Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Những ca khúc viết về Tây Nguyên của Nhạc sỹ Nguyễn Cường

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-14-12

             Trước tiên nói đôi điều về dân ca Tây Nguyên. Dân ca các tộc người thiểu số bản địa tây Nguyên hầu hết đều có hai lối hát nói tự sự và hát có nhịp điệu. Cũng có các tộc người chỉ có lối hát nói như Mnông, K’Ho, Lạch…Từ khi xuất hiện tại miền Bắc năm 1955, dân ca Tây Nguyên đã chiếm được cảm tình của cả các nhạc sỹ lẫn bạn yêu nhạc.  Rất nhiều những bài hát viết trên chất liệu dân ca Tây Nguyên xanh mãi theo thời gian như Cô gái vót chông, Ca ngợi anh hùng Núp, Bác Hồ sống mãi với Tây Nguyên, Em là hoa Plang…Tuy nhiên, cho đến tận 1982, thậm chí đến hiện nay, các tác giả viết về Tây Nguyên đều chỉ lấy chất liệu từ âm hưởng dân ca Jrai, Bâhnar với thang âm ngũ cung và những quãng 2 thứ đặc trưng đã trở thành quen thuộc ( gần như là kinh điển). Dân ca Ê Đê  không mấy ai để ý, bởi số lượng quá ít ỏi so với nhiều các bài dân ca Jrai, Bâhnar mang âm điệu trữ tình rất đẹp được giới thiệu.

Trước khi đến Tây Nguyên năm 1982, Nhạc sỹ Nguyễn Cường đã có một vài ca khúc được nhiều người biết đến như “ Hò biển, Nghe em câu hát văn mùa xuân…”. Ông có cả ca khúc đầu tay “ Mang thư cho chú giải phóng quân” viết về Tây Nguyên cũng mang âm hưởng Jrai, không được chú ý. Nhưng ông chỉ thật sự “ nổi như cồn” sau ngày đến Đăk Lăk. Từ đó, hơn 35 năm qua, ông gắn bó với các tỉnh Tây Nguyên và có nhiều sáng tác trên âm hưởng dân ca . Nhiều nhất và thành công nhất  là những sáng tác trên chất liệu dân gian Ê Đê. Xin được nói đôi lời về một vài ca khúc  Tây Nguyên của ông.

      Những ngày ở Buôn Ma Thuột, phát hiện ra các đặc trưng riêng ẩn chứa trong dân ca Ê Đê với hai làn điệu chủ yếu K’ưt và Arei, khác hẳn với dân ca Jrai và Bâhnar vì không có điệu thức thứ mà chỉ thỉnh thoảng ly điệu sang một quãng 2 để làm cho giai điệu phong phú thêm mà thôi; nhất là đặc tính sôi nổi của điệu hát Arei, cũng như tiết tấu allegro vivace liên tục của dàn ching knah. Hàng loạt ca khúc viết từ chất liệu dân ca Ê Đê với nhịp điệu sôi động của Nguyễn Cường, ra đời tính theo thời gian, như :  H’Zen lên rẫy, Ơi M’Drăk, Thênh thênh oh ơi, Ly cà phê Ban Mê, Anh muốn sống bên em trọn đời, Còn thương nhau thì về Buôn Ma Thuột… ngay lập tức được phổ biến và lan tỏa trong cả nước. Hay Tango Ê Đê, Xôn xang mênh mang cao nguyên Đăk lăk…đến nay các bạn trẻ Đăk lak vẫn hát.  Sự lan tỏa của các ca khúc này trong bạn yêu nhạc cả nước có lẽ không cần nói nhiều, khi xuất hiện với tần suất rất cao trong nhiều cuộc thi hát chuyên nghiệp và không chuyên trong cả nước. Thậm chí từng là sự lựa chọn của một vài ca sỹ trong các album riêng. Một ca khúc được phổ biến và tồn tại với tháng năm tất nhiên phải là bài hát hay, mới lạ, phù hợp với thị hiếu đông đảo bạn yêu nhạc. Đó chính là điều Nguyễn Cường đã làm được.

Nếu ở H’Zen lên rẫy, đường nét bài dân ca Ê Đê Chi riria chỉ xuất hiện đôi chút ở đoạn điệp khúc cuối “ chi ri ra buôn ya buôn prong, chi ri ria lalala” , để cho sau này “Ly cà phê Ban Mê và Anh muốn sống bên em trọn đời” cũng cùng một kiểu tiến hành giai điệu tiết kiệm chất liệu tương tự. Thì chính Nguyễn Cường cũng khẳng định ông sử dụng hoàn toàn 2 làn điệu dân ca nguyên gốc, điệu hát K’ưt tự sự mênh mông dàn trải cho ca khúc “Ơi M’Drăk” và nhịp điệu hát đối đáp Arei rộn ràng cho ca khúc “Còn thương nhau thì về Buôn Ma Thuột”. Cái khéo của người nhạc sỹ không chỉ ở phần lời mang đầy chất thơ trên cái nền  recitativ dân ca nguyên gốc ấy, rằng “ nơi đây thảo nguyên từng đàn bò đùa nắng tung tăng mặt trời, xa xăm ngọn Cư Pâng, xa xăm biển trời…Bên tôi giọng trầm ấm, cha tôi kể khan mơ Đam San trở về”…mà còn ở sự phát triển âm nhạc câu cuối cùng, tuy chỉ là nét nhạc ly  điệu ngắn với sự bất thường của một quãng 5 giảm kết hợp với một quãng 2thứ thi thoảng trong dân ca Ê Đê, nhưng tạo được hiệu quả rất cao cho cả ca khúc “Ơi M’Drak” lẫn sự khoe giọng của ca sỹ Y Moan trong 2 câu vocalize kết thúc và để nó chính thức là của ông                                                                                                                      Trong “ Còn thương nhau thì về Buôn Ma Thuột” điệu arei giao duyên rạo rực và thang âm Ê Đê 5 cung gần như được giữ nguyên si “ gặp lại em mùa mưa con đường xưa đây rồi, gặp lại em nhịp chiêng ché rượu nghiêng đêm mời” cho đến khi sang đoạn  2 . Và rồi lại trở lại âm điệu arei trong điệp khúc với quãng 2 đặc trưng cuối câu của dân ca Ê Đê “ có cái nắng có cái gió có nỗi nhớ không mang theo người ơi”. Có người cho rằng Nguyễn Cường tạo nên sự “ hú hét” của các ca sỹ Tây Nguyên, nhưng đó chỉ là phong cách “ trữ tình rực lửa” ( chữ dùng của một nhà báo thành phố Hồ Chí Minh nào đó) từ phía người biểu diễn cảm nhận ( đó cũng còn là nhịp điệu ching knah Ê Đê nữa đấy), còn ông, vẫn có những giai điệu mềm mại xúc động đến tận sâu tâm hồn con người như “ Thênh thênh oh ơi, Đến với cao nguyên, Ơi M’Drăk…”, rằng “Vì một bình minh rừng thu sương tan, vì một trường ca , trường ca Dam San…” . Hay “ Ru em cánh võng trăng treo, ru em tiếng hát t’rưng reo. Chị thương lời ru suối ngàn, chị thương lời ru nắng vàng…” đấy chứ.

 Sự Tây Nguyên mà không hẳn lối mòn Tây Nguyên ấy, cùng với ca từ đẹp và mang hơi hướng sử thi của Nguyễn Cường, đã khiến các ca khúc của ông làm xôn xao dư luận và đến được với đông đảo công chúng. (Có những câu hát đã trở thành lời nói “ cửa miệng” của người Tây Nguyên như “ Ban Mê lộng gió,  da nâu mắt sáng vóc dáng hiền hòa”…) . Nói như nguyên Chủ tịch Hội nhạc sỹ Việt Nam Giáo sư Trọng Bằng ngày ấy thì “ chính âm nhạc Ê Đê đã mở cửa hàng cho Nguyễn Cường”.

Chuyển sang tiếp tục “ thâm canh” ở các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, lúc đầu Ngyễn Cường chưa “ thoát” được ảnh hưởng sâu đậm của dân ca Ê Đê. Bằng chứng là ban đầu ông phải đặt lời lại cho bản “ Em hát Arei” viết cho Đăk Lăk trở thành bài “ Câu hát Jrai” cho Gia Lai. Nhưng là một nhạc sỹ vốn nhuần nhuyễn với việc sử dụng âm nhạc dân gian các miền, Nguyễn Cường nhanh chóng trở lại với chất liệu âm nhạc Jrai để có “ Đôi mắt Plei ku”, một thành công vượt cả sức tưởng tượng của chính ông. Khiến giới yêu nhạc ở phố núi luôn tự hào vì hai ca khúc về Plei Ku xuất hiện ở đầu và cuối thế kỷ XX đều ghi dấu ấn mạnh mẽ trong lòng công chúng gần xa. Đó là “ Em Plei Ku má đỏ môi hồng” – Phạm Duy và “Đôi mắt Plei Ku” – Nguyễn Cường. Tiếp sau đó là những “Tình ca Đăk Bla, Và ta đã thấy mặt trời rạo rực trên cao nguyên”, đường nét trữ tình của dân ca Jrai, Bâhnar, nhịp điệu rộn ràng của dân ca Sê Đăng đã hòa quyện rất kín đáo mà vẫn không lẫn với mọi vùng miền khác, tiếp tục làm nên những thành công của ông.

Điều đáng nói mà ít người biết, chính là cách vận dụng chất liệu dân ca riêng ở từng miền đất Tây Nguyên của Nguyễn Cường, đã tác động mạnh mẽ đến các nhạc sỹ trong khu vực, để họ xoáy vào âm điệu nơi cư trú của mình, hàng chục năm nay, rõ nét hơn, làm mới và không chung chung nữa. Ví như A Đuh với dân ca Rngao và Sê Đăng ở Kon Tum; Quang Dũng, Mạnh Trí với dân ca Ê Đê ở Đăk Lăk; Trọng Thủy, Đình Nghĩ, Krazan Plin, Krazan Đick với âm hưởng Chu Ru, K’Ho ở Lâm Đồng; Ngọc Tường, Lê Xuân Hoan ở Gia Lai…Cũng chính ông là người đã trực tiếp tạo nên một thế hệ tác giả người dân tộc bản địa Tây Nguyên như Y Sơn Niê, Y Phôn Ksor, Linh Nga Niê kdam, nối tiếp sự nghiệp âm nhạc của mình, tiếp tục đem âm nhạc Tây Nguyên đến với bạn yêu nhạc cả nước. Rất nhiều nhạc sỹ khi viết khí nhạc dân tộc và nhạc múa cho các tỉnh Tây Nguyên ở thế kỷ XXI sau này, cũng chú trọng đặc trưng dân nhạc từng địa phương như cách Nguyễn Cường đã làm. Thậm chí trích nguyên si cả làn điệu dân ca  vào các tác phẩm.( Nên kể thêm cả NSND Y Moan và ca sỹ Siu Black chói sáng từ những sáng tác của Nguyễn Cường).

                                                             Nguyễn Cường & Y Moan

Mỗi người một phong cách sáng tạo. Nếu âm nhạc cả nước   ghi công nhạc sỹ Nhật Lai, Kpă Púi, Rchom Y Yơn và Đoàn Ca múa Tây Nguyên đã mang âm nhạc dân gian Tây Nguyên đến với cả nước; thì âm nhạc Tây Nguyên đương đại cũng nên ghi công nhạc sỹ Nguyễn Cường khi đặt những viên gạch đầu tiên cho sự phát triển từ  âm nhạc dân gian của mỗi địa phương miền cao nguyên đất đỏ.

Dạ. Bởi nghe có câu nói rằng “ Lâu nay cả Tây Nguyên hát nhạc Nguyễn Cường, nhưng đó đâu phải là Tây Nguyên”, nên cũng xin phép nói lại vài câu vậy vậy.  Đăk Lăk và Ê Đê thì cũng là Tây Nguyên đấy chứ.

Linh Nga Niê kdam

[...]
Xem tiếp

NIỀM ĐAM MÊ CỦA Y PUÊN

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-10-12

1.Tìm trên mạng hình ảnh minh họa cho học sinh bài giảng về nhạc cụ dân gian Tây Nguyên, tôi bắt gặp một video clip sáo vỗ nghe quen mà lạ. Quen vì cây sáo vỗ đã từng nghe NSND Y San Aleo trình diễn rất điệu nghệ. Thậm chí khiến cây sáo trở thành một nhạc cụ gần như phổ biến khắp các dàn nhạc dân tộc tre nứa chuyên nghiệp lẫn không chuyên trong cả nước. Nhưng lạ vì bản nhạc không hoàn toàn giống hẳn sáng tác của tác giả Vũ Lân. Biết thế những chưa có dịp tìm hiểu !

2. Phó phòng văn hóa huyện Krông Bông giới thiệu một lớp tự phát truyền dạy nhạc cụ dân gian Ê Đê, mời chúng tôi về xã Cư Pui thuộc vùng xa của huyện tham khảo. Tuy nhiên, do hệ thống giao thông nông thôn của Đăk Lak hồi này không đến nỗi tệ lắm, nên sau gần 2 tiếng, chúng tôi  đến được buôn Bhung một cách thuận lợi, cho dù luôn bị những đám mây xám xịt nặng trĩu trên bầu trời đe dọa muốn đổ ập xuống.

    Nhìn gương mặt Y Puên rất quen. Nụ cười nở ngay sau đó trả lời tôi :

-         Em học lớp quản lý văn hóa trường Đam San của cô mà.

Ô! Mừng quá. Mừng không chỉ là gặp lại học sinh cũ, mà còn vì những hạt mầm chúng tôi gieo đã mọc thành cây xanh, nở hoa thơm và kết trái ngọt lành. Những gì học ở trường phần nào đã giúp cho anh cán bộ trẻ của đài truyền thanh xã Cư Pui tự tin, không chỉ mày mò cải tiến những cây sáo truyền thống, trình diễn sáng tạo những  bản nhạc chỉ mới nghe loáng thoáng đâu đó một lần, thậm chí dàn dựng hẳn các tiết mục hòa tấu nhạc cụ truyền thống, để nhận về cho đội văn nghệ huyện mình những chiếc Huy chương vàng, Huy chương bạc tại các Liên hoan, hội diễn. Không những thế còn rủ rê được cả các bạn trẻ trong buôn, trong xã, theo mình học những nhạc cụ xưa của ông bà. Từ ngày có lớp học nhạc cụ của Puên, các đội ching của 5 buôn trong xã cũng hoạt động sôi nổi hẳn lên. Người già cầm tay chỉ dạy cho người trẻ. Buổi tối hay chủ nhật ở nhà sinh hoạt cộng đồng váng lên tiếng ching còn lạc điệu nhưng đã thấy sự sôi nổi. Buôn nào cũng có đội ching trẻ, ching già. Khi cần thi thố ở đâu là có ngay. Có việc vui việc buồn của buôn bà con cũng mang ching ra tấu. Không chỉ dạy cơ bản, ở Cư Pui còn dạy cả bài bản ching nâng cao nữa. Tiếng ching luyện tập và những buổi trình diễn  ấy làm ấm lại không gian làng buôn. Cả xã Cư Pui hiện còn tới 29 bộ ching đủ ( chưa tính những bộ thiếu). Một tài sản mà không phải nơi nào, buôn Ê Đê nào cũng có.

3. Puên yêu thích tiếng sáo đinh buôt ngay từ hồi còn nhỏ, khi nghe bác, là một nghệ nhân giỏi làm và trình diễn nhạc dân tộc ở buôn Khanh thổi, mỗi khi gia đình hay buôn sang có việc vui buồn. Mà ngày xưa trong buôn nhiều việc tụ tập nhau lắm. Theo tín ngưỡng cổ xưa của người Ê Đê, trong thế giới này có nhiều vị Yang linh thiêng ngự trị.  Con người muốn làm việc gì cũng phải xin phép, Yang cho mới được làm.Làm xong , việc tốt phải có lễ tạ ơn. Làm hỏng hay vi phạm điều gì phải cột rượu, hiến sinh vật thể tạ lỗi. Mỗi một lần như thế, ít thì cả dòng họ, nhiều thì cả buôn, cùng tụ họp về nhà ai đó. Lễ lạt xong là câu hát, điệu kèn lại cất lên. Làn điệu k’ưt tự sự mang mang sâu lắng. Câu arei đối đáp sôi động tâm hồn  gái trai. Tiếng đing năm dặt dìu gọi bạn. Cái tiếng sáo đinh buốt tự sự nỉ non, da diết, lan lan thấm vào trong bóng đêm mờ mờ của những căn nhà sàn dài mênh mang ấy, cứ như ám ảnh suốt tuổi thơ của Puên. Bác đi đâu, Puên theo đấy. Mê mẩn cho tới khi bác đi về với ông bà.

Đấy cũng là một nguyên nhân khiến Puên theo học trung cấp ngành Quản lý văn hóa, để được học nhạc, học đàn, học hát. “ Hồi đó em lười học mấy môn lý thuyết lắm, cứ bị các cô la hoài, nhiều lúc nghe cô mắng cái mặt sượng trân. Riêng môn đàn với hát em đâu có nghỉ giờ nào. Về nhà còn tích cực luyện tay nữa đó cô”. Puên kể chuyện cũ như khoe, khiến tôi nhớ lại việc trường Đam San hồi đó, tuy là trường tư thục nhưng tỷ lệ học sinh người dân tộc thiểu số chiếm tới hơn 60%. Các thày cô thường nhắc nhau “ với các em phải vừa dạy vừa dỗ ”. Bởi học sinh người các dân tộc Tây Nguyên, thường rất có năng khiếu nghệ thuật, hát hay, múa dẻo, nhưng lại ngại học các môn lý thuyết. Việc các em đến trường học được hết khóa cũng là công lênh của nhà trường và các thày cô giáo. Được nối tiếp nghề như Y Puên, lại còn liên kết được cả với các thanh niên trẻ tuổi trong buôn làng nữa, là điều vô cùng đáng quý đối với chúng tôi.

Trở lại với câu chuyện của Puên. Học xong , ra trường mấy năm mải lo tìm kiếm việc làm, gần như quên lãng. Phải tới hồi lấy vợ ở buôn Bhung, rồi tham gia công tác Đoàn, tập luyện văn nghệ cùng các bạn, Puên mới quay trở lại nỗi niềm ấp ủ bao năm của mình. Bác mất rồi, phải tự mày mò thôi. Em  đặt xuống trước mặt tôi 4 cây sáo đinh buôt to nhỏ, dài ngắn khác nhau, nứa đã lên nước vàng óng:

-Cô thấy không? Cây sáo cổ của người Ê Đê mình chỉ có 4 lỗ. Em khoét thêm 2 lỗ thành 6 để có thể tăng thêm số nốt. Ống nứa to cho âm thanh trầm. Ống nứa nhỏ cho âm thanh cao. Cứ vậy mà chỉnh âm. Bây giờ bất cứ bài gì, giọng nào em cũng thổi được, không cứ là bài dân ca Ê Đê đâu.

Puên làm thử cho tôi thấy cách bác đã dạy em đo đạc bằng những ngón tay đặt ngang trên thân ống sáo, để làm “ cữ” khoét các lỗ cho chính xác với âm điệu dân ca Ê Đê ( gang tay, đốt tay, kể cả cánh tay đó cũng là cách đo, cách tính tỷ lệ truyền thống của người Tây Nguyên nói chung). May là nứa Krông Bông được các nghệ nhân khắp mấy tỉnh Tây Nguyên cho là có âm thanh chuẩn và trong sáng nhất. Nên cứ tháng 8, tháng 9 là Y Puên bỏ hết việc lang thang trong rừng chọn nứa. Phải là nứa mọc lên ở những rẫy đã bị bỏ hoang, đất từng ấm hơi bàn chân, bàn tay con người rồi, tiếng mới thật hay. Lại còn phải lựa những cây không già, không non. Vác cả bó về dựng đứng phơi khô vài tháng trong bóng râm , mới làm ra được những cây đàn, cây sáo có âm thanh len lỏi tận trái tim mọi người như thế.

Châu Phan, Phó Phòng văn hóa huyện Krông Bông nói chen vào :

-         Còn cây sáo vỗ được Huy chương vàng thì sao Puên?

Ô, hóa ra đây là “ nghệ sỹ” của đoạn video clip làm tôi ngạc nhiên đấy sao?

    - Đoàn ca múa Đăk lăk một lần đến đây biểu diễn, em nghe Nghệ sỹ Nhân dân Y San thổi sáo vỗ mà thích quá. Em loay hoay với cây sáo cổ, nhớ lại cách anh San vỗ, day. Cưa cưa gọt gọt, hỏng mất mấy chục cây nứa. Mãi rồi cũng thành hình cái sáo có âm điệu giống như anh Y San từng thổi ngày trước. Còn bài thì em nhớ loáng thoáng thôi, lúc đó chưa có tiền mua điện thoại để tìm tài liệu đâu. Nhớ, rồi  tự “ chế” thêm đấy cô ạ.Được Huy chương vàng khiến em vui mà tự tin lắm.

    4.Niềm vui và sự tự tin của Puên “ rủ rê” được cả Y Lup  và Y Vươn ở buôn Khanh và buôn Bhung học theo Puên. Ba thày trò miệt mài bên nhau học cách làm đàn, cách chơi, cách thổi. Cứ như là bị âm thanh bổng trầm của mấy cái ống nứa ấy “ bỏ bùa” suốt ngày. Có bữa quên cả đi rẫy bị người nhà mắng cho nữa chứ. Vậy mà không ai bỏ. Bây giờ có điện thoại rồi, Puên đến cơ quan lên mạng tìm kiếm thu lại những bài sáo mang âm hưởng dân ca Tây Nguyên, về mở ra cho học trò nghe để học . Dễ hơn tự tập ngày trước.

     - Ngoài đánh ching, một mình em làm và sử dụng được 3 loại đàn  Đinh buôt, Goong, Tăk Tar. Đinh buốt thì bác chỉ cách làm từ hồi xưa rồi. Cả đinh tăk tar cũng từng thấy bác thổi, tự làm dễ hơn.  Chỉ còn cây đàn goong em chưa nhìn thấy bao giờ, phải lên mạng tra rồi mày mò làm mãi mới được. Lại mất mấy cây nứa, vỡ vài cái vỏ trái bầu khô nữa, rồi cũng xong. Còn các bạn thì mới làm và thổi được đinh buốt thôi. Thấy tụi nó có năng khiếu, em khuyên đi học trung cấp cho có kiến thức. Hè về lại tiếp tục học và làm đàn. Em phải đưa hai đứa ra Buôn Ma Thuột dự thi đó cô. Bây giờ một đang học Quản lý văn hóa. Một học sư phạm nhạc.

Học trò nghỉ.Suốt mùa mưa, thày cặm cụi cùng vợ canh tác 4 sào lúa, 6 sào mì, 1 ha bắp và hơn 1 ha cà phê. Tháng 8 tháng 9 lại lội rừng tìm nứa. Vừa nuôi gia đình vừa nuôi thú vui làm và chơi đàn. Vợ Puên nhỏ con nhưng xinh gái, bồng đứa con mấy tháng tuổi chào chúng tôi ngoài sân nói thêm :

-Ổng mê dạy đàn hơn mê làm rẫy đó cô. Học trò đi rồi, thày nghỉ. Nhưng lại có mấy đứa khác đòi học kia kìa…

Puên cười hiền : “Em chưa giỏi đâu. Hôm Hội diễn thanh niên hát dân ca ở Buôn Ma Thuột, tiết mục hòa tấu nhạc cụ truyền thống của tụi em, cô nhận xét nhạc cụ chỉnh âm không đều nên âm thanh không chuẩn. Tụi em sẽ cố gắng hơn. Phải có thời gian cô ạ” .

Âm nhạc dân gian Tây Nguyên vô cùng phong phú và độc đáo, kể cả trong nhạc hát lẫn nhạc đàn. Phong phú vì gần 30 tộc người, mỗi nhóm lại có nhiều làn điệu khác nhau. Độc đáo là từ những vật liệu đơn giản gần gũi với đời sống hàng ngày của con người, như  tre nứa, gỗ, đá…với đôi tay tài hoa của những người nghệ nhân chân đất, đã làm ra những âm thanh trong vắt như suối nguồn, ấm áp như ánh nắng cao nguyên; là tiếng của tâm hồn Tây Nguyên chân chất, là điều kỳ diệu trong văn hóa truyền thống của các tộc người. Tuy nhiên, do rất nhiều nguyên nhân, mà thế hệ trẻ ngày nay ít biết đến, ít hiểu vẻ đẹp ấy của chính mình. Thậm chí nhiều bạn còn thờ ơ, quay lưng lại với những âm thanh, làn điệu giản dị mà chứa đầy những điều bí ẩn làm chao đảo cả không gian văn hóa miền cao nguyên đất đỏ ấy.

Nhưng đây đó trên Tây Nguyên, vẫn có những con người nặng lòng với âm thanh của rừng của suối, mà bền bỉ tìm mọi cách gìn giữ, lan tỏa. Như Ka Ly ở Kon Tum với ban nhạc dân gian Rngao 120 người, diễn tấu cả chục loại nhạc cụ. Hay nghệ sỹ Thảo Giang không chỉ cải tiến mà còn biên soạn giáo trình lẫn tác phẩm truyền dạy đàn ting ning Bâhnar trong giới nghệ thuật chuyên nghiệp; Rchom Tít ở Plei Ku, hàng chục năm nay vừa truyền dạy vừa chế tác nhạc cụ Jrai theo hướng sản phẩm mỹ nghệ dân gian, với hy vọng đến được tay du khách yêu Tây Nguyên.  Hoặc cụ Ama Kim ở Buôn Ma Thuột, làm và diễn tấu được 5 loại nhạc cụ Ê Đê, cố nhạc sỹ Y Sơn Niê, luôn đau đáu tìm những thanh niên trong buôn làng yêu âm nhạc để truyền lại kho kinh nghiệm của mình. Nay thêm Y Puên.  Quả thật còn quá ít ỏi, nhưng như thế còn hơn không và nhất là đang có sự lan tỏa từ thế hệ này sang thế hệ khác đấy chứ. Họ sẽ không đơn độc.

 Cứ đam mê thế Puên nhé. Văn hóa truyền thống Tây Nguyên của mình sẽ còn mãi.

[...]
Xem tiếp

NGND Y Ngông, như tôi biết

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-04-12

                Đã có rất nhiều người viết về Bác sỹ Y Ngông Niê kdam, chẳng những sau khi ông đã qua đời, mà lúc sinh thời ông đã được nhiều người ca ngợi. Theo tôi, ông là một nhân vật huyền thoại, như một cây đại thụ, một con hổ oai hùng, một chú voi khổng lồ của đại ngàn Tây Nguyên. Tôi có may mắn và hạnh phúc lớn khi được ông quan tâm, thương yêu, động viên trong công việc. Và cũng chia sẻ những điều ông mơ ước,  tâm huyết với sự nghiệp của đời ông : làm sao để các dân tộc Tây Nguyên nhanh chóng hết đói cơm, đói chữ, đấy lùi bệnh tật, nền văn hóa truyền thống đặc sắc được bảo tồn và phát huy…

Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng, trên nhiều lĩnh vực khác nhau, như : Hiệu trưởng trường học sinh dân tộc miền Nam, Giám đốc khu học xá học sinh miền Nam tại Quế Lâm ( Trung Quốc), Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, đại biểu Quốc khội 9 khóa, Chủ tịch UBND rồi Bí thư tỉnh ủy Đăk Lăk, Hiệu trưởng trường Đại học Tây Nguyên, Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội…Nhân kỷ niệm 95 năm ngày sinh của ông ( 1922-2017), nhân tháng Nhà giáo Việt Nam, tôi xin kể một vài kỷ niệm về ông – bác Y Ngông Niê kdam – tôi muốn được gọi ông như thế - như một nén nhang thơm gửi tới nơi vĩnh hằng.

1.Năm 1979, tôi là hiệu trưởng trường cấp 1 Lê Thị Hồng Gấm, thuộc thị xã Buôn Ma Thuột. Hưởng ứng phong trào “ Em làm kế hoạch nhỏ” của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh hồi ấy, nhà trường tổ chức cho các em học sinh các khối lớp 3,4 và 5 toàn trường đi  lượm cà phê rơi vãi ở Nông trường 10 tháng 3, sau khi công nhân đã thu hoạch xong. Toàn thế cán bộ giáo viên cùng khoảng 800 học sinh của trường chọn ngày chủ nhật để gióng trống, mở cờ ra quân. Từ trường đến lô cà phê gần 10km, cả thày trò đều đi bộ. Suốt dọc đường các “ ca sỹ vườn” dùng loa cầm tay hát động viên.  Ai nấy đều vui vẻ, hồ hởi, quên cả mệt nhọc. Lãnh đạo Nông trường rất mừng khi trường chúng tôi nghĩ ra việc làm có ích này. Họ cử người hướng dẫn các địa điểm đã thu hái xong có nhiều hạt rơi rớt. Có nhiều khi trái chín chưa kịp hái nên rụng xuống, trái bị chim sóc, chồn ăn, một phần do công nhân hái nhưng tuốt cành bị văng khỏi tải hay tấm bạt. Số hạt rụng ấy thường bị vùi lấp dưới gốc, bên trên là lớp lá mục. Phải bới lên mới lượm được . Một số hạt khác vương vãi bên ngoài hố. Sau một ngày tích cực làm việc, thày trò giao nộp lại Nông trường hơn 2 tạ hạt cà phê khô và hơn 8 tạ cà tươi. Lãnh đạo Nông trường biểu dương ngay tại chỗ. Chúng tôi vô cùng phấn khởi vì đã góp phần giáo dục tình yêu lao động cho thày và trò, đặc biệt là giáo dục tính thật thà cho các em học sinh, nhặt được bao nhiêu đều tự giác mang nộp cho Nông trường, tuyệt đối không tham, không dấu để mang về nhà ( khi ấy giá cà phê rất đắt ).

Ba ngày sau đó tôi được UBND tỉnh triệu tập.Tôi vô cùng hồi hộp và lo lắng, không biết có việc gì với trường hoặc với cá nhân mình đây?  Đích thân bác Y Ngông ( khi ấy là Chủ tịch) tiếp tại văn phòng, cùng thày Phan Văn Uyển, phó trưởng ty Giáo dục. Tôi bước vào, bác đến bên bắt tay rồi ôm chặt vào lòng. Ông cười vang sảng khoái “ Cháu giỏi lắm ! Muốn được thưởng cái gì nào?”. Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác bởi chưa hiểu sao bác lại khen mình? Phần nữa vì bác, một con người nổi tiếng với địa vị cao như thế, sao lại quá đỗi dân giã, giản dị và tình cảm thế? Bác biểu dương việc làm của thày trò chúng tôi vừa qua, chỉ thị cho thày Uyển gửi công văn đến tất cả các trường cấp 1,2 trong tỉnh thông báo việc làm tốt của thày trò trường Lê Thị Hồng Gấm, phát động ngay phong trào làm “ kế hoạch nhỏ” bằng việc thu gom hạt cà phê rơi ở các Nông trường. ( Sau đó tôi còn được Ty Giáo dục cho đi báo cáo kinh nghiệm tổ chức buổi lao động ở một số trường nữa. Thày Uyển thì sáng tác được bài hát “ Em đi lượm hạt cà phê” rất hay). Lúc ấy tôi chỉ dám xin bác thưởng một bộ trống nghi thức Đội, món quà mà từ lâu chúng tôi mơ ước. Sau này mới biết Chủ tịch tỉnh nghe báo cáo của của lãnh đạo nông trường về việc làm nhỏ của trường chúng tôi, nên đã quan tâm động viên và nhân rộng phong trào ngay.

2. Bác Y Ngông đã tham gia sưu tầm, dịch thuật, biên soạn Sử thi Dam san và một số sử thi khác, từng viết bài giới thiệu và phát biểu ở nhiều hội nghị về văn hóa dân gian Tây Nguyên . Bác là người đầu tiên đề nghị đạo diễn Lê Dân làm phim về huyền thoại Đam San. Kịch bản đã xong. Chỉ tiếc Bộ VH không cấp kinh phí để thực hiện.

Ông cũng là một trong những hội viên đầu tiên của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam. Đến năm 1990 cả vùng Tây Nguyên mới có 4 hội viên Trung ương : bác Y Ngông Niê kdam, chị Linh Nga Niê kdam, anh Y Thí Mlô ( cán bộ ty Văn hóa) và tôi. Lúc ấy, đang là giảng viên của trường cao đẳng Sư phạm Đăk Lăk. Được sự động viên lẫn thuyết phục cấp trên của bác ( khi đó thành lập các hội còn khó lắm), chúng tôi tổ chức đại hội thành lập Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đầu tiên của Tây Nguyên ( trực thuộc Hội VHNT Đăk Lăk cũng mới thành lập)  tại trường Cao đẳng sư phạm. Mang sổ vàng đến vận động xin kinh phí tổ chức đại hội và hoạt động, bác đã ghi những dòng tâm huyết và tặng 1 triệu đồng. Ngày đại hội, bác đến dự và phát biểu sôi nổi, nhắc nhở thày trò – nhất là khoa Văn – Sử - phải làm nòng cốt cho hoạt động của Chi hội, tích cực góp phần gìn giữ, phát huy vốn văn hóa dân gian của các dân tộc Tây Nguyên.

Bác yêu mến và tâm huyết với  dân tộc đến mức có thể không tiếc thời gian làm việc ở cả cơ quan lẫn ở nhà. Hễ ai gặp bác nói về chủ đề văn hóa truyền thống là bác say sưa bàn luận. Bác nhắc chúng tôi – những người nghiên cứu và giảng dạy văn hóa học, dân tộc học - rằng : “các cháu phải đầu tư nghiên cứu xem mẫu hệ Ê Đê có còn phù hợp với thời đại bậy giờ không? Điều gì hay, điều gì dở? Từ trong máu thịt bác thấy nó hết sức thiêng liêng. Bác đặc biệt yêu quý con gái, cháu gái hơn hơn là con trai, cháu trai. Các cháu giải thích điều này thế nào?”…..

Trên các cương vị công tác khác nhau, Y Ngông Niê kdam đều dành thời gian quan tâm và ủng hộ cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy văn hóa, giáo dục và y tế trên địa bàn Tây Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc. Làm Hiệu trưởng, bác gợi ý cho trường Đại học Tây Nguyên tổ chức các hội thảo khoa học, kêu gọi các nhà khoa học trong và ngoài nước đến hợp tác, giúp đỡ Tây Nguyên….

Trong những ngày của tháng Nhà giáo Việt Nam này, nhớ về Y Ngông Niê Kdam là nhớ về một nhân cách lớn với hoài bão lớn lao và tính nhân văn sâu sắc.

 

                                                                                                Nguyễn Hữu Đức Chi hội VNDG

 

[...]
Xem tiếp

Nghĩ, từ một hội thi

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-22-11

             Lần đầu tiên tham dự Ngày hội thanh niên nông thôn 2017, do Tỉnh Đoàn TNCSHCM & Sở NN-PTNT tỉnh Đăk lăk phối hợp tổ chức, thật bất ngờ với những nội dung phong phú : tuyên dương các mô hình thanh niên làm kinh tế giỏi, hội thi văn nghệ, hội thi ẩm thực…Dạo quanh các gian hàng nông sản trưng bày, choáng ngợp với những nụ cười trẻ trung hớn hở bên gà, trứng, vịt trời, mật ong, trái cây, lúa, gạo, măng kho, măng tươi, măng ngâm, nấm, rau củ, bánh kẹo….Đúng là một sân chơi thú vị cho tuổi trẻ nông thôn. Có lẽ sẽ nhiều người như tôi : không ngại mở túi mua hàng ủng hộ cho các bạn trẻ. Bởi tất cả họ đang nỗ lực làm giàu cho chính gia đình mình và cho quê hương.

                Một trong các hoạt động cũng thú vị không kém là Hội thi “ Tiếng hát thanh niên nông thôn”, lần đầu tổ chức. Có 31 tiết mục hát múa của 14 đơn vị Đoàn tham gia thi thố. Nổi trội nhất là mảng múa. Bởi các đơn vị đã không chỉ mời đạo diễn chuyên nghiệp, mà huyện nào cũng có rất đông các  giáo viên được đào tạo bài bản không những về âm nhạc mà còn cả hoạt động dàn dựng chương trình văn nghệ. Có thể kể đến những tiết mục múa khá công phu, hoàn chỉnh như Âm vang cao nguyên của huyện Đoàn Buôn Đôn; Mừng lúa mới của huyện Đoàn thị xã Buôn Hồ; Xuân về bản Mông của huyện Đoàn Krông Năng…Phần múa phụ họa rất “ hoàng tráng” cũng góp phần nâng cao chất lượng nghệ thuật cho những tiết mục hát, dẫu chất giọng có khi chưa thật hoàn hảo, như hát múa Khát vọng tuổi trẻ ( Cư Kiunh), Liên khúc Đất nước & Giai điệu Tổ quốc ( Buôn Ma Thuột), đơn nam Đất nước ( Cư M’Gar)…       

         

Phần thi thường được sự tham gia đông đảo nhất là hát mấy năm nay vẫn xuất hiện những gương mặt trẻ, nhưng dường như hơi bị “lép vế”. Ngoài sự dàn dựng sáng tạo, hát có hồn của cặp  song ca có vẽ tranh minh họa ( Krông Pak), Ban giám khảo  chú ý đến tam ca nữ Thênh thênh oh ơi ( Krông Buk), tốp hát nữ Đẹp lắm quê tôi ( Krông Pak), tam ca nam Con trâu ( Buôn Đôn) là những nhóm hát hay, có phối bè nhuần nhuyễn. Còn lại những giọng đơn ca mặc dù có chất giọng rất đẹp, nhưng cách trình bày đơn điệu, thiếu sự sáng tạo mới, như các tiết mục Hoa suối ( Cư M’Gar), Niềm tin trong tôi ( M’Drăk & Krông Năng), Áo xanh ( Buôn Đôn),  Lời ca gửi noọng ( Lăk), Giai điệu Tổ quốc ( Krông Na), Về nghe gió kể ( Buôn Ma Thuột)… Trong thời buổi âm nhạc đủ mọi thể loại “ làm mưa làm gió” với người nghe, thì việc chọn bài đúng sở trường, người nghe còn đòi hỏi người diễn phải tự làm mới mình khi dựng và trình bày một ca khúc. Đấy là điều kiện tiên quyết để tham gia một cuộc thi hát. Ban tổ chức đã quy định không độc diễn mà phải gắn với tốp hoặc hát, hoặc múa phụ họa để huy động phong trào. Rất tiếc, dường như các bạn trẻ ít chú ý đến nội dung này. Vậy nên chất lượng biểu diễn chưa cao là  tất nhiên.

Từ hội thi “ Tiếng hát thanh niên nông thôn”, chợt nghĩ : thiên nhiên, miền văn hóa đã cho mảnh đất Đăk Lăk rất nhiều tài năng nghệ thuật, được hun đúc từ những nắng, những gió, những đêm lễ hội náo nức ching chêng. Từ hàng chục năm về trước, nơi đây vẫn là chiếc nôi nuôi dưỡng rất nhiều giọng ca trưởng thành, từ ngay chính phong trào ca hát của tỉnh. Ngay cả cố NSND Y Moan, hay những ca sỹ Siu Black, Trần Mai Trang, H’Zi Na, Y Zăk… cũng đều bước ra sân chơi lớn từ những cuộc thi ca hát của địa phương. Điều mà có lẽ chỉ hơn thua  Lâm Đồng, chứ so sánh với các tỉnh khác trong khu vực,vẫn nổi trội hơn hẳn.  Thế nhưng gần 10 năm nay, Đăk lăk vắng hẳn những cuộc thi hát cấp tỉnh, nơi tạo nguồn, là dịp để các bạn trẻ tập dượt, cọ xát với môi trường biểu diễn, làm mới mình và vươn lên đỉnh cao. Những cuộc thi Sao Mai, Sao Mai điểm hẹn của Đài Truyền hình VN, là hoạt động chính của ngànhTruyền hình cũng không được tổ chức, mà chỉ chọn lựa đâu đó vài giọng ca rồi cử đi thi. Những ngày lễ trọng cũng không có những cuộc thi giọng hát hay sôi động từ cấp huyện, thành phố lên tới tỉnh, vươn tới quốc gia, đã từng lôi cuốn hàng ngàn thí sinh tham gia vòng loại. Thật là điều đáng tiếc, thiệt thòi cho phong trào ca hát của Đăk Lăk. Điều này cũng làm vài năm gần đây, thiếu vắng những “ ngôi sao trẻ”  xuất hiện thêm trên sàn diễn.

Giá mà những ngày kỷ niệm thành lập huyện, thành phố…đều có những cuộc thi ca hát, như đã từng, thì hay biết mấy. Ví như Tiếng hát truyền hình thành phố Buôn Ma Thuột thường niên 10/3 ( hoặc 2 năm/lần) có phải là điều tuyệt đẹp không?

Lý do thường được đưa ra luôn là “ không có kinh phí”. Nhưng theo tôi, trước hết là tầm nhìn của lãnh đạo các cấp đối với những sân chơi lành mạnh giành cho tuổi trẻ còn quá ít, khó có điều kiện để  kéo các bạn ấy ra khỏi màn hình, smarphon… đến với các cuộc chơi giành cho chính mình. Sau nữa là sự phát triển của phong trào sẽ ra sao, nếu cuộc sống cứ bình thản trôi đi như thế ?? Nhà văn người Daghesten Gamzzatop chẳng đã từng nói “ Khi người ta hỏi đến một dân tộc giấy tờ của anh đâu? Dân tộc ấy sẽ đưa ra những tướng lĩnh, các nhà khoa học, các nghệ sỹ…và nói: đây giấy tờ của chúng tôi đây”. Nếu không bao giờ có những Nay Phao, Y Blok Ê Ban, Y Ni Ksor, Y Ngông Niê Kdam, Y Browm, Đinh Xuân La,Y Moan Ea Nuôl, Siu Black…nữa, thì “ giấy tờ’ của Tây Nguyên, Đăk Lăk sẽ là những gì nhỉ??? Đồng ý rằng người xưa từng dạy “ có thực mới vực được đạo”. Nhưng xây dựng văn hóa phát triển song song với kinh tế cũng là nghị quyết của Đảng đấy chứ !

H’Linh Niê

 

[...]
Xem tiếp