Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

Chim Ta Lố của núi rừng Hrê

Được cập nhật bởi Admin ngày 2017-02-06

      

                Con chim Ta Lố của vùng người Hrê rất hay xuất hiện trong tác phẩm của chị Nga Ri Vê. Tôi chưa từng được nghe tiếng hót của chim Ta Lố, cũng không biết nó tương tự hay là con chim gì trong tiếng Việt. ( Chị bảo “ Chim Ta lố tiếng ngân vang, hay hót vào buổi sáng sớm” ). Nhưng tôi thích ví văn, thơ của chị Nga Ri Vê như tiếng con chim Ta Lố ấy, rất quen thuộc với người Hrê, và không dễ lẫn trong tiếng hót của hàng ngàn loại chim khác của núi rừng. 

Có một lần ngủ chung phòng với chị tại Hà Nội, nhân một kỳ họp gì đó của Hội văn nghệ dân tộc, gần những ngày cuối cùng, chị mới rụt rè bảo tôi :

-          Em đọc thử cái này của chị xem

Cứ nghĩ là bài thơ Nga Ri Vê mới làm, vì lâu lâu tôi hay hỏi đọc, để xem có bài gì hợp tâm trạng mình mà phổ nhạc không, đâu ngờ chị đưa cho đọc một bài tản văn.

Thường, khi học phổ thông ở trường dân tộc nội trú như chúng tôi ( hồi đó còn gọi là Trường học sinh miền Nam số 5, sau này mới gộp tất cả trong Trường cán bộ dân tộc miền Nam),giỏi hoặc thích môn gì, sau này vào đại học các thày cô hay hướng mình vào ngành đó. Nga Ri vê và tôi đều đã từng tham gia thi học sinh giỏi văn của trường, nên sau khi học xong lớp 10, chị đi đại học sư phạm văn, rồi làm thơ, cũng là điều dễ hiểu. Tuy biết nhau nhiều năm, nhưng tôi chưa thấy chị viết văn xuôi bao giờ.

Tản văn chị đưa tôi đọc hôm đó khá đặc biệt. Nội dung chỉ là sự tự trấn an mình về những gì không vui, không thuận thảo đã gặp trong cuộc sống, nhưng rất khúc triết tư duy và câu cú ( vì thế mà chị e ngại khi đưa tôi đọc). Biết chị quả thực gặp nhiều “ sự cố” nếu không muốn nói là bất hạnh về đời sống tình cảm, nên có gì u ẩn cũng không lạ, nhưng tôi không ngờ suy nghĩ của chị lại rất lạc quan. Có lẽ chính vì tư tưởng lạc quan ấy, mà đang làm hiệu trưởng trường dân tộc nội trú cấp ba của tỉnh ở thị xã ( Lúc đó Quảng Ngãi chưa được gọi là thành phố), chị xin về làm hiệu trưởng cũng một trường dân tộc nội trú, nhưng lại là cấp hai, ở một huyện miền núi. Chị đơn giản trả lời những ai hỏi , rằng “ quê mình khó khăn, không về đó thì ai về?” .Thú vị với cách viết, cách nghĩ của chị, tôi hết lời động viên chị nên mạnh dạn tiếp tục viết văn xuôi đi.

 Bẵng đi vài năm , không thấy chị nói gì, thơ thì vẫn cứ đều đều. Mãi cho tới cuối năm 2010, chị gửi cho tôi gần như toàn bộ những sáng tác của mình : bốn tập truyện cổ chị sưu tầm và viết lại, năm tập thơ, và đặc biệt hơn, là một tập  truyện – ký còn thơm mùi mực in “ Người kể Mon  ”

                Tập văn xuôi của Nga Ri Vê có 18 truyện ngắn và bút ký. Dài nhất là truyện Kây AXót, chị viết ở Trại sáng tác tại Buôn Ma Thuột, đã từng được chị kể đến khi tự bạch đời văn của mình, còn lại đều là những truyện và bài viết ngắn. Nội dung kể về con người và những đổi thay của cuộc sống trên quê hương Quảng Ngãi của tác giả. Họ là những thanh niên nam nữ người dân tộc HRê, Ka Dong như Kây A Xot, Y Mai,Lê Văn Đường vật vã hay vô tư dấn với cuộc đổi đời;  là người nghệ nhân già Phạm Văn Hêng đau đáu với việc gìn giữ vốn văn hoá truyền thống của tộc người;là những cô giáo, thày giáo như Y Sao một lòng vì học sinh miền núi, dân tộc; là những miền đất mà cái tên đọc lên nghe đã thấy xa xôi như Xa Ruông, Linh Mo, Ka Mua….đang từng ngày xoá bỏ những cái lạc hậu cũ để đổi thay. Tâm hồn người trí thức dân tộc trong chị dường như phơi phới lên với cuộc sống mới đang diễn ra mọi lúc, mọi nơi, quặn thắt với cảnh ngộ của mỗi em bé, mỗi người phụ nữ chưa thoát khỏi hủ tục cũ.

                Chuyện “Kây Axót” xuyên suốt cuộc đời một già làng người dân tộc Ka Dong, từ khi còn trai tráng đến khi theo ông bà về cõi mang lung, bị những tập tục cũ của plây ràng buộc, mà cuộc sống không được hoàn toàn như chí trai mong muốn. Rất nhiều phong tục, tập quán lẫn những lời nói vần dân gian Ka Dong được chị vận dụng để chuyển tải nội dung chuyện này. Đây cũng có thể coi là một trong những thành công trong văn xuôi của Nga Ri Vê.

                “Sang Điêng” lại là câu chuyện về một cậu bé mồ côi sống trong sự đùm bọc của plây và cô giáo mà trưởng thành. Toàn bộ câu chuyện toát lên vẻ đẹp không chỉ của thiên nhiên, mà còn của tập quán ràng buộc cộng đồng một cách tự nguyện, trong đời sống người dân tộc miền núi.

      “Dang dở Chuyện của Y Mai”   là hai chuyện tình lãng mạn và thủy chung của Hoài Hương và Y Loan với những người thày giáo - liệt sỹ. …

                Đó có thể được coi là năm truyện ngắn. Những bài viết còn lại là các  bút ký hay chỉ là những bài báo về những con người, những miền đất, những sự việc buồn vui mà tác giả gặp trên con đường sưu tầm chuyện cổ miền núi Quảng Ngãi của chị, như  : “ Người kể Mon, Quê chồng, Ký ức mùa xuân, Có một thôn Gò Chè như thế, Người con gái núi Ka Mua…

                Như đã nói ở trên, là một cô giáo dạy văn cấp ba, Nga Ri Vê có điều kiện được tiếp xúc với đầy đủ các tác giả và tác phẩm văn học nổi tiếng trong nước và thế giới, qua suốt mười năm học phổ thông và bốn năm đại học. Chính vì vậy mà chị không mắc những lỗi sơ đẳng mà người cầm bút dân tộc thiểu số thường hay mắc, đó là lúng túng với các dấu chấm, phảy và cách hành văn. Cũng do đó mà câu chữ luôn luôn đúng văn phạm, gọn gàng, khúc triết, thậm chí còn có phần trau chuốt. Bút ký của chị cũng nhờ đó mà đẹp hơn, có văn, có hồn hơn

 Dường như con mắt của nhà thơ nhìn đâu cũng thấy…thơ, nên hình ảnh quê hương Quảng Ngãi, và nhất là những vùng quê người Hrê, người Ka Dong hiện lên trong tác phẩm của chị đều thật đẹp, như  “ Con suối Huy Măng thức giấc. Rì rào róc rách, giăng đầy sương rơi. Plây Huy Măng hiện dần trong sương mờ, hồng hào bên con suối xanh biếc” . Làng xóm của người Hrê hiện ra thật gần gũi, thanh bình “ Con chim Ta Lố cần mẫn gõ những nốt nhạc dồn dập , gấp gáp. Tiếng gà gần, tiếng gà xa, rắc lên không gian im ắng, thanh bình  những điệp khúc muôn thuở của bình minh…bếp nào cũng đỏ lửa”…Lũ con jêng ( con gái) , xăng éo ( con trai) quê chị đẹp như những sơn nữ trong trang phục truyền thống “ Cổ lấp lánh chiếc kiềng đồng, cùng sắc màu xanh đỏ trắng vàng của những chuỗi cườm nhỏ đeo dài xuống bụng và cuốn quanh lưng, thòng ngang hông. Những chiếc kaning lục lạc dắt quanh mình, váy thổ cẩm và khăn đội đầu tua rua sợi chỉ đỏ…” . Có yêu lắm người ta mới nhìn ra vẻ đẹp mặn mà như muối mỏ ấy. Ngòi bút của chị càng tung tẩy hơn khi dịch và viết lại rất nhiều các câu chuyện cổ tích Hrê, Ka Dong, Cor …mà chị sưu tầm được.

                Cũng vì yêu, mà những câu chuyện chị kể, hầu hết là những người tốt, việc tốt, sự đổi thay tốt đẹp của miền núi. Có một vài chuyện tiêu cực, thì cái xót xa trong tâm hồn chị lại khiến người đọc không khỏi bùi ngùi, tiếc nuối cùng tác giả.

                Ai đó nói “ văn là người”  có lẽ đúng với trường hợp của Nga Ri Vê. Nếu trong thơ có đôi lúc chị bộc lộ sự mãnh liệt của một tâm hồn khao khát yêu thương , hay nói cách khác của một cô giáo dạy văn lãng mạn, thì trong tất cả tác phẩm văn xuôi của chị, cái chân chất, hồn hậu , hiền lành của bản tính thường ngày ở chị, lại như toát lên rất rõ.

                Truyện hay ký của chị nhiều hình ảnh rất đẹp về  các miền quê,  rất chân thật khi khắc hoạ chân dung và tính cách con người. Chính vì vậy mà khoảng cách giữa truyện và ký rất gần nhau. Dường như tất cả đều là những câu chuyện thật, người  thật mà tác giả gặp trong cuộc sống, chị chỉ dặm thêm đôi chút hình ảnh, đặc biệt là phong tục tập quán cho câu chuyện phong phú và dài hơn đôi chút, chứ chưa hề “ dựng chuyện” . Phong tục tập quán của các tộc người Hrê, Ka Dong, Cor …vùng miền núi Quảng Ngãi, cũng chính là yếu tố để phân biệt giữa truyện và ký của Nga Ri Vê. Đọc những truyện ngắn này, có thể hình dung thấy đời sống cộng đồng vui buồn có nhau ( “mọi người tập trung lại, yên lặng, trân trọng, không ai được vắng mặt, không ai thờ ơ”- Sang Điêng), tục tang ma của người Ka Dong ( “ không dùng quan tài mà lấy vỏ cây ahlôi quấn thi hài người chết lại, rồi dùng chiếu tự dệt , lấy dây rừng buộc chặt rồi mới khiêng đi chôn”. Chia của cho người chết là phụ nữ váy áo, chuỗi cườm đều không được dùng màu đỏ …Chuyện Kây A Xót), hay cưới hỏi ( vợ chồng “ không mời nhau trầu cau, vì trong trầu cau có chất bạc của vôi, có chất cay của trầu. Cũng không mời nhau li rượu, vì trong rượu có men say làm rối cái đầu, làm xấu cái bụng, sợ cãi nhau, bỏ nhau” – Sang Điêng). Công việc sưu tầm chuyện cổ cũng giúp chị vận dụng được  nghệ thuật đối xứng, biền ngẫu thường phổ biến trong văn học truyền miệng Tây Nguyên, như cách nói ví von, so sánh “ nó như con gà tơ còn núp trong đôi cánh mẹ , như con chim non đói khát chờ mẹ đi kiếm mồi về mớm cho ăn” ( Sang Điêng). Hoặc “ tôi ngó lên trời, mây bàng bạc buông trôi. Tôi ngó lên núi, núi vẫn dáng voi phục, hổ ngồi. Tôi ngó vào anh, tôi thấy anh nhìn vào tôi . Thôi vậy, anh cứ làm hạt mầm, tôi làm giọt mưa”…( Chuyện người kể mon) …vv..

Tuy nhiên, đây cũng là một trong những nhược điểm của Nga Ri Vê : đam mê quá mà trích dẫn phong tục, lời nói vần dày đặc, làm loãng đi nội dung cốt truyện, thậm chí có những đoạn không cần phải trích dài lê thê đến thế ( Chuyện Kây A Xot) . Đấy cũng là một trong những yếu điểm của một vài người cầm bút ở Tây Nguyên ( ngay kể cả nhà văn Nguyên Ngọc cũng không tiết chế được việc đưa các phong tục, tập quán vào  trong bộ phim dựa trên tác phẩm nối tiếng quen thuộc “ Đất nước đứng lên” đó thôi ).

Nga Ri Vê còn bị “ám ảnh” bởi văn học dân tộc thiểu số miền núi phía bắc mà chị được tiếp thu trong suốt quá trình học từ phổ thông lên đại học ( quả thật là văn học Tây Nguyên được trích giảng rất ít), nên sử dụng cả lối nói của người dân tộc phía Bắc trong khá nhiều trang viết ( như “ mẹ có đau cũng ráng đi làm cái nương, cái rẫy để có cái ăn nuôi con khôn lớn. Cho con đi học để có cái chữ làm khôn cái đầu con” – Sang Điêng ), một lối nói hoàn toàn xa lạ đối với ngôn từ các dân tộc ít người ở Trường Sơn – Tây Nguyên. Cũng từ thế mạnh về học vấn đó, mà đôi khi trong các chuyện ngắn, chị sử dụng lối nói, lối nghĩ không phù hợp với nhân vật là người dân tộc vùng xa, vùng sâu miền núi, như khi nói đến việc cả làng chung lo tang lễ , chị dùng các cụm từ “ bà con tập trung lại, trân trọng trước linh hồn người chết” . Hoặc như “ các biến cố trong gia đình A Xot đã qua, nhưng sự sa sút của gia đình cả về tinh thần và vật chất thì mãi mãi còn lại. Không những thế mỗi ngày một bành trướng ra” ( Kây A Xot) ….

Cũng như nhiều người dân tộc thiểu số viết văn xuôi, truyện của Nga Ri Vê không có nhiều mâu thuẫn, nhân vật  không có diễn biến tâm lý phức tạp, mọi việc đơn giản đúng như lối nghĩ, lối nói của người miền núi. Nên nhiều khi không tạo được sự dồn nén. Những bút ký của chị là người thật, việc thật ở những vùng mà bước chân chị đã từng đi và  đến, lại càng phản ánh đúng tâm hồn chân chất, nhuần nhị của của không chỉ tộc người mà của cả Nga Ri Vê.

Tiếc rằng Nga Ri Vê nồng nàn, sáng tạo trong thơ bao nhiêu, thì trong văn xuôi chị lại rụt rè, thiếu tự tin mà trở nên có phần khô cứng bấy nhiêu trong việc “ dựng chuyện” . Không  chuyên sâu, cũng như ít có dịp được trao đổi với đồng nghiệp về cách viết, hay chí ít được tham dự một khoá tập huấn về văn xuôi nào đó, nên mảng văn xuôi Nga Ri Vê không mấy đậm nét. Giá có nhiều điều kiện và bớt tự ti hơn, tôi không chỉ mong mà còn tin, chị có thể trở thành một cây bút đa dạng cả thơ và văn của các dân tộc thiểu số Trường Sơn – Tây Nguyên. Và chắc cũng như thơ, giọng hót của con chim Ta Lố rừng Quảng Ngãi sẽ rất riêng, bởi được uống nước suối nguồn, tắm trong gió hoang, khoác tấm áo nắng ban mai, ăn hạt lúa, hạt bắp từ mảnh rẫy của  tộc  người mình mà cất cánh bay lên và hót chơi.

 

 

 

Bình luận

Tin tức & sự kiện