thế kỷ XXI này bộ mặt văn học TN đã dần dần lộ diện, làm hiện lên có thể gọi là vóc dáng và diện mạo văn chương của một vùng đất không dễ lẫn.Tuy nhiên, cho đến tận hôm nay, ở mỗi tỉnh Tây Nguyên, đội ngũ những người thực sự là tác giả tạm gọi là tiêu biểu, vẫn chỉ đếm không đầy hai bàn tay. Tác giả văn học người các dân tộc bản địa lại càng ít ỏi.Bù lại, bạn yêu văn chương  trong vùng đã  chú ý đến  : thơ của Văn Công Hùng, Tạ Văn Sỹ, Lê Hữu Chỉnh, Phạm Doanh, Hương Đình,Văn Thảnh, Trần Duy Phiêm, Nguyễn Văn Tao....Văn xuôi của Thu Loan, Đinh Hữu Trường, Chử Anh Đào, Nguyễn Ngọc Hoà, Thu Loan, Phạm Văn Long, Đỗ Trọng Phụng...Một số tác giả đầu tiên trở thành hội viên Hội nhà Văn VN ( ngày nay là 11 hội viên) , ghi dấu cho sự trưởng thành của văn học từ miền cao nguyên đất đỏ.
Thế hệ tiếp theo đông đảo hơn, viết khoẻ và mãnh liệt nhưng vẫn không mất đi chất trữ tình vốn có của văn học, là các tác giả Lê Vĩnh Tài, Đinh Thị Như Thuý, Tôn Nữ Ngọc Hoa...Văn xuôi dù “ khó gặm” hơn, vẫn có những tác giả được giới chuyên môn và bạn đọc xung quanh biết đến, với những Nguyên Hương, Lê Khôi Nguyên, Hồng Chiến,Nguyễn Liên, Ngô Thị Thanh Vân,Nguyễn Thiện Đức ...
Đáng chú ý là với sự chăm lo của các Hội VHNT địa phương, một số nữ tác giả người dân tộc bản địa đã “trình làng” mỗi lúc một tự tin hơn như Kim Nhất, H’Linh Niê, Niê Thanh Mai ( văn xuôi), H’Trem Knul, Hoàng Thanh Hương ( thơ).Phía dưới miền Trung có thêm các anh chị Nga H’vê, Đinh Xăng Hiền, Hồ Chư...( người mất người còn vẫn chỉ đếm chưa hết hai bàn tay)....làm đa dạng hơn vườn văn Tây Nguyên.
Về thể loại, từ lúc chỉ có những tập thơ, tập truyện ngắn đến cuối thế kỷ XX, một số các trường ca của Nguyễn Hoàng Thu, Văn Công Hùng, Nguyễn Văn Tao, Lê Vĩnh Tài...tiểu thuyết của Thu Loan, Nguyễn Hoàng Thu, Lê Khôi Nguyên...mở rộng thêm không gian văn học và đời sống văn chương Tây Nguyên.
Tuy nhiên, điều đáng nói trước hết ở đây là nội dung và chủ đề tác phẩm của các tác giả TN. Mặc dù đã có hình hài và dáng vóc của cuộc sống vùng dân tộc, cao nguyên, nhưng vẫn nhạt nhoà và không mấy gây được sự chú ý. Phổ biến trong các tập thơ, tập truyện ngắn, và ngay cả tiểu thuyết của tác giả tại chỗ,Tây Nguyên chỉ được đề cập tới một cách rất ít ỏi. ( ví dụ như ¾ tiểu thuyết của hai tác giả Nguyễn Hoàng Thu & Thu Loan đã được xuất bản cũng là đề tài không dính dáng gì tới miền đất này). Một phần cũng do tình trạng chung về điều kiện in ấn xuất bản, phát hành và phổ biến của tác phẩm văn học ở khu vực ( có thể các anh chị đã viết, nhưng không có điều kiện in ấn), phần nữa cũng do các tác giả không có điều kiện lẫn kinh phí để đi thực tế thu thập tài liệu. Nhất là còn thiếu sự hiểu biết và né tránh những đề tài “nóng”, trong đó cũng phải nói đúng thực trạng là không với tới tầm.Có nghĩa là “ lực bất tòng tâm” (Điều này xin nói cho ngay cả chính tôi) . Đặc biệt là những vấn đề như lâm tặc phá rừng, cuộc chuyển cư của đồng bào các dân tộc phía bắc, vấn đề an ninh chính trị trên địa bàn,sự suy đồi của đạo đức xã hội trong thời buổi kinh tế thị trường có ảnh hưởng đến Tây Nguyên, miền núi không? Như thế nào? Ngay cả sự được mất trong cuộc sống hôm nay của đồng bào dân tộc thiểu số bản địa, mà với chức năng cảnh báo của văn học, lẽ ra phải được các nhà văn đề cập tới, thì hầu như không có.Những đề tài đó, chắc chắn sẽ không chỉ được bạn yêu văn học tìm đọc, mà còn là mối quan tâm của Đảng và Nhà nước để thông qua đó hiểu thêm về đời sống Tây Nguyên, mà hoạch định ra những chính sách, chủ trương nhằm giúp cho Tây Nguyên phát triển ổn định và bền vững. Hoặc giới thiệu ra văn đàn quốc tế ( trong khi người ta cứ đi tìm những cái gọi là “ kỳ thị dân tộc, kỳ thị tôn giáo lẫn mất nhân quyền ở vùng Tây Nguyên đó thôi) .
Rât nhiều đề tài “nóng” của xã hội đã được các nhà văn cả nước nhanh chóng cập nhật và đưa vào tác phẩm , nhưng ở Tây Nguyên thì hoàn toàn thiếu vắng.Những vấn đề môi trường mà Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Hoàng Thu, Nguyễn Văn Tao…đề cập tới trong các trường ca là một tín hiệu đáng mừng, nhưng thể loại văn học đó chưa mấy được đông đảo bạn đọc quan tâm cũng như khó mà  chuyển tải được sâu rộng như tiểu thuyết. Như thế đồng nghĩa với việc văn học Tây Nguyên hiện nay vừa ít lại vừa thiếu.
Vậy sự thiếu hụt đó của Tây Nguyên có là chậm chân quá không,nếu so sánh với bứơc tiến gần hơn là của văn học hiện tại cả nước, xa nữa là khu vực Đông Nam Á khi cứ quẩn quanh với những đề tài tình yêu,cái tôi, với nuối tiếc gì gì đó của một qúa khứ và một miền quê đã xa cách tới vài chục năm, mà lãng quên thực tại nóng hổi nơi mình đang sống? và đã đủ để được coi là mối quan tâm về một vùng văn học của Ban chấp hành chưa ?
Vấn đề thứ hai đáng quan tâm là việc bồi dưỡng đội ngũ sáng tác văn học kế cận, nhất là thế hệ 8-9X, hầu như chưa Hội TW và địa phương nào có chiến lược phát triển, chỉ để mặc cho sự tự phát của các tác giả, rồi ta “hái ngọn”.Đội ngũ các nhà văn người dân tộc thiểu số phía Nam, phía Bắc cũng chung tình trạng thế cả thôi. Nói vậy không có nghĩa là phủ nhận những cố gắng mở trại sáng tác của các Hội địa phương, nhưng để ươm gieo thì cần phải nâng niu chăm bẵm mới thành cây được, chứ cứ vãi hạt rồi để mặc nó , thì bao giờ mới có cây, có vườn ? nhất là đối tượng người dân tộc bản địa ? Chúng tôi có viết được gì cũng là từ sự động viên của  Hội Đăk Lăk những năm trước đây, khi thấy bắt đầu manh nha viết đấy chứ.Tôi lấy ví dụ em Hồng Nhật Rlan Yang người dân tộc Mnông ở Đăk Nông . Qua nhiều lần trại, đều được đánh giá là rất có triển vọng, nhưng làm gì để giúp em phát triển năng khiếu, thì hầu như chưa có ai đề cập tới, kể cả Hội Đăk Nông lẫn Đăk Lăk là nơi đã phát hiện và bồi dưỡng em. Có người nói văn nghệ sỹ phải cô đơn mới viết được. Nhưng cô đơn là trong tìm kiếm chủ đề và sáng tạo, chứ trách nhiệm dìu dắt thế hệ kế tiếp của người đi trước, nhất là trách nhiệm của những người cầm chịch VHNT thì đâu có chối bỏ được.
Cuộc hội nghị nào cũng thấy đề cập đến việc “không có tác phẩm đỉnh cao, tác phẩm chưa đúng tầm, thiếu hụt đội ngũ kế cận...”, văn học Tây Nguyên lại càng hụt hơi. Thiết nghĩ, đã đến lúc Hội nhà Văn VN, Hội VHNTDTTS VN nên kết hợp với các Hội VHNT địa phương Tây Nguyên, thậm chí cả miền Nam Trung bộ, những tỉnh có miền núi & dân tộc,xây dựng một chiến lược cụ thể & lâu dài về việc đặt hàng những tiểu thuyêt có nội dung cụ thể về Tây Nguyên và đào tạo đội ngũ tác giả văn học trẻ. Tại sao lại không nếu Trung Trung Đỉnh, Khuất Quang Thuỵ,Đỗ Kim Cuông, Cao Duy Sơn và ngay cả Thu Loan, Nguyễn Hoàng Thu hay một số tác giả khác trong khu vực nữa, lại không được đầu tư theo chiều sâu, để có thể tìm hiểu và viết về những đề tài Tây Nguyên mà xã hội đang quan tâm, như vừa nêu trên? Nhiều khi các anh chị nói những vấn đề ấy dễ hơn chúng tôi, là người “ trong cuộc” chăng?
Hoặc việc tuyển chọn từ các lớp năng khiếu hè của các Hội , cử tuyển vào lớp đại học tại Trường ĐH VHNT Quân Đội, hoặc lớp sáng tác như Hội Nhà văn vừa tổ chức, có chế độ hỗ trợ học phí đối với các em người dân tộc bản địa Tây Nguyên....
Tất nhiên nói thì dễ nhưng xây dựng hẳn chính sách thì chưa chắc đã dễ, nếu không có quyết tâm, Nhưng bây giờ vẫn chưa muộn.Ngoài việc mong sớm có chi hội các Nhà Văn Tây Nguyên & có sự phối hợp thường xuyên hơn giữa các Nhà văn Nam Trung bộ & Tây Nguyên để có điều kiện hỗ trợ nhau sáng tác, tôi đề nghị  :
Về tác phẩm :
- Các tác giả đã có vốn sống về Tây Nguyên nên đăng ký viết  tiểu thuyết. Còn hai Hội NV & Hội VNDT chọn đặt hàng đầu tư chiều sâu theo đề tài
- Hội Nhà Văn & Hội DTTS cũng nên giới thiệu tác giả, tác phẩm Tây Nguyên với văn học khu vực như đã làm với các dân tộc phía Bắc.Bởi chọn lựa kỹ thì cũng đâu đến nỗi không có tác phẩm tốt?
- Việc in ấn, xuất bản ở các Hội địa phương, ngoài qua các tạp chí, cũng nên lưu tâm nhiều hơn cho những tuyển tập, chí ít cũng là in chung.Mỗi năm một cuốn thơ, một cuốn văn xuôi có là quá khó không? ( Như Hội ĐL, có tiền tài trợ xuất bản, mà hết năm 2007 rồi vẫn chẳng có một tập sách về bất cứ thể loại nào được in ra, thì văn nghệ sỹ địa phương buồn đến mấy? Mà đã không có xuất bản thì lấy đâu để mà phê bình? )
Về phát triển đội ngũ tác giả trẻ :
- Năm 2008, Hội NVVN & Hội DTTS  phối hợp tổ chức một trại sáng tác trẻ cho khu vực phía nam nói chung, Nam Trung bộ & Tây Nguyên nói riêng tại Đà Lạt vào dịp hè. Ngoài một số tác giả đã định hình, nên mời thêm một số em người dân tộc đã qua các trại sáng tác của các Hội. Nên chọn tháng 8 ,là lúc các trường , kể cả ĐH đều được nghỉ hè.Hội VNDT lo nhân sự, Hội Nhà Văn chọn tác giả lão thành có hiểu biết, có tâm với Tây Nguyên đọc & hướng dẫn .Hai năm /lần. Hoặc luân phiên hai Hội mỗi năm /lần. Lo gì không có đội ngũ kế cận.
Tôi  không phải là người có tài năng, nhưng luôn luôn là một người đọc yêu văn chương, nên có quyền trông đợi ở những tác giả mà tôi tin cậy và quý mến chứ?Nhất lại là viết về quê hương tôi.Kon Tum may mắn có nhà văn Nguyên Ngọc, Gia Lai có Trung Trung Đỉnh.Những năm trước, tôi mải miết đi tìm những nhà văn đã từng có một thời chiến đấu ở Buôn Ma Thuột, để mời các anh về “đặt hàng”viết cho Đăk Lăk nhưng không có ai.Đã từng “điếu đóm” cho nhà văn Triệu Xuân đi thực tế để hy vọng, vậy mà vẫn phải chờ đợi. Nhưng không nên mất niềm tin, đúng không ? Độc giả chắc cũng kiên nhẫn mong chờ như tôi thôi.Mong sau hội nghị văn học Nam Trung bộ - Tây Nguyên,các tác giả có thêm nhiều động lực mới , cả điều kiện kinh tế nữa, để đi và viết về Tây Nguyên

 

Bình luận

Tin tức & sự kiện