Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

A Giói từng là trưởng làng

Được cập nhật bởi Admin ngày 2017-03-07

Làng Le ( xã Mo Ray, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum) , là nơi cư trú duy nhất của tộc người Rmam, một trong 05  tộc người có chưa tới 1.000 dân của Việt nam

 

          Cùng với 6 làng Jrai trong xã, sống gần như biệt lập giữa lõi Vườn Quốc gia Chư Mo Ray, từ sau ngày định cư 1976, bà con làng Le đã vượt qua nhiều khó khăn trong tập quán canh tác, sinh hoạt, để xây dựng một cuộc sống mới phát triển cả về kinh tế lẫn văn hóa xã hội. Trong thành công đó, có đóng góp không nhỏ của những người cựu chiến binh, đảng viên, là người Rmam. 

          Cuối năm 2016, tròn 60 tuổi, “ rửa tay gác kiếm” giao chức vụ trưởng làng lại cho lớp trẻ, nhưng trong tâm trí A Giói chưa bao giờ quên những năm tháng cả làng hết chạy đến hang động này, lại chuyển vào rừng nọ, để tránh bom đạn giặc . Rồi những ngày kiên nhẫn vận động dân xuống núi định cư. Bây giờ ngoài sản xuất, ông có thể ung dung ngồi uống trà, nhớ chuyện xưa, nói chuyện nay được rồi.

          Người Rmam từng đói khổ lắm. Hồi xưa có tới 12 làng, bị dịch bệnh chết hết còn lại hai làng Le và Mam. Sát nhập lại cùng nhau gọi là làng Le Mam. Ấy vậy mà trong kháng chiến chống Mỹ, người Rmam vẫn lập căn cứ giúp đỡ cách mạng ngay trong lòng rừng núi của mình đấy chứ.

Hồi ấy, căm tức với nỗi khổ vì giặc giã ném bom, càn quét, phải dời  làng liên miên, đến tuổi thành niên, A Giói cùng hàng loạt trai tráng như A Blong, A Tiết, A Reng…quyết nhập ngũ theo bộ đội đánh Mỹ. Quần nhau với giặc , lập nên các chiến công khắp núi rừng Đăk Tô, Sa Thầy… Sau 1975, hơn 20 người lính lần lượt cùng xuất ngũ về làng, với quyết tâm xây dựng kinh tế phát triển cho người Rmam. Nhưng dù cố mấy thì tập quán sản xuất tự cung tự cấp, chọc lỗ trỉa hạt lúa hạt bắp trên rẫy dựa hoàn toàn vào tự nhiên, vẫn mang nhiều rủi ro. Cái nghèo, cái đói cứ đeo đẳng người Rmam như chiếc gùi hàng ngày gắn chặt trên lưng người phụ nữ sớm chiều ra rẫy.

          Là một cựu chiến binh, được dân làng tín nhiệm bầu làm trưởng làng, giữ cả vai trò  bí thư chi bộ , đi đây đi đó  thấy cuộc sống các nơi đổi thay, A Giói suy nghĩ rất nhiều đêm. Lại gặp, trò chuyện  được với bộ đội binh đoàn 15 về Sa Thầy trồng cao su, làm ruộng nước. A Giói bàn với chi bộ “ xuống núi thôi. Đất đai dưới đó rộng thế. Kiếm chỗ đất bằng mình học người Kinh làm ruộng nước, cho bớt cái đói, cái nghèo đi có nên không?”. Ý là thế, nhưng đâu phải ai cũng tin ? Người Rmam mình sống hết đời này qua đời nọ ở lưng chừng núi ( trên cao là nơi ở của các vị thần. Dưới thấp là nơi  tụ lại của các  hồn ma. Mình xuống ở đâu được ?) Vận động nhiều không xong, năm 1976 , A Giói cùng 3 hộ cựu chiến binh đảng viên khác, quyết chuyển cư  xuống khỏi núi Chư Yang Sít để lập làng  mới. Mình đi bộ đội, được học tập lời Bác Hồ “ người đảng viên phải gương mẫu, đi trước dân, làm trước cho dân noi theo” . Sao lại không làm đi chứ?

                   Công việc đầu tiên là khai hoang làm ruộng. Đất mới, giống mới, chưa biết làm cách nào, vụ đầu tiên 3 sào lúa chỉ được vài bao. A Giói không nản. Thấy được việc làm thiết thực của A Giói trong việc vận động quần chúng, bộ đội binh đoàn 15 dã vào cuộc giúp các hộ khai hoang ruộng nước. Gia đình A Giói dần có được 3 ha trồng củ mì, hơn 3 ha lúa nước. Có tiền rồi, ông tiếp tục băng rừng, lội suối ( hồi đó làm gì có ô tô, xe máy như bây giờ) mua gà, heo, trâu giống về nuôi. Đất rộng, cỏ tốt, heo, gà, trâu lớn nhanh, béo mập và phát triển rất nhanh. Ông còn học hỏi cách làm chuồng nuôi heo, nuôi gà , cả trâu cũng có người chăn dắt, không thả rông như tập quán xưa nữa.  Suốt ngày vợ chồng con cái quần quật ngoài vườn, ngoài ruộng, bên cạnh chuồng heo. Lần  đầu tiên ông thu về  được cả vài trăm bao lúa vàng rực. Người trên núi xuống xem như không tin ở mắt mình. A Giói mang lúa gạo giúp bà con cứu đói, lại tiếp tục khuyên giải. Nhưng cái chính là từ lao động có tính toán, kết hợp cả chăn nuôi và trồng trọt, sau chỉ sau vài năm nhà A Giói khá lên trông thấy. Con cái đi học trường gần trong xã, trường xa tận Kon Tum ríu rít những nụ cười sáng láng.

Thế là cả tộc người RMam cùng kéo về dựng nhà,  trồng lúa nước, bắp, mì... Mô hình “làng mới” của A Giói thành công. Làng Le thuộc xã Mo Ray được thành lập từ đó. Hàng chục năm nay, nhờ nhận thêm khoán chăm sóc cao su của bộ đội , gia đình A Giói và một vài đảng viên như A Blong, Rchăm H’Loan…vẫn là những hộ có đời sống kinh tế bền vững nhất làng. Riêng A Giói thu nhập hàng năm lên tới 400 triệu đồng. Điều mà theo ông “ hồi xưa mình ở trên núi, có ngủ mơ cũng không thể thấy được như thế ”. Ông luôn sẵn lòng giúp đỡ bà con, không chỉ hỗ trợ những lúc giáp hạt, thất mùa, mà cả giống cây trồng, những kỹ thuật sản xuất, chăn nuôi mà mình học được.

          Mo Ray là xã biên giới, lại ở sâu trong rừng Quốc gia  Chư Mo Ray, không nhiều dân cư, nên  tín ngưỡng truyền thống vạn vật hữu linh vẫn còn được bảo lưu. Chi bộ của A Giói một mặt vẫn tuân thủ mọi tập quán xưa trong việc cưới hỏi, tang ma, cúng tế…của làng, một mặt động viên khuyến khích bà con theo sự kêu gọi của chính quyền, đổi thay nếp sống nhưng gìn giữ lại những tinh hoa trong vốn văn hóa truyền thống của người Rmam. Gia đình cựu chiến binh, đảng viên nào cũng còn lưu giữ từ 1 tới 2 bộ ching – guông  và những chiếc ché cổ. Những lễ thức truyền thống  vẫn theo tập quán cũ. Thấy vậy bà con trong làng cũng làm theo. Làng Le là nơi còn bảo lưu tới gần 100 bộ guông – ching cổ, mỗi khi có lễ hội, tiếng guông và vũ điệu suang  rộn rã khắp làng. Khiến con người càng gần gụi, thân thiết nhau hơn. Tập tục chôn chung một mộ cũng được dần dần từ bỏ. Chuyện đồn đại về “ người rừng không đuôi về làng bắt heo gà và 2 người ” tồn tại  từ mấy chục năm qua, cũng được ông lý giải một cách hợp lý rằng “ rừng yên tiếng bom đạn nên có nhiều loại thú lạ đến sinh sống. Những người mất tích có khi không thích ở cùng nữa nên bỏ đi mà không muốn cho ai biết, chứ không phải do người rừng bắt ăn thịt đâu ”….Khiến bà con yên tâm đi rừng, sản xuất.

            Từ thành công của A Giói và 3 đảng viên ban đầu, đời sống người Rmam làng Le ngày một đổi thay, những căn hộ khang trang mọc lên thay cho nhà sàn đã quá cũ, không có vật liệu thay thế.  Ánh điện thắp sáng mọi ngõ xóm, tiếng radio, tivi, máy nghe nhạc rộn ràng đêm đêm. Xe tải xanh, xe máy cày đỏ, xe máy vèo vèo chở nhau trên đường làng đã nhựa và bê tông hóa tất. 100 % trẻ con đến tuổi đều đi học, không còn suốt ngày theo cha mẹ lê la lên rẫy. Xã chỉ có đến trường cấp hai, một số cháu ra Kon Tum học lên cấp 3, học trung cấp, cao đẳng nghề.  Hiện làng có cả người làm Giám đốc Sở, người là Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự thành phố Kon Tum. Năm ngoái đã có thêm 2 cháu vào đại học.

 Làng Le vẫn còn hộ nghèo, hộ đói, nhưng thật sự đã thay hình đổi dạng rồi. Trong đó có sự đóng góp không nhỏ của các cựu chiến binh, Đảng viên đã nghỉ hưu nhưng vẫn là những ngọn lửa sáng rừng đại ngàn.  

Cũng như A Giói, hơn 20 đảng viên và các thành viên của Chi hội Cựu chiến binh làng Le, với quyết tâm xây dựng quê hương phát triển bền vững, tuy tuổi đã cao và vẫn phải còn vất vả với nắng mưa để lao động sản xuất, nhưng luôn là một tập thể đoàn kết, đi đầu trong mọi phong trào vận động quần chúng, để làm gương cho lớp trẻ noi theo. 

Bình luận

Tin tức & sự kiện