Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Chị ấy xứng đáng được gọi là biên đạo múa

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-24-06

Đêm 15 tháng 5 năm 1975. Đoàn Ca múa Tây Nguyên về đến Buôn Ma Thuột. Sau một vài đêm diễn, được nghỉ một ngày trước khi di chuyển sang tỉnh Gia Lai – Kon Tum, một số anh chị em diễn viên trẻ vừa mới tuyển vài ngày ở đoàn Văn công Đăk lăk, đến chơi  tại khách sạn Hoàng Gia cũ ( Nay là trụ sở Hội VHNT Đăk Lăk), mới biết trưởng đoàn là nhạc sỹ Kpă Púi, phó đoàn nhạc sỹ Ama Nô và biên đạo múa có chị Siu Lai, vợ anh. Nhưng ngày ấy chúng tôi chưa  có dịp gặp nhau.

                                       

Vợ chồng nghệ sỹ Siu Lai ở Tây Nguyên năm 1973

Năm 1977,  tôi đang học đại học thanh nhạc ở Nhạc viện Hà Nội, nghỉ hè về thăm ba mẹ và các em ở Buôn Ma Thuột. Ba chúng tôi là người rất yêu thích văn nghệ, có giọng hát hay, hay hát, nên có lần đưa tôi cùng đi dự một đêm biểu diễn của Đoàn ca múa Đăk Lăk phục vụ Ủy ban tỉnh. Đó là lần đầu tiên  được xem các tiết mục múa “Kon Tuor, Cư Ka Dăm Dra, Dra Yú…” đậm tính chất trữ tình của âm nhạc và sự uyển chuyển của múa dân gian Ê Đê, Jrai, với cái tên đã từng được nghe “ dàn dựng Siu Lai”. 

Biết tôi nghỉ ở nhà tới 2 tháng, nhạc sỹ Kpă Púi  và nhạc sỹ Ama Nô cho người tới mời tập huấn thanh nhạc cho những ca sỹ của đoàn, chưa bao giờ được làm quen với kỹ thuật ca hát ( các bạn được tuyển vào đoàn tháng 4 năm 1975, nghĩa là chỉ một tháng sau ngày giải phóng Buôn Ma Thuột). Mạnh Trí, Quỳnh Như, Mỹ Lệ, Y Moan…những học trò đầu tiên của đoàn ngày ấy. Chúng tôi gắn bó với mọi người cũng từ đó. Và cũng dần thân thiện với vợ chồng nhạc sỹ Ama Nô – Siu Lai. Từ tình đồng nghiệp cũng có, mà tình cảm bạn bè cũng có.

Chúng tôi thật sự ngưỡng mộ hai vợ chồng anh chị, bởi hoàn toàn bản năng, mà âm nhạc và múa của họ biểu diễn tung hoành suốt trên chiến trường Tây Nguyên và Đông Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ hàng mấy chục năm trời. Ở đâu cũng được bộ đội và nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh. Kịch mục múa của đoàn gần như đều do chị Siu Lai dàn dựng. Chất nhạc Jrai vô cùng quyến rũ với những quãng hai thứ đầy âm hưởng trữ tình dường như chảy tràn trên sân khấu. Nhạc sỹ Ama Nô còn khéo léo lồng vào những đoạn lời hát dân ca Jrai nguyên bản, khiến cho âm nhạc trở nên khác lạ, lung linh hơn đối với tâm hồn người nghe. Trong các tiết mục múa, có thể bắt gặp tất cả những chất liệu gần như nguyên gốc của những động tác cơ bản dân gian Jrai, mà tôi đã từng say mê xem các bạn luyện tập ở Xuân Phú ngày nào, (khi đạo diễn Đinh Long Ta rời đoàn Ca múa Tây Nguyên về Đăk Lăk, mới sửa chữa và nâng cao Cư Ka Dăm dra lên đôi chút và mang đi Hội diễn 1979 đạt Huy chương vàng).

Được tuyển vào văn công Gia Lai – Kon Tum từ năm 13 tuổi. Cô thiếu nữ Jrai xinh đẹp với bản năng múa nổi trội, nhanh chóng trở thành diễn viên múa chính của đội. Bàn chân lọt thỏm trong đôi dép cao su đưa cô đi khắp chiến trường, từ ngọn nguồn sông Ba tới chân núi Kon Ka Kinh, Ngok Linh, tới cả bạt ngàn rừng cao su Tây Ninh . Da nâu, mắt sáng, dáng vóc cao ráo, mảnh mai. Nồng nhiệt và uyển chuyển trong vũ đạo, cô gái làm say lòng bao nhiêu chiến sỹ. Trong đó có cả người nhạc sỹ trưởng đoàn. Những điệu suang như mnga hla, tap mniê….các bà, các chị múa trong lễ hội ở buôn làng ngày nào, như sống lại trong tâm hồn mơ mộng của cô chiến sỹ - nghệ sỹ trẻ. Nhờ sự động viên của Rmah Dơng, Siu Lai mạnh dạn dàn dựng múa. Niềm hạnh phúc của một thiếu nữ dân tộc vốn chỉ quen với rừng suối, rẫy nương, nay được hát múa một cách tự nhiên  trước con mắt bao nhiêu chàng lính trẻ và tình yêu đối với nghệ thuật, với người nhạc sỹ cũng rất trẻ có giọng hát truyền cảm, là niềm cảm hứng cho tâm hồn chị thăng hoa.

Múa tập thể nữ “ Tông ching”, múa tập thể nam nữ “Cư ka dăm dra” phát triển từ dân vũ Jrai, múa đôi nam nữ “  Vui gặp gỡ” về tình cảm bộ đội và thiếu nữ Tây Nguyên, hoạt cảnh múa “ Du kích chống càn” là hình ảnh buôn làng Tây Nguyên tham gia cắm chông chống giặc… lần lượt được dàn dựng và chính chị tham gia biểu diễn vai chính suốt cho đến tận năm 1975.

Sau chuyến đi miền Đông Nam Bộ ( 1967) trở về Siu Lai từ giã đội văn công Gia Lai- Kon Tum, để ở lại với đội B5 của tỉnh Đăk lăk, kết hôn với người nhạc sỹ tài hoa Rmah Dơng. Nhờ thời gian tập huấn ở căn cứ Tây Ninh, chị thêm vững tin ở mình, dựng lại một vài tiết mục được xem các đội bạn ở Trung ương Cục biểu diễn, như múa “ Múa dù, Hái chè bắt bướm, Tiếng chày trên sóc Bom Bo…” làm cho chương trình biểu diễn của đội luôn luôn sinh động, đa dạng, mới mẻ và tươi trẻ.

Sau ngày thống nhất đất nước, Siu Lai còn công tác ở đoàn Văn công Đăk lăk một vài năm nữa. Rồi tự thấy mình không theo kịp những trào lưu nghệ thuật mới,  toàn thể số diễn viên của những ngày chống Mỹ tự nguyện chuyển sang công tác ở ngành khác. Riêng Siu Lai bàn với chồng để một mình anh tiếp tục công việc ở Phòng nghiệp vụ Ty văn hóa, còn chị, nghỉ hẳn. Không trở về quê hương Gia Lai. Mua rẻ một miếng rẫy bên bờ suối ở ven thành phố Buôn Ma Thuột, nơi anh chị đã gắn bó suốt một thời hoa lửa, chị vui vẻ bắt đầu với cuộc đời của một thảo dân, khi tuổi mới vừa 28. Không một chút oán hờn, không một lời thở than, cũng chẳng Huân chương huy chương gì, 40 năm qua, Siu Lai nhẫn nại với vườn cà phê nhỏ ven suối, đàn bò vàng, bày dê trắng…như một nông dân đích thực. Ấy vậy mà khi nhắc tới những kỷ niệm xưa về múa, ánh mắt chị rực sáng, giọng nói sôi nổi hẳn lên. Quá khứ của một thời tuổi trẻ không kém hào hùng trên những nẻo đường nhảy múa hát ca phục vụ chiến trường chưa bao giờ phai mờ trong tâm hồn chị.

15 năm gắn bó với sân khấu dã chiến ở khắp chiến trường Tây Nguyên, múa say mê giữa bom đạn, Siu Lai xứng đáng được gọi là một biên đạo múa, một Nghệ sỹ - Chiến sỹ đích thực.

 

 

[...]
Xem tiếp

Lạnh lùng công chúa đa tài

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-03-06

                                                                                            Mã A Lềnh

Không nhớ rõ năm tám tư hay tám lăm, một hôm đến cơ quan thì được báo tin Hà Nội gọi điện thoại yêu cầu gửi một bài viết, dạng ý kiến tùy hứng, kèm một ảnh chân dung gửi ngay để đăng báo. Sau đó ít lâu tôi cùng nhà văn Hoàng Hạc, nhà thơ Pờ Sảo Mìn ở tỉnh Hoàng Liên Sơn được mời đi dự hội nghị của hội văn hóa các dân tộc, do Thứ trưởng bộ Văn hóa – Nhà thơ Nông Quốc Chấn đề xướng và chủ trì. Đến nhà khách Kim Liên vốn là khu chuyên gia Liên Xô, thấy đông người lắm. Lật tờ báo trong tập tài liệu vừa nhận ra xem. Hóa ra bài và ảnh của mình đăng số này. Tôi, thằng nhà văn sống trên xó rừng Hoàng Liên mờ sương quanh năm được ngồi cùng một trang với Linh Nga Niêkđăm, nhạc sĩ, nghệ sĩ người Êđê Đác Lắc, và Sôrya, nhà quản lý văn hóa, người Khme. Xuống nhà bếp ăn bữa cơm chiều, từ xa đã trông thấy thiếu phụ hào hoa, dáng đế vương quý phái có bài và ảnh đăng cùng trang báo, nhưng bị chảy máu cam, tôi phải chạy về. Xử lý xong cái mũi, trở lại nhà bếp thì gặp thiếu phụ đi ra khi mọi người đã về gần hết.

- Anh vào ăn cơm đi. Nhà bếp để phần đấy! – Thiếu phụ quý phái chủ động chào tôi trước.

- Chào Linh Nga! Sôrya có đến không?

- Tôi không biết!

- Linh Nga nghỉ nhà nào?

- Nhà kia. Mãi trên tầng cao!

- Phòng bao nhiêu?

- Không nhớ!

- Xem ở chìa khóa ấy!

- ờ nhỉ! ăn cơm xong lên chơi nhé!

 

ăn cơm xong, lên tìm được phòng, ngó vào đã thấy rổn rảng tiếng nói tiếng cười có đến hơn chục người, tôi thoạt nghĩ: Mình thừa ra rồi! Toan quay gót liền thì Linh Nga gọi, tiếng thật trong trẻo:

- Anh vào đây!

Tôi đành vào. Phòng có hai giường sát nhau. Đang chưa biết ngồi chỗ nào cho đúng vị trí thì một anh chàng loắt choắt, trẻ măng cứ dướn cả người về phía Linh Nga, lại còn “anh anh em em” ngọt xớt làm tôi ngượng thay.

- Lúc khác nói chuyện. Chào mọi người nhé! - Rồi tôi đi như chạy trốn.

- Mọi người tự giới thiệu mình đi! Anh Lềnh!

Tôi đã khép cánh cửa lại, mặc cho bên trong đang ồn ào náo nhiệt.

Chỉ có thế!

Năm 1988 trước khi đi Liên Xô tu nghiệp tại học viện Goócky, tôi có viết thư cho Linh Nga, rằng: “Làm nhạc sĩ, ca sĩ, quá giỏi, quá tốt rồi, nhưng nếu viết văn nữa thì càng tốt, vì văn dễ đến với nhiều người và dễ để lại dư âm lâu, nghĩa là văn có thể có sự nghiệp. Linh Nga thử viết đi. Văn nhé. Người thiểu số viết văn hiếm lắm. Thơ chỉ viết chơi thôi”. Học xong bên Liên Xô, về Hà Nội, tình cờ gặp Linh Nga trên đường Đê La Thành. Thì ra Linh Nga ra theo học sáng tác ở Nhạc viện, mặc dù đ• có bằng thanh nhạc từ năm 1979. Thời ấy đời sống khốn đốn mà dám đi học, lại đàn bà con gái nữa, tôi bái phục.

Chỉ có thế!

Thế rồi bất chợt nhận được từ bưu điện tập truyện ngắn “Con rắn màu xanh da trời”. Đọc nghiến ngấu. Khá lắm! Đích thực một nhà văn đây!

Thời Lò Ngân Sủn làm Chủ tịch khóa 3 hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số, Linh Nga hình như là Phó Chủ tịch, Thường trực Hội lo cho một số văn nghệ sĩ miền Bắc đi điền dã một số địa phương phía trong. Tôi được phiên chế vào Tây Nguyên cùng nhà văn Cao Duy Sơn, chánh văn phòng Hội, nhà thơ Vương Trung ở Sơn La, tác giả văn Phùng Phương Quý ở Phú Thọ, nhà thơ Đỗ Thị Tấc ở Lai Châu và nhà nhiếp ảnh Huy Thức, Lào Cai. Linh Nga lúc bấy giờ đã thôi Thường trú đài Tiếng nói việt Nam tại Tây Nguyên, đang là Chủ tịch hội Văn nghệ Đăk Lắk, cho xe xuống tận Nha Trang đón đoàn. Trong buổi giao lưu với trường dân tộc nội trú tỉnh Đác Lắc, mặc dù nhà văn - nhạc sĩ - nhà văn hóa Linh Nga đ• quá quen thuộc với thầy trò nhà trường, nhưng với tư cách là một thành viên của đoàn, bà cũng lên diễn đàn. Câu hỏi của cô giáo Niê Thanh Mai, người dẫn chương trình, đại ý: Từng là ca sĩ, đang là nhạc sĩ, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Tây Nguyên, lại đương chức Chủ tịch hội và kiêm nhiều chức vụ khác, vì sao bà lại đến với văn chương? Linh Nga trả lời, đại thể: Đến với văn chương là do sự động viên, dẫn dắt của các nhà văn Nguyên Ngọc, Trung Trung Đỉnh, Phạm Tiến Duật và nhiều người khác, có thể động viên trực tiếp, có thể động viên gián tiếp bằng cách đọc tác phẩm của họ, “và đặc biệt có sự động viên của ông xã tôi”, trong đó hai nhà văn Linh Nga rất ngưỡng mộ là Nguyên Ngọc và Võ Thị Hảo… Ông xã, tức ông Lý Son, cũng có mặt trong buổi giao lưu.  Và đợt đó chúng tôi được ông bà mời đến tư dinh cùng nhiều văn nghệ sĩ sinh sống ở địa phương, mọi người thân tình như trong một nhà, như thân thiết đã lâu mới gặp lại. Trong không khí đầm ấm ấy chúng tôi tu bay cả ché rượu cần. Quả thực, từ thập kỷ 90 thế kỷ trước sách văn của Linh Nga đã ra tơi tới: Một số nét đặc trưng của phong tục các dân tộc Tây Nguyên, khảo cứu, NXB Văn hóa dân tộc - 1996; Con rắn màu xanh da trời, tập truyện ngắn, NXB Văn hóa dân tộc - 1997; Trăng Xí Thoại, tập ký, NXB Văn hóa dân tộc - 1999; Văn hóa dân gian Tây Nguyên, khảo cứu, hội VHNT Đác Lắc xuất bản - 2002; Nghệ sĩ Tây Nguyên (dân tộc thiểu số), NXB Văn hóa dân tộc - 2002; Đi tìm hồn chiêng, tập ký, NXB Quân đội - 2003; Gió đỏ, tập truyện ngắn, NXB hội Nhà văn - 2004; Nhân danh ai, tập ký, NXB Quân đội - 2008; Pơ Thi mênh mang mùa gió, tập ký, NXB Văn hóa dân tộc - 2009…

Một lần Tiến sĩ trần Hữu Sơn, giám đốc sở Văn hóa - Thông tin - Thể thao là ủy viên Ban thường vụ hội văn nghệ Dân gian kiêm Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Lào Cai đăng cai một cuộc họp Ban chấp hành tại Sa Pa, Linh Nga là ủy viên BCH cũng ra họp. Tôi được tham gia tất cả các hoạt động kỳ họp với tư cách Phóng viên - Biên tập viên tạp chí văn nghệ Lào Cai. Đến chương trình đi thăm bãi đá khắc cổ thì trời mưa tầm tã, nhưng mọi người đều hồ hởi lên xe. Xuống bãi đá, chúng tôi cởi bỏ giầy, dép để lội bùn trơn. Giáo sư Trần Quốc Vượng không ngần ngại, cứ dấn bước, nên tôi phải bám theo. Lúc tập trung tại chỗ đỗ xe để về, tôi mới thấy Linh Nga lấm đầy bùn đất.

 

- Cuộc sống sao cứ cực khổ mãi!

- Linh Nga vừa lên thăm mấy nhà trên cao đó à? Muôn đời chỉ trông mong vào mấy mảnh ruộng bậc thang này thôi!

Linh Nga thở dài rồi im lặng suốt chặng đường về thị trấn.

Xong việc ở Sa Pa, các vị về thành phố Lào Cai gặp gỡ với lãnh đạo tỉnh, hồi đó ông Bùi Quang Vinh làm Chủ tịch, ông Giàng Seo Phử là Bí thư. Sau buổi làm việc, lãnh đạo tỉnh chiêu đãi đoàn tại Nhà khách số 1. Tiến sĩ Trần Hữu Sơn giới thiệu đến Linh Nga Niêkđăm, nói thêm là con gái ông Y Ngông Niêkđăm, ông Phử tiến đến bắt tay cùng với lời chào: “Công chúa Êđê cũng lặn lội đến đây với chúng tôi!”. Linh Nga chỉ khẽ nở nụ cười xã giao bên khóe môi.

Chỉ có thế!

Lời ông Phử thành gợi ý cho tôi phác thảo mấy nét chân dung về một nghệ sĩ – nhà văn người dân tộc thiểu số Linh Nga Niêkđăm cùng với những văn nghệ sĩ khác tôi tình cờ được gặp. Tuy nhiên trước hết, mong bạn đọc đại xá cho cái tính gàn dở của tôi (mà hình như bất cứ ai đăm chiêu với trang bản thảo ít nhiều cũng có tật “gàn”, “dở hơi” thì phải), là bởi cái tạng tôi không thích tụng ca, tung hê ai, lại càng tránh cái sự bôi bác; tôi chỉ viết ra những điều mình thấy, mình cảm nhận được; là bởi mỗi người đều có cách tỏa sáng như những vì tinh tú; lại cũng hình như cuộc đời buộc họ phải cầm bút dù không thể đo đếm được năng khiếu thiên bẩm. Nói cuộc đời buộc họ phải cầm bút là vì họ không phải khoe khoang, lớn tiếng, mà căn nguyên là mỗi người gánh chịu một nỗi đau cần phải tãi bày, người đau nỗi đau riêng thì viết tình ca; người đau nỗi đau chung thì viết anh hùng ca; tất nhiên mỗi người một hơi thở nghệ thuật. Linh Nga viết: “Truyện ngắn đầu tay: Gió vẫn thổi từ rừng. Tập truyện ngắn đầu tiên: Con rắn màu xanh da trời. Có thể là dị đoan nhưng hình như lĩnh vực văn học, Tây Nguyên đã chọn tôi, cố tình đẩy tôi vào con đường ấy trong khi tôi chỉ chuyên tâm vào giảng dạy âm nhạc…”. Và Linh Nga đã có những học trò xuất sắc như YMoan, H’Giang, Siu Black… Trước đó, năm 1982, cả hai vợ chồng, hai nhà văn hóa dân tộc Linh Nga - Lý Son đã bắt tay vào công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian Tây Nguyên.

Nói đến văn hóa dân gian, tựa như những cánh rừng đại ngàn thâm u điệp trùng càng đi sâu vào càng lý thú, càng đi càng bị cuốn hút. Linh Nga nói rằng về với buôn làng, văn hóa Tây Nguyên trở thành nỗi ám ảnh thường trực không chỉ vì khám phá ra những nét đẹp, phóng khoáng nguyên sơ mà còn có cả nỗi quặn thắt bởi sự mất mát mỗi ngày ngay trước mắt. Hẳn là vì thế mà Linh Nga xuất hiện ở nhiều hội nghị, lễ hội, hội thảo, đại hội… của giới những người hoạt động văn hóa văn nghệ, và hễ đến là thể nào bà cũng có bài phát biểu đau đáu về nền văn hóa các dân tộc. Thi thoảng tôi có gặp bà nhưng sao cứ cảm thấy lạnh lùng xa xôi, nên chỉ chào hỏi xã giao vì hình như mọi lúc mọi nơi bà đều giành tâm trí cho công việc, ít giao du tào lao, đến đâu, gặp ai toàn công việc.  Những ngày đầu tháng 8/2010, đại hội 8 toàn thể hội viên nhà văn tại Học viện chính trị quốc gia, bà ngồi trên bàn Chủ tịch đoàn thật oai vệ, điều hành dõng dạc, tôi ngồi mãi xó hội trường, không thể có cơ hội chào nhau đã đành, giờ giải lao, vô khối người xúm xít xung quanh bà. Vậy nên có lúc ý nghĩ hài hước xuất hiện trong tôi: Đó là người muốn xòe tay che cả bầu trời nắng gắt mưa tuôn chăng? Nhưng nhất quyết không phải vậy! Cộng đồng đại gia đình của bà đều học hành cao, công việc thành đạt, con cháu đề huề, cuộc sống vương giả chẳng phải lo lắng gì. Ngay cả tuổi niên thiếu, tuổi thanh xuân của bà có lẽ cũng không lận đận vương vấn gì nhiều. Bà cũng không mấy đa sầu đa cảm. Vậy thì cái sự “lạnh lùng xa xôi” đích thị là tâm thế của con nhà trâm anh thế phiệt! Một chút nghênh ngang. Một bản lĩnh. Tôi nhận ra, “công chúa”,  từ gọi của ông Phử là chính xác!

Vĩ thanh.

“- Có lẽ tôi không có mấy năng lực sáng tạo. Sáng tác là một công việc khó nhọc hơn bất cứ công việc gì. Vậy nên hứng thì làm. Còn thì tôi sẽ cố gắng với công việc nghiên cứu, sưu tầm!”. “- Âm nhạc thì sao?”. “- Nói rồi, sáng tác gồm cả văn và nhạc. Tuy nhiên tôi không buông trôi thứ gì. Vẫn dạy nhạc. Hứng lên thì viết. Những năm gần đây tôi cố gắng kiếm tìm xin dự án khôi phục và bảo tồn văn hóa dân tộc bằng việc mở các lớp truyền dạy nghề thủ công, nhạc cụ dân gian, chữ dân tộc, tổ chức các buổi tọa đàm nhóm với bà con. Công việc cứ liên miên…!”. Trong biết bao công việc liên miên ấy, tôi có nghe nói bà đã được các tổ chức văn hóa mời đi nhiều nước quốc tế, nhưng “Công Chúa” không hề hở miệng với tôi một lời.

Bây giờ, thỉnh thoảng chúng tôi vẫn gửi mail cho nhau.

Chỉ có thế!

Và có lẽ tốt hơn, tôi nên chấm kết bài viết của mình, cũng theo cách lạnh lùng, xa xôi.

 

 

[...]
Xem tiếp

Chim Ta Lố của núi rừng Hrê

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-02-06

      

                Con chim Ta Lố của vùng người Hrê rất hay xuất hiện trong tác phẩm của chị Nga Ri Vê. Tôi chưa từng được nghe tiếng hót của chim Ta Lố, cũng không biết nó tương tự hay là con chim gì trong tiếng Việt. ( Chị bảo “ Chim Ta lố tiếng ngân vang, hay hót vào buổi sáng sớm” ). Nhưng tôi thích ví văn, thơ của chị Nga Ri Vê như tiếng con chim Ta Lố ấy, rất quen thuộc với người Hrê, và không dễ lẫn trong tiếng hót của hàng ngàn loại chim khác của núi rừng. 

Có một lần ngủ chung phòng với chị tại Hà Nội, nhân một kỳ họp gì đó của Hội văn nghệ dân tộc, gần những ngày cuối cùng, chị mới rụt rè bảo tôi :

-          Em đọc thử cái này của chị xem

Cứ nghĩ là bài thơ Nga Ri Vê mới làm, vì lâu lâu tôi hay hỏi đọc, để xem có bài gì hợp tâm trạng mình mà phổ nhạc không, đâu ngờ chị đưa cho đọc một bài tản văn.

Thường, khi học phổ thông ở trường dân tộc nội trú như chúng tôi ( hồi đó còn gọi là Trường học sinh miền Nam số 5, sau này mới gộp tất cả trong Trường cán bộ dân tộc miền Nam),giỏi hoặc thích môn gì, sau này vào đại học các thày cô hay hướng mình vào ngành đó. Nga Ri vê và tôi đều đã từng tham gia thi học sinh giỏi văn của trường, nên sau khi học xong lớp 10, chị đi đại học sư phạm văn, rồi làm thơ, cũng là điều dễ hiểu. Tuy biết nhau nhiều năm, nhưng tôi chưa thấy chị viết văn xuôi bao giờ.

Tản văn chị đưa tôi đọc hôm đó khá đặc biệt. Nội dung chỉ là sự tự trấn an mình về những gì không vui, không thuận thảo đã gặp trong cuộc sống, nhưng rất khúc triết tư duy và câu cú ( vì thế mà chị e ngại khi đưa tôi đọc). Biết chị quả thực gặp nhiều “ sự cố” nếu không muốn nói là bất hạnh về đời sống tình cảm, nên có gì u ẩn cũng không lạ, nhưng tôi không ngờ suy nghĩ của chị lại rất lạc quan. Có lẽ chính vì tư tưởng lạc quan ấy, mà đang làm hiệu trưởng trường dân tộc nội trú cấp ba của tỉnh ở thị xã ( Lúc đó Quảng Ngãi chưa được gọi là thành phố), chị xin về làm hiệu trưởng cũng một trường dân tộc nội trú, nhưng lại là cấp hai, ở một huyện miền núi. Chị đơn giản trả lời những ai hỏi , rằng “ quê mình khó khăn, không về đó thì ai về?” .Thú vị với cách viết, cách nghĩ của chị, tôi hết lời động viên chị nên mạnh dạn tiếp tục viết văn xuôi đi.

 Bẵng đi vài năm , không thấy chị nói gì, thơ thì vẫn cứ đều đều. Mãi cho tới cuối năm 2010, chị gửi cho tôi gần như toàn bộ những sáng tác của mình : bốn tập truyện cổ chị sưu tầm và viết lại, năm tập thơ, và đặc biệt hơn, là một tập  truyện – ký còn thơm mùi mực in “ Người kể Mon  ”

                Tập văn xuôi của Nga Ri Vê có 18 truyện ngắn và bút ký. Dài nhất là truyện Kây AXót, chị viết ở Trại sáng tác tại Buôn Ma Thuột, đã từng được chị kể đến khi tự bạch đời văn của mình, còn lại đều là những truyện và bài viết ngắn. Nội dung kể về con người và những đổi thay của cuộc sống trên quê hương Quảng Ngãi của tác giả. Họ là những thanh niên nam nữ người dân tộc HRê, Ka Dong như Kây A Xot, Y Mai,Lê Văn Đường vật vã hay vô tư dấn với cuộc đổi đời;  là người nghệ nhân già Phạm Văn Hêng đau đáu với việc gìn giữ vốn văn hoá truyền thống của tộc người;là những cô giáo, thày giáo như Y Sao một lòng vì học sinh miền núi, dân tộc; là những miền đất mà cái tên đọc lên nghe đã thấy xa xôi như Xa Ruông, Linh Mo, Ka Mua….đang từng ngày xoá bỏ những cái lạc hậu cũ để đổi thay. Tâm hồn người trí thức dân tộc trong chị dường như phơi phới lên với cuộc sống mới đang diễn ra mọi lúc, mọi nơi, quặn thắt với cảnh ngộ của mỗi em bé, mỗi người phụ nữ chưa thoát khỏi hủ tục cũ.

                Chuyện “Kây Axót” xuyên suốt cuộc đời một già làng người dân tộc Ka Dong, từ khi còn trai tráng đến khi theo ông bà về cõi mang lung, bị những tập tục cũ của plây ràng buộc, mà cuộc sống không được hoàn toàn như chí trai mong muốn. Rất nhiều phong tục, tập quán lẫn những lời nói vần dân gian Ka Dong được chị vận dụng để chuyển tải nội dung chuyện này. Đây cũng có thể coi là một trong những thành công trong văn xuôi của Nga Ri Vê.

                “Sang Điêng” lại là câu chuyện về một cậu bé mồ côi sống trong sự đùm bọc của plây và cô giáo mà trưởng thành. Toàn bộ câu chuyện toát lên vẻ đẹp không chỉ của thiên nhiên, mà còn của tập quán ràng buộc cộng đồng một cách tự nguyện, trong đời sống người dân tộc miền núi.

      “Dang dở Chuyện của Y Mai”   là hai chuyện tình lãng mạn và thủy chung của Hoài Hương và Y Loan với những người thày giáo - liệt sỹ. …

                Đó có thể được coi là năm truyện ngắn. Những bài viết còn lại là các  bút ký hay chỉ là những bài báo về những con người, những miền đất, những sự việc buồn vui mà tác giả gặp trên con đường sưu tầm chuyện cổ miền núi Quảng Ngãi của chị, như  : “ Người kể Mon, Quê chồng, Ký ức mùa xuân, Có một thôn Gò Chè như thế, Người con gái núi Ka Mua…

                Như đã nói ở trên, là một cô giáo dạy văn cấp ba, Nga Ri Vê có điều kiện được tiếp xúc với đầy đủ các tác giả và tác phẩm văn học nổi tiếng trong nước và thế giới, qua suốt mười năm học phổ thông và bốn năm đại học. Chính vì vậy mà chị không mắc những lỗi sơ đẳng mà người cầm bút dân tộc thiểu số thường hay mắc, đó là lúng túng với các dấu chấm, phảy và cách hành văn. Cũng do đó mà câu chữ luôn luôn đúng văn phạm, gọn gàng, khúc triết, thậm chí còn có phần trau chuốt. Bút ký của chị cũng nhờ đó mà đẹp hơn, có văn, có hồn hơn

 Dường như con mắt của nhà thơ nhìn đâu cũng thấy…thơ, nên hình ảnh quê hương Quảng Ngãi, và nhất là những vùng quê người Hrê, người Ka Dong hiện lên trong tác phẩm của chị đều thật đẹp, như  “ Con suối Huy Măng thức giấc. Rì rào róc rách, giăng đầy sương rơi. Plây Huy Măng hiện dần trong sương mờ, hồng hào bên con suối xanh biếc” . Làng xóm của người Hrê hiện ra thật gần gũi, thanh bình “ Con chim Ta Lố cần mẫn gõ những nốt nhạc dồn dập , gấp gáp. Tiếng gà gần, tiếng gà xa, rắc lên không gian im ắng, thanh bình  những điệp khúc muôn thuở của bình minh…bếp nào cũng đỏ lửa”…Lũ con jêng ( con gái) , xăng éo ( con trai) quê chị đẹp như những sơn nữ trong trang phục truyền thống “ Cổ lấp lánh chiếc kiềng đồng, cùng sắc màu xanh đỏ trắng vàng của những chuỗi cườm nhỏ đeo dài xuống bụng và cuốn quanh lưng, thòng ngang hông. Những chiếc kaning lục lạc dắt quanh mình, váy thổ cẩm và khăn đội đầu tua rua sợi chỉ đỏ…” . Có yêu lắm người ta mới nhìn ra vẻ đẹp mặn mà như muối mỏ ấy. Ngòi bút của chị càng tung tẩy hơn khi dịch và viết lại rất nhiều các câu chuyện cổ tích Hrê, Ka Dong, Cor …mà chị sưu tầm được.

                Cũng vì yêu, mà những câu chuyện chị kể, hầu hết là những người tốt, việc tốt, sự đổi thay tốt đẹp của miền núi. Có một vài chuyện tiêu cực, thì cái xót xa trong tâm hồn chị lại khiến người đọc không khỏi bùi ngùi, tiếc nuối cùng tác giả.

                Ai đó nói “ văn là người”  có lẽ đúng với trường hợp của Nga Ri Vê. Nếu trong thơ có đôi lúc chị bộc lộ sự mãnh liệt của một tâm hồn khao khát yêu thương , hay nói cách khác của một cô giáo dạy văn lãng mạn, thì trong tất cả tác phẩm văn xuôi của chị, cái chân chất, hồn hậu , hiền lành của bản tính thường ngày ở chị, lại như toát lên rất rõ.

                Truyện hay ký của chị nhiều hình ảnh rất đẹp về  các miền quê,  rất chân thật khi khắc hoạ chân dung và tính cách con người. Chính vì vậy mà khoảng cách giữa truyện và ký rất gần nhau. Dường như tất cả đều là những câu chuyện thật, người  thật mà tác giả gặp trong cuộc sống, chị chỉ dặm thêm đôi chút hình ảnh, đặc biệt là phong tục tập quán cho câu chuyện phong phú và dài hơn đôi chút, chứ chưa hề “ dựng chuyện” . Phong tục tập quán của các tộc người Hrê, Ka Dong, Cor …vùng miền núi Quảng Ngãi, cũng chính là yếu tố để phân biệt giữa truyện và ký của Nga Ri Vê. Đọc những truyện ngắn này, có thể hình dung thấy đời sống cộng đồng vui buồn có nhau ( “mọi người tập trung lại, yên lặng, trân trọng, không ai được vắng mặt, không ai thờ ơ”- Sang Điêng), tục tang ma của người Ka Dong ( “ không dùng quan tài mà lấy vỏ cây ahlôi quấn thi hài người chết lại, rồi dùng chiếu tự dệt , lấy dây rừng buộc chặt rồi mới khiêng đi chôn”. Chia của cho người chết là phụ nữ váy áo, chuỗi cườm đều không được dùng màu đỏ …Chuyện Kây A Xót), hay cưới hỏi ( vợ chồng “ không mời nhau trầu cau, vì trong trầu cau có chất bạc của vôi, có chất cay của trầu. Cũng không mời nhau li rượu, vì trong rượu có men say làm rối cái đầu, làm xấu cái bụng, sợ cãi nhau, bỏ nhau” – Sang Điêng). Công việc sưu tầm chuyện cổ cũng giúp chị vận dụng được  nghệ thuật đối xứng, biền ngẫu thường phổ biến trong văn học truyền miệng Tây Nguyên, như cách nói ví von, so sánh “ nó như con gà tơ còn núp trong đôi cánh mẹ , như con chim non đói khát chờ mẹ đi kiếm mồi về mớm cho ăn” ( Sang Điêng). Hoặc “ tôi ngó lên trời, mây bàng bạc buông trôi. Tôi ngó lên núi, núi vẫn dáng voi phục, hổ ngồi. Tôi ngó vào anh, tôi thấy anh nhìn vào tôi . Thôi vậy, anh cứ làm hạt mầm, tôi làm giọt mưa”…( Chuyện người kể mon) …vv..

Tuy nhiên, đây cũng là một trong những nhược điểm của Nga Ri Vê : đam mê quá mà trích dẫn phong tục, lời nói vần dày đặc, làm loãng đi nội dung cốt truyện, thậm chí có những đoạn không cần phải trích dài lê thê đến thế ( Chuyện Kây A Xot) . Đấy cũng là một trong những yếu điểm của một vài người cầm bút ở Tây Nguyên ( ngay kể cả nhà văn Nguyên Ngọc cũng không tiết chế được việc đưa các phong tục, tập quán vào  trong bộ phim dựa trên tác phẩm nối tiếng quen thuộc “ Đất nước đứng lên” đó thôi ).

Nga Ri Vê còn bị “ám ảnh” bởi văn học dân tộc thiểu số miền núi phía bắc mà chị được tiếp thu trong suốt quá trình học từ phổ thông lên đại học ( quả thật là văn học Tây Nguyên được trích giảng rất ít), nên sử dụng cả lối nói của người dân tộc phía Bắc trong khá nhiều trang viết ( như “ mẹ có đau cũng ráng đi làm cái nương, cái rẫy để có cái ăn nuôi con khôn lớn. Cho con đi học để có cái chữ làm khôn cái đầu con” – Sang Điêng ), một lối nói hoàn toàn xa lạ đối với ngôn từ các dân tộc ít người ở Trường Sơn – Tây Nguyên. Cũng từ thế mạnh về học vấn đó, mà đôi khi trong các chuyện ngắn, chị sử dụng lối nói, lối nghĩ không phù hợp với nhân vật là người dân tộc vùng xa, vùng sâu miền núi, như khi nói đến việc cả làng chung lo tang lễ , chị dùng các cụm từ “ bà con tập trung lại, trân trọng trước linh hồn người chết” . Hoặc như “ các biến cố trong gia đình A Xot đã qua, nhưng sự sa sút của gia đình cả về tinh thần và vật chất thì mãi mãi còn lại. Không những thế mỗi ngày một bành trướng ra” ( Kây A Xot) ….

Cũng như nhiều người dân tộc thiểu số viết văn xuôi, truyện của Nga Ri Vê không có nhiều mâu thuẫn, nhân vật  không có diễn biến tâm lý phức tạp, mọi việc đơn giản đúng như lối nghĩ, lối nói của người miền núi. Nên nhiều khi không tạo được sự dồn nén. Những bút ký của chị là người thật, việc thật ở những vùng mà bước chân chị đã từng đi và  đến, lại càng phản ánh đúng tâm hồn chân chất, nhuần nhị của của không chỉ tộc người mà của cả Nga Ri Vê.

Tiếc rằng Nga Ri Vê nồng nàn, sáng tạo trong thơ bao nhiêu, thì trong văn xuôi chị lại rụt rè, thiếu tự tin mà trở nên có phần khô cứng bấy nhiêu trong việc “ dựng chuyện” . Không  chuyên sâu, cũng như ít có dịp được trao đổi với đồng nghiệp về cách viết, hay chí ít được tham dự một khoá tập huấn về văn xuôi nào đó, nên mảng văn xuôi Nga Ri Vê không mấy đậm nét. Giá có nhiều điều kiện và bớt tự ti hơn, tôi không chỉ mong mà còn tin, chị có thể trở thành một cây bút đa dạng cả thơ và văn của các dân tộc thiểu số Trường Sơn – Tây Nguyên. Và chắc cũng như thơ, giọng hót của con chim Ta Lố rừng Quảng Ngãi sẽ rất riêng, bởi được uống nước suối nguồn, tắm trong gió hoang, khoác tấm áo nắng ban mai, ăn hạt lúa, hạt bắp từ mảnh rẫy của  tộc  người mình mà cất cánh bay lên và hót chơi.

 

 

 

[...]
Xem tiếp

Em muốn làm theo một cách khác

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-15-05

Năm 2013, xem vieo “ Tôi yêu nước sạch” được giải nhất của cuộc thi Nước sạch toàn quốc do Bộ Tài nguyên & Môi trường chủ trì, tôi chú ý đến tác giả và đoán là một bạn trẻ người dân tộc. Rồi làm quen nhau qua những đoạn video ngắn về cuộc sống buôn làng trên facebok. Đoàn làm phim Rừng và sự sống của VTV cho chúng tôi cơ hội gặp gỡ và tâm sự.

Em kể, bắt đầu thích làm phim từ năm học lớp 10 nhưng không có điều kiện. Hết lớp 12, em làm hồ sơ xin thi vào 2 trường Đại học Tây Nguyên và Đại học Sân khấu điện ảnh. Nhưng ba em, một cán bộ địa chính ở thị trấn nhất định không đồng ý. Đơn giản chỉ vì ông cho rằng theo học địa chính, ngày em ra trường cũng là lúc ông có thể nghỉ ngơi, xin cho con ngồi vào vị trí của mình ( nghĩa là chắc chắn có việc làm ở một cơ quan nhà nước, theo mong mỏi của tất cả các bậc cha mẹ khi chọn ngành nghề cho con cái ). Hơn nữa, quan niệm về cái nghề chơi bời nhiều hơn làm, còn ám ảnh suy nghĩ của ông. Là một đứa con ngoan, em nghe lời cha chỉ định “ đi thi cho rớt”, không ngờ vẫn đỗ và theo học quản lý đất đai tại trường Đại học Tây Nguyên. Cái ý thích làm phim cứ cựa quậy trong đầu, để rồi thay vì nộp các tiểu luận mỗi kỳ bằng văn bản, nhóm các em làm những video clip về môi trường, quay ngay chính tại nơi mình học. Em khúc khích cười có đôi chút tự hào “ không chỉ được điểm cao đâu. Tới bây giờ video Cầu nín thở cô giáo vẫn giữ làm tư liệu cho các bạn khóa sau tham khảo đấy”.

Sau khi được giải thưởng, lòng say mê làm phim càng như lửa đốt. Học dở năm thứ 4, em lén bỏ trường xuống thành phố Hồ Chí Minh. Không dám nói với cha, cũng không xin tiền mẹ , vừa đi làm kiếm tiền sống, vừa theo học quay phim Cái giải nhất nước sạch khiến em tiếp cận được với nghệ sỹ Phan Gia Nhất Linh. Mặc dù thày chẳng trực tiếp dạy dỗ gì, nhưng theo thày, nghe, nhìn và chịu khó áp dụng vào việc dựng phim thuê, em không chỉ học được nhiều điều về nghề, mà còn đủ sức tồn tại ở cái thành phố bậc nhất của cả nước trong việc cuốn con người vào vòng xoay kiếm sống tới chóng mặt ấy. Tất nhiên vì cái việc thứ 7, chủ nhật chẳng thấy về, cuối cùng thì cha cũng biết. Nhưng không làm gì được đứa con trai lớn, khi nó đâu cần phải có sự trợ giúp của gia đình để sống .

Lại cười “ mấy video clip Hai anh em, Vị đời…em làm chơi ở bon làng đăng lên facebok  được tới hàng triệu lượt người xem. Cứ 1 triệu lượt người coi là em được 1$. Thấy hay hay và có tiền, em quyết định tìm cho mình một lối đi khác”.

Người “ khai sáng” con đường tìm về văn hóa của chính tộc người mình cho em, là một trí thức dân tộc Mnông Nong ở Bình Phước, anh Điểu Bửu, làm quen được ở thành phố Hồ Chí Minh. Là thành viên của một cộng đồng và gia đình đã hoàn toàn chuyển đổi đức tin theo đạo Tin lành, nên không còn bất cứ một phong tục tập quán nào như đánh ching, cưới hỏi, tang ma… của văn hóa truyền thống được giữ lại; nhưng Điểu Bửu lại có sự hiểu biết và tình yêu sâu nặng với vốn văn hóa dân gian cổ truyền của tộc người mình. Anh truyền ngọn lửa đam mê đến gần như bế tắc ấy của mình sang cho Lâm Đăng. Những câu chuyện bên ly cà phê sáng tối, những bình luận về các thước phim quay còn đầy vụng về được bạn bè trên facebok chia sẻ, khiến em “ ngộ” ra một điều “ văn hóa, lối sống của tộc người mình hay thế, đẹp thế, mà chính  mình cũng chưa hiểu hết. Bằng cách nào để thế hệ các bạn trẻ như mình đều thấy ra điều ấy?”.

“ Em không phản đối sách vở và bài viết đâu, đó là tập hợp tri thức của loài người, sao mình bỏ được? Nhưng có nhiều con đường cô nhỉ? Bây giờ người ta đi làm, kiếm sống vất vả, thời gian rảnh rỗi đâu có nhiều để mà đọc sách. Nhất là lớp trẻ nữa, lướt mạng xem tin ngắn, video ngắn, hài hài một chút, là lạ một chút,  vừa có được thông tin, vừa có sự thư giãn… Nhiều người xem, nhiều người bình luận, thậm chí là tranh cãi nảy lửa, cũng là để vấn đề được đào sâu hơn. Nên em sẽ làm khác đi ”.

Đám thanh niên ham chơi trong buôn rất quý Lâm Đăng, không chỉ vì “ để được quay lên phim”, mà còn vì em lan tỏa được cả tình yêu văn hóa truyền thống của tộc người. Mẹ Đăng vui vẻ kể “ Nó xin hai con heo làng và hai ché rượu cần. Rồi rủ đám thanh niên trong buôn tới đốt lửa nướng heo, hát karaoke suốt đêm ngoài sân. Mẹ bảo khuya rồi, để mọi người trong bon ngủ. Nó nói chỉ một đêm thôi, không có lần sau đâu”. Trong đêm ấy, các anh em đã trò chuyện những gì, mà chỉ sau đó vài tháng, khi Lâm Đăng gọi tới nhà học tấu ching goong thì hầu như đủ mặt. Nhất là khi Đăng huy động tham gia video clip về một sử thi MNông nào đó. Đội ching trẻ của buôn bây giờ còn có thêm cơ hội phục vụ du lịch khi cần đến nữa. Hào hứng lắm. Việc lêu lổng chơi bời cũng bớt hẳn. Không chỉ các nghệ nhân già yên tâm, mà gia đình các bạn trẻ cũng vui lòng. Cũng không phải chỉ thế , hàng triệu lượt người xem trên yutobe, có tháng mang về cho Đăng tới 12 triệu đồng. Vậy là cha yên tâm để con theo đuổi đam mê của mình. Còn mẹ. một nghệ nhân đam mê dệt thổ cẩm, thì ủng hộ hết lòng, thậm chí còn theo Đăng đi làm phim.

Câu chuyện của chúng tôi trong bữa ăn trưa thêm đậm đà với toàn những đặc sản núi rừng, nào đọt mây luộc, lá mì cùng với đọt đu đủ xào cá khô, canh lá bép, măng lửa và cà dại, ngon tới hai chậu cơm hết hồi nào không hay. Những món ăn mà cha mẹ của Lâm Đăng thết những người cùng chung niềm đau đáu về sự mất đi của những tinh hoa của một miền đất “ ăn rừng” ngày nào của GS Comdominas.

Cha là người Mnông Rlâm, mẹ là người Jẻ –Triêng. Cư trú ngay tại buôn Jun, buôn du lịch nổi tiếng bên cạnh hồ Lăk. Dòng máu Tây Nguyên chảy rần rật trong người. Đó là những động lực để Lâm Đăng  bằng chính năng khiếu của mình, những sự tìm tòi để hiểu chính mình, qua những đoạn video clip, những câu hỏi từ một tập quán, một cái tên địa danh, cách đặt tên cho con cái, nghề dệt chiếu, hội đua voi… khơi dậy làn sóng bình luận và kiếm tìm của những người DTTS, kể cả những “ gạo cội” trong làng sưu tầm văn hóa Tây Nguyên, lẫn các bạn trẻ cùng thế hệ thông qua sự lan tỏa nhanh của facebok .

Đó là cách em chọn lựa con đường để cùng bạn bè tiếp cận và chung tay gìn giữ văn hóa truyền thống. Mong có được nhiều bạn trẻ người các dân tộc thiểu số, tìm được đường về với cội nguồn như Y Lâm Đăng Bing

 

[...]
Xem tiếp