Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

Nghe Y Điêng kể “ Chuyện bên bờ sông Hinh”

Được cập nhật bởi Admin ngày 2017-26-07

      Cũng là một người dân tộc thiểu số theo đuổi nghiệp cầm bút, nhưng biết mình lực bất tòng tâm, nên ngoài ngưỡng mộ các nghệ nhân kể trường ca, sử thi - loại “ tiểu thuyết” bằng thơ ca dân gian của Tây Nguyên, tôi còn rất kính nể những người thiểu số viết tiểu thuyết. Bởi học, nói và viết tiếng Việt đối với người dân tộc miền núi đã là đến với một thứ ngoại ngữ khác rồi, mà sáng tác văn học, lại thể loại nhiều vấn đề, nhiều nhân vật như tiểu thuyết nữa…sao  không  giỏi chứ? Thế nên khi tiểu thuyết Hơ Giang của nhà văn Y Điêng ra đời, tôi đã cố tìm đọc cho được. Sau này, nghe ông viết lại chuyện cổ “ ba anh em” thành tiểu thuyết, rồi lại được ông tặng cuốn tiểu thuyết thứ ba “ Chuyện bên bờ Sông Hinh”, thứ tư “ Trung đội người Bâhnar” tôi càng kính nể ông hơn. Nhất là cũng như mọi nhà văn người thiểu số khác, hoàn cảnh lẫn điều kiện kinh tế để tác giả hoàn thành tác phẩm dài hơi không phải là dễ dàng gì.

Dường như những trang viết của Y Điêng trải ra cùng sự lớn lên của chiếc mầm non biếc nảy ra từ những đốt sần trên thân cây, cho đến lúc thành rẫy mì xanh tốt, với mùa thu hoạch củ mập mạp ở vùng đất Hai Riêng. Nên từng trang, từng trang, thấm đẫm hồn thiêng đất trời quê ông.

Y Điêng yêu quê hương Sông Hinh của mình lắm lắm. Ông viết bút ký, làm thơ, viết truyện ngắn, rồi cả tiểu thuyết vẫn một chủ đề những đổi thay trên mảnh đất yêu thương ruột rà ấy của mình. Quê hương Sông Hinh của ông hiện lên rõ mồn một trong từng con chữ  “ Mặt nước hiền hậu, khắc nổi những đợt sóng, làm cho chiếc thuyền nan đưa khách đi ngang phải lắc lư, nước vỗ bì bõm…Những ngọn cây, chùm hoa không còn soi bóng mình nữa. Ngọn cây hết cúi xuống lại ngẩng lên, hoa cây su vàng tươi rơi lả tả xuống mặt nước”

Chuyện bên bờ Sông Hinh” kể về quá trình đến với Việt Minh, đến với cách mạng từ thời kháng chiến chống Pháp của các buôn làng, của hai dòng họ Ksơr và Niê người Êđê, bên bờ con Sông Hinh quê Y Điêng. Đặc biệt là con đường giác ngộ, từ khi còn là một chàng trai khoẻ làm rẫy, giỏi săn bắt, đánh cá cho đến lúc trở thành con chim đầu đàn của Việt Minh của Y Thoa. Chỉ vì yêu người con gái xinh đẹp nhất buôn thuộc dòng họ KSơr, mà Y Thoa bị chánh tổng Y Sô ( cũng thích gạ gẫm H’ Linh) đẩy vào tù. Ở đó anh đã may mắn gặp và được người cán bộ Việt Minh Trần Được mở rộng hiểu biết của mình, để chọn lấy con đường đi theo cách mạng.

Chuyện còn là của cộng đồng buôn Thu luôn gắn bó với nhau trong mọi vui buồn trong cuộc sống nơi núi rừng. Về những con người hiền lành, xinh đẹp, tốt bụng như mẹ con Amí H’Linh mà phải chịu nhiều oan ức; cũng hiền lành , tốt bụng nhưng chìm trong những tập tục lạc hậu cũ kỹ của tộc người từ ngàn xưa, nên vô tình gây ra nỗi thống khổ cho cả gia đình lẫn người khác, như anh em nhà già Ama Thin. Chuyện về Y Sô, kẻ ham giàu, đố kỵ, ngu muội làm tay sai cho Pháp, quay lại  gây chuyện xấu cho đồng tộc, thậm chí cả người cùng dòng họ như mẹ con Amí H’Linh và chia rẽ mối đoàn kết Kinh - Thượng.

“Chuyện bên bờ Sông Hinh” của Y Điêng còn kể với người đọc về những ngày đầu bỡ ngỡ tham gia chống càn, đánh Tây, đuổi Nhật của trai gái quê ông, mà phần nào, tuổi thanh niên hồn nhiên như suối như rừng của ông, chính là một trong những nhân chứng sống của giai đoạn lịch sử ấy. Tiểu thuyết khắc hoạ lại được con đường đến với Việt Minh, với cách mạng giải phóng dân tộc của người Êđê Sông Hinh nói riêng, các dân tộc ít người Tây Nguyên nói chung, tuy đơn giản nhưng đã trở thành sâu đậm và trung thành với lý tưởng; một trong những tác nhân quan trọng, góp phần làm nên thành công của cách mạng Việt Nam, từ những ngày đầu còn trong “ trứng nước”.

      Không chỉ bản thân tác giả đã từng lớn lên theo sự lớn mạnh từ ngày đầu của Mặt trận Việt Minh, hít thở và tắm mình trong không gian hồ hởi ban đầu và quyết liệt từng giai đoạn của cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nên nguồn tư liệu chiến tranh của Y Điêng hết sức dồi dào và sống động; mà ông còn đến với người đọc bằng cách kể chuyện giản dị, không trau chuốt về ngôn từ, không phức tạp hoá các mối quan hệ , mâu thuẫn; sử dụng lối nói, cách nghĩ và nhất là ảnh hưởng của lối kể phóng đại, nhân hóa, cặp đôi , so sánh, tượng hình, tượng thanh …của trường ca, sử thi Tây Nguyên ( như ông kể về ngọn gió Xiăng ở Sông Hinh : Gió thổi thẳng tuột từ tây xuống đông.Tưởng nó đi thẳng ai dè nó lại chia theo các con suối nhỏ…hò lên đồi tranh, làm cho cỏ tranh hết đứng lên lại nằm xuống , từng đợt sóng xanh nối tiếp nhau nhảy múa. Đột ngột nó lại quay về làng dìu dịu, lọt vào khe hở của phên nhà nghe như ai thổi sáo vi vu, như ai đánh đàn môi, rồi lại ào lên mái nhà reo vui ầm ầm, nâng tấm tranh lên soàn soạt. Gặp cây gạo, bụi tre cao, chao ôi chúng đạp ngọn cây ngả nghiêng. Khi ngả về bên trái, lúc nghiêng về bên phải, khi rạp xuống tận mặt đất quét ngang rồi lại bật lên. Cành lá đụng vào nhau xào xạc, cành gãy lá rụng bay đi như mùa bướm tìm hoa” – đoạn văn thật đẹp),  Y Điêng đã phần nào thành công với cuốn tiểu thuyết thứ ba Chuyện bên bờ Sông Hinh này.

Tuy nhiên, là người đọc ông khá nhiều, tôi có đôi điều băn khoăn. Đã từng là biên tập sáu thứ tiếng dân tộc Tây Nguyên trên sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam. Đã từng là thư ký riêng soạn thảo mọi văn bản phát biểu ý kiến cho Phó Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam Y Bih Aleo; không thể nói Y Điêng là người không nắm vững ngôn ngữ tiếng Việt. Các bút ký của ông sắc sảo, rành rọt về văn phong, sâu sắc về ý tứ bao nhiêu, thì tiểu thuyết của ông đôi chỗ lại trúc trắc, rối rắm đến khó hiểu bấy nhiêu. (Ví dụ như trường đoạn chánh tổng Y Sô bàn với già làng hòng lấy rượu thịt của buôn để cúng chiếc trống thiêng của nhà hắn, câu văn rất rối : “ Tôi mua cái trống này cũng không nghĩ như ý bà con vừa nói. Đã là cúng bảy con trâu với bảy ché rượu, tôi lo nhất là nhà chưa hề có một ché rượu. Dù thế nào đi nữa chủ nhà cũng có bảy ché rượu chính việc của tôi là chánh tổng, nếu là việc của Tây tôi có thể lo được”)

 Trong chỉ một cuốn tiểu thuyết “ Chuyện bên bờ Sông Hinh” đang được nói đến này,  có những đoạn, những câu văn khác nhau đến ngạc nhiên.  Tôi đã cố đọc ông bằng chính cách tư duy của người thiểu số, vậy mà đôi lúc vẫn không hiểu nổi.Ông cố tình viết như thế cho “ ra” phong cách riêng về cách nói, cách nghĩ và cách viết của người thiểu số?  Hay đây là lỗi của người biên tập? Lỗi của xử lý bản thảo? ( Như đoạn hai vợ chồng Y Thoa và H’ Linh đang ngồi nghỉ ăn trưa trên rẫy, H’Linh nghĩ về chồng “ Gió nhẹ lướt qua chòi làm cho chòm tóc quắn của H’Linh cứ lất phất bay. Hơ Linh đưa ngón tay ven lại. Cô hiểu người con trai Êđê kẹp tóc. Khuôn mặt không còn như trước đây” )…(?)

Tuy nhiên, dù đã được viết ra dưới hình thức nào đi nữa, Y Điêng , với sức sáng tạo và lao động miệt mài trên từng con chữ của ông, với ba tiêủ thuyết, năm tuyển tập truyện ngắn, bút ký và thơ, chưa kể những trường ca, chuyện cổ tích mà ông sưu tầm ( chắc chắn là chưa được xuất bản hết ), Y Điêng vẫn xứng đáng là cây đại thụ duy nhất trong khu “rừng văn học đại ngàn” các dân tộc ít người khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên đương đại. Nhà văn Mã A Lềnh, một trong những cây bút đầu tiên và không kém phần nổi tiếng, người dân tộc H’Mông, đã ví ông là “Solokhop của miền Sông Hinh”. Tôi vẫn luôn kính nể và yêu mến ông.

Hãy nghe Y Điêng  Kpă Hô Dí kể về “ Chuyện bên bờ Sông Hinh” quê hương ông và cảm nhận cùng tôi nhé.

 

 

Bình luận

Tin tức & sự kiện