Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

Chị ấy xứng đáng được gọi là biên đạo múa

Được cập nhật bởi Admin ngày 2017-24-06

Đêm 15 tháng 5 năm 1975. Đoàn Ca múa Tây Nguyên về đến Buôn Ma Thuột. Sau một vài đêm diễn, được nghỉ một ngày trước khi di chuyển sang tỉnh Gia Lai – Kon Tum, một số anh chị em diễn viên trẻ vừa mới tuyển vài ngày ở đoàn Văn công Đăk lăk, đến chơi  tại khách sạn Hoàng Gia cũ ( Nay là trụ sở Hội VHNT Đăk Lăk), mới biết trưởng đoàn là nhạc sỹ Kpă Púi, phó đoàn nhạc sỹ Ama Nô và biên đạo múa có chị Siu Lai, vợ anh. Nhưng ngày ấy chúng tôi chưa  có dịp gặp nhau.

                                       

Vợ chồng nghệ sỹ Siu Lai ở Tây Nguyên năm 1973

Năm 1977,  tôi đang học đại học thanh nhạc ở Nhạc viện Hà Nội, nghỉ hè về thăm ba mẹ và các em ở Buôn Ma Thuột. Ba chúng tôi là người rất yêu thích văn nghệ, có giọng hát hay, hay hát, nên có lần đưa tôi cùng đi dự một đêm biểu diễn của Đoàn ca múa Đăk Lăk phục vụ Ủy ban tỉnh. Đó là lần đầu tiên  được xem các tiết mục múa “Kon Tuor, Cư Ka Dăm Dra, Dra Yú…” đậm tính chất trữ tình của âm nhạc và sự uyển chuyển của múa dân gian Ê Đê, Jrai, với cái tên đã từng được nghe “ dàn dựng Siu Lai”. 

Biết tôi nghỉ ở nhà tới 2 tháng, nhạc sỹ Kpă Púi  và nhạc sỹ Ama Nô cho người tới mời tập huấn thanh nhạc cho những ca sỹ của đoàn, chưa bao giờ được làm quen với kỹ thuật ca hát ( các bạn được tuyển vào đoàn tháng 4 năm 1975, nghĩa là chỉ một tháng sau ngày giải phóng Buôn Ma Thuột). Mạnh Trí, Quỳnh Như, Mỹ Lệ, Y Moan…những học trò đầu tiên của đoàn ngày ấy. Chúng tôi gắn bó với mọi người cũng từ đó. Và cũng dần thân thiện với vợ chồng nhạc sỹ Ama Nô – Siu Lai. Từ tình đồng nghiệp cũng có, mà tình cảm bạn bè cũng có.

Chúng tôi thật sự ngưỡng mộ hai vợ chồng anh chị, bởi hoàn toàn bản năng, mà âm nhạc và múa của họ biểu diễn tung hoành suốt trên chiến trường Tây Nguyên và Đông Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ hàng mấy chục năm trời. Ở đâu cũng được bộ đội và nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh. Kịch mục múa của đoàn gần như đều do chị Siu Lai dàn dựng. Chất nhạc Jrai vô cùng quyến rũ với những quãng hai thứ đầy âm hưởng trữ tình dường như chảy tràn trên sân khấu. Nhạc sỹ Ama Nô còn khéo léo lồng vào những đoạn lời hát dân ca Jrai nguyên bản, khiến cho âm nhạc trở nên khác lạ, lung linh hơn đối với tâm hồn người nghe. Trong các tiết mục múa, có thể bắt gặp tất cả những chất liệu gần như nguyên gốc của những động tác cơ bản dân gian Jrai, mà tôi đã từng say mê xem các bạn luyện tập ở Xuân Phú ngày nào, (khi đạo diễn Đinh Long Ta rời đoàn Ca múa Tây Nguyên về Đăk Lăk, mới sửa chữa và nâng cao Cư Ka Dăm dra lên đôi chút và mang đi Hội diễn 1979 đạt Huy chương vàng).

Được tuyển vào văn công Gia Lai – Kon Tum từ năm 13 tuổi. Cô thiếu nữ Jrai xinh đẹp với bản năng múa nổi trội, nhanh chóng trở thành diễn viên múa chính của đội. Bàn chân lọt thỏm trong đôi dép cao su đưa cô đi khắp chiến trường, từ ngọn nguồn sông Ba tới chân núi Kon Ka Kinh, Ngok Linh, tới cả bạt ngàn rừng cao su Tây Ninh . Da nâu, mắt sáng, dáng vóc cao ráo, mảnh mai. Nồng nhiệt và uyển chuyển trong vũ đạo, cô gái làm say lòng bao nhiêu chiến sỹ. Trong đó có cả người nhạc sỹ trưởng đoàn. Những điệu suang như mnga hla, tap mniê….các bà, các chị múa trong lễ hội ở buôn làng ngày nào, như sống lại trong tâm hồn mơ mộng của cô chiến sỹ - nghệ sỹ trẻ. Nhờ sự động viên của Rmah Dơng, Siu Lai mạnh dạn dàn dựng múa. Niềm hạnh phúc của một thiếu nữ dân tộc vốn chỉ quen với rừng suối, rẫy nương, nay được hát múa một cách tự nhiên  trước con mắt bao nhiêu chàng lính trẻ và tình yêu đối với nghệ thuật, với người nhạc sỹ cũng rất trẻ có giọng hát truyền cảm, là niềm cảm hứng cho tâm hồn chị thăng hoa.

Múa tập thể nữ “ Tông ching”, múa tập thể nam nữ “Cư ka dăm dra” phát triển từ dân vũ Jrai, múa đôi nam nữ “  Vui gặp gỡ” về tình cảm bộ đội và thiếu nữ Tây Nguyên, hoạt cảnh múa “ Du kích chống càn” là hình ảnh buôn làng Tây Nguyên tham gia cắm chông chống giặc… lần lượt được dàn dựng và chính chị tham gia biểu diễn vai chính suốt cho đến tận năm 1975.

Sau chuyến đi miền Đông Nam Bộ ( 1967) trở về Siu Lai từ giã đội văn công Gia Lai- Kon Tum, để ở lại với đội B5 của tỉnh Đăk lăk, kết hôn với người nhạc sỹ tài hoa Rmah Dơng. Nhờ thời gian tập huấn ở căn cứ Tây Ninh, chị thêm vững tin ở mình, dựng lại một vài tiết mục được xem các đội bạn ở Trung ương Cục biểu diễn, như múa “ Múa dù, Hái chè bắt bướm, Tiếng chày trên sóc Bom Bo…” làm cho chương trình biểu diễn của đội luôn luôn sinh động, đa dạng, mới mẻ và tươi trẻ.

Sau ngày thống nhất đất nước, Siu Lai còn công tác ở đoàn Văn công Đăk lăk một vài năm nữa. Rồi tự thấy mình không theo kịp những trào lưu nghệ thuật mới,  toàn thể số diễn viên của những ngày chống Mỹ tự nguyện chuyển sang công tác ở ngành khác. Riêng Siu Lai bàn với chồng để một mình anh tiếp tục công việc ở Phòng nghiệp vụ Ty văn hóa, còn chị, nghỉ hẳn. Không trở về quê hương Gia Lai. Mua rẻ một miếng rẫy bên bờ suối ở ven thành phố Buôn Ma Thuột, nơi anh chị đã gắn bó suốt một thời hoa lửa, chị vui vẻ bắt đầu với cuộc đời của một thảo dân, khi tuổi mới vừa 28. Không một chút oán hờn, không một lời thở than, cũng chẳng Huân chương huy chương gì, 40 năm qua, Siu Lai nhẫn nại với vườn cà phê nhỏ ven suối, đàn bò vàng, bày dê trắng…như một nông dân đích thực. Ấy vậy mà khi nhắc tới những kỷ niệm xưa về múa, ánh mắt chị rực sáng, giọng nói sôi nổi hẳn lên. Quá khứ của một thời tuổi trẻ không kém hào hùng trên những nẻo đường nhảy múa hát ca phục vụ chiến trường chưa bao giờ phai mờ trong tâm hồn chị.

15 năm gắn bó với sân khấu dã chiến ở khắp chiến trường Tây Nguyên, múa say mê giữa bom đạn, Siu Lai xứng đáng được gọi là một biên đạo múa, một Nghệ sỹ - Chiến sỹ đích thực.

 

 

Bình luận

Tin tức & sự kiện