Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Bò một nắng, muối kiến vàng

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-14-08

Món ăn này là món ngon của phố núi Gia Lai. Miếng bò ướp mắm muối, tiêu, sả, ớt hiểm rồi mang phơi nắng.

Bạn nên nướng thịt trên bếp than hồng cho vừa tới, nếu quá lâu sẽ khiến thịt khô cứng mất ngon, sau đó xé sợi. Để làm ra bò một nắng không cầu kì nhưng quan trọng đầu tiên ở khâu lựa chọn nguyên liệu: thịt đùi hoặc thịt thăn bò tơ được thả rong trên các sườn đồi, quanh năm ăn cỏ uống nước suối nên thịt rất chắc, mà chỉ là chỗ. Không ai lấy thịt bò nuôi để làm bò một nắng, vì loại thịt bò đó thịt bở, có mỡ, khi làm khô sẽ rất hao, mà hương vị không ngon. 

 

Những thớ thịt đỏ hồng đó càng ngon hơn khi kết hợp cùng thứ muối lạ lùng của vùng Ayun Pa, muối kiến vàng. Kiến vàng trong rừng sâu rang sơ, giã với ớt thật cay, kèm vài loại lá rừng, muối hạt. Thưởng thức chung với lá é càng thêm tròn vị với bò ngọt, kiến chua, muối mặn, lá é nồng. Thứ hương vị đó đã một lần thưởng thức thì thật khó quên.

V.Ly

[...]
Xem tiếp

Văn xuôi H'Linh Niê

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-01-08

         Nghiên cứu một số phương diện nghệ thuật cơ bản trong truyện ký Linh Nga Niê Kdam ( H’Linh Niê) chúng tôi nhận thấy: nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong văn chương của chị vô cùng tinh tế, phong phú, đa dạng. Chị mở ra cả một kho tàng ngôn ngữ mang đậm dấu ấn dân tộc Tây Nguyên. Việc sử dụng hệ thống từ vựng dân tộc, giữ nguyên vẹn câu văn bằng tiếng dân tộc kết hợp với lớp ngôn từ vừa mộc mạc giản dị vừa triết lý sâu sắc, gần gũi với lời ăn tiếng nói, tư duy người dân tộc khiến cho ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn trở nên chân thực, mang đậm hồn cốt Tây Nguyên. Chất riêng trong ngôn ngữ nghệ thuật của H’Linh Niê là chị đưa âm nhạc dân gian truyền thống vào những câu văn xuôi bay bổng, giàu hình ảnh, giàu tình cảm cảm xúc khiến mỗi áng văn chương như một mảnh tâm tình đầy dịu ngọt, thẫm đẫm chất thơ, chất nhạc làm say đắm lòng người. Chị còn đưa vào văn xuôi của mình nhiều yếu tố huyễn ảo, sử thi huyền thoại cùng các câu chuyện cổ làm cho tác phẩm thêm phong phú nội dung, thêm đậm đà bản sắc văn hóa, tạo được phong cách riêng độc đáo. Bên cạnh đó, diễn biến tâm lý của nhân vật dường như chưa được xoáy sâu, thì chúng ta không thể phủ nhận được Linh Nga Niê Kdam quả là một nhà văn tài hoa, đầy sáng tạo trong việc kế thừa, hòa trộn văn hóa truyền thống với lối viết hiện đại; luôn lao động nghệ thuật nghiêm túc, không ngừng tìm tòi đổi mới. Chị đã thành công trong việc đưa vẻ đẹp văn hóa dân tộc Tây Nguyên hòa nhập vào dòng văn hóa đất Việt. Thông qua các trang văn xuôi thấm đẫm chất dân tộc và miền núi nhưng cũng rất hiện đại của mình, chị thật sự xứng đáng là nhà văn Tây Nguyên tiêu biểu thời kì đổi mới.

       1. Nhà văn Linh Nga Niê Kdam – H’Linh Niê là một trong số những nhà văn DTTS ở Tây Nguyên trưởng thành sau những năm đổi mới của đất nước. Mặc dù không sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Tây Nguyên nhưng trái tim chị vẫn luôn hướng về quê hương, dòng tộc. Chị có một tình cảm sâu nặng với cuộc sống, con người, bản sắc văn hóa Tây Nguyên bởi ngay thời thơ ấu chị đã được bồi đắp, giáo dục ý thức dân tộc từ chính người cha Tây Nguyên kính yêu của mình. Vì thế, khi trưởng thành, hoàn thiện học vấn, chị tự nguyện trở về quê hương, bắt đầu khai thông một con đường học tập mới, nghiên cứu, tìm hiểu, sưu tầm văn hóa văn nghệ dân gian và từ đó mà sống, sáng tác, cống hiến hết mình cho văn học nghệ thuật Tây Nguyên. Nói một cách khác, chính văn hóa dân gian truyền thống Tây Nguyên đã tạo nên Linh Nga Niê kdam. Như lời chị thường nói nghiêm túc “ theo quan niệm của người Tây Nguyên thì chính các vị thần linh thiêng và những con người của mảnh đất cao nguyên này, đã ban, đã giao cho tôi tất cả những gì hiện có, như một nghĩa vụ, một sự bắt buộc phải làm thế”. Tuy đến với văn chương hơi muộn (so với một số nhà văn khác) song với sức viết dồi dào, với cảm hứng mãnh liệt, chị đã nhanh chóng đạt được những thành tựu trong sự nghiệp sáng tác văn học. Đến nay chị đã có 4 tập truyện ngắn và 4 bút ký được công bố, vừa có sự kế thừa tinh hoa văn hóa dân tộc lại có nhiều sáng tạo độc đáo hấp dẫn, trong đó có một số tác phẩm được đánh giá cao. Chị trở thành một trong những trí thức tiêu biểu, một nhà văn tiêu biểu của Tây nguyên góp phần phát huy sự phát triển văn học dân tộc.

        2. Nghiên cứu văn xuôi Linh Nga Niê Kdam – H’Linh Niê chúng tôi nhận thấy văn xuôi của chị có mang một vài đặc điểm chung như những nhà văn DTTS khác, nhưng lại có đặc điểm riêng kể cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Tám tập truyện và ký của chị đều tập trung thể hiện tình yêu, niềm tự hào của một người con Tây Nguyên về mảnh đất quê hương cao nguyên yêu dấu của mình. Đó là một vùng thảo nguyên rộng lớn có cảnh sắc thiên nhiên vô cùng hùng vĩ, hoang sơ nhưng cũng rất đỗi lãng mạn, mộng mơ. Bức tranh thiên nhiên trong văn chị rất gần gũi, thân thiết với con người và mang đậm phong vị cao nguyên đất đỏ bazan tràn đầy nắng gió và hương thơm tinh khiết của cỏ cây, hoa lá và sự dữ dội của sông, thác, hồ trên núi cao. Thiên nhiên ấy được cảm nhận từ tình yêu, sự gắn bó, trân trọng của chính nhà văn và được viết nên bởi ngòi bút văn xuôi trữ tình, bay bổng, tràn đầy cảm xúc.

        Bên cạnh đó, nét đặc sắc trong các sáng tác văn học của Linh Nga Niê Kdam ( H’Linh Niê) còn thể hiện ở chỗ chị phản ánh rất sinh động chân dung, tính cách con người Tây Nguyên, cùng nền văn hóa đậm đà bản sắc các dân tộc Tây Nguyên. Đó là những con người sống mạnh mẽ quả cảm, rất mực tài hoa và luôn khao khát vươn lên đổi thay cuộc sống. Họ sinh ra lớn lên, gắn bó với núi rừng nên cách nghĩ, lối tư duy cùng lối sống, lối ứng xử rất giản dị, hồn nhiên, chân thực nhưng cũng rất phóng khoáng, lãng mạn. Họ chính là chủ nhân, là người sáng tạo, lưu truyền và gìn giữ cảnh sắc thiên nhiên cũng như những phong tục tập quán, văn hóa các dân tộc Tây Nguyên. Qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay Tây Nguyên vẫn là một cộng đồng dân tộc giàu bản sắc văn hóa. Nét đẹp văn hóa của họ thể hiện rõ trong kiến trúc nhà ở, trong nghề thủ công, trang phục truyền thống, trong ẩm thực, các loại nhạc cụ dân gian....; đặc biệt hơn là nét đẹp văn hóa thể hiện trong những ngày lễ hội, trong đời sống tâm linh, những tục cưới xin, tang ma, sinh con đẻ cái… Tất cả những nét đẹp văn hóa đó giúp độc giả có cài nhìn sâu sắc hơn về cuộc sống, con người trên mảnh đất này thông qua các trang bút kí và truyện ngắn của nhà văn H’Linh Niê .

        Mặc dù rất tự hào về mảnh đất, con người Tây Nguyên giàu bản sắc văn hóa nhưng Linh Nga Niê Kdam vẫn tỉnh táo nhận ra những khó khăn thách thức mới đối với mảnh đất này: địa thế không thuận lợi, thời tiết khắc nghiệt, thiên tai bão lũ, đói nghèo, lạc hậu, với những hủ tục nặng nề vẫn đang là rào cản con đường phát triển đi lên của nhân dân Tây Nguyên trong thời kì hiện đại. Nhà văn cũng đau đớn nhận thấy sự tha hóa trong lối sống, sự xuống cấp về đạo đức, nhân phẩm của mọt số những người con bản địa ở nơi đây. Những tác động tiêu cực từ mặt trái của đời sống kinh tế thị trường với lối sống thực dụng coi đồng tiền là trên hết; từ sự thay đổi tín ngưỡng tôn giáo một cách nhẹ dạ, cả tin, mù quáng là một trong nhiều nguyên nhân khiến cho văn hóa Tây Nguyên ngày càng bị phai nhạt, mất mát, môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội ở vùng cao ngày càng bị tổn thương nghiêm trọng. Trăn trở, lo âu về vấn đề này, nhà văn tha thiết kêu gọi tất cả mọi người - dù là ai chăng nữa cũng cần có ý thức bảo vệ  những giá trị văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc và phát huy những truyền thống ấy trong đời sống hiện đại hôm nay để mãi mãi con cháu biết và tự hào về cha ông, về dòng tộc, về quê hương đất nước của mình.

         Để thể hiện được những nội dung đó một cách sâu sắc, nhà văn đã sử dụng một số yếu tố nghệ thuật rất hiệu quả, góp phần mang lại những thành công nhất định cho các tác phẩm văn xuôi của mình. Đó là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đậm màu sắc Tây Nguyên, không thể trộn lẫn. Cùng với ngôn ngữ chuẩn mực (toàn dân phổ thông), nhà văn đan cài vào tác phẩm của mình một hệ thống ngôn ngữ bằng tiếng dân tộc Ê đê, kết hợp sáng tạo một loạt các ngôn từ cùng một loạt các hình ảnh và cách diễn đạt mới mẻ; đưa nhạc tính vào những câu văn xuôi khiến cho văn chương của chị rất mượt mà, trữ tình, bay bổng, giàu cảm xúc và dễ đi vào lòng người đọc. Cùng với ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo vừa quen thân vừa mới lạ, nhà văn còn dụng công trong việc xây dựng cốt truyện, tình huống truyện (giàu kịch tính), lồng chất sử thi huyền thoại vào những trang văn… đêm lại một sự hứng thú cho người đọc.

        3. Thông qua những tác phẩm truyện - ký giàu tính chân thực, phong phú về nội dung phản ánh và có nhiều nét mới lạ, độc đáo về nghệ thuật, Linh Nga Niê Kdam đã tự khẳng định được vị trí và những đóng góp quan trọng của mình trong văn xuôi các dân tộc Tây Nguyên. Điểm thành công nhất trong văn xuôi của chị là đã biết kế thừa tinh hoa văn hoá, kho tàng văn học truyền thống Tây Nguyên một cách đầy sáng tạo. Văn chương của chị vừa thể hiện được tư duy hiện đại lại vừa phảng phất hơi thở sử thi huyền thoại; vừa chặt chẽ giàu triết lý vừa lãng mạn bay bổng thiết tha, dịu dàng đầy nữ tính. Bằng sự nỗ lực, bằng sức sáng tạo và trên hết là bằng tình cảm, trái tim, sự nghiệp văn hoá, văn học Tây Nguyên, Linh Nga Niê Kdam ( H’Linh Niê)  đã góp thêm một tiếng nói tâm hồn của người Tây Nguyên trong đời sống văn học các DTTS thời kì hiện đại. Chị xứng đáng là nhà văn nữ DTTS tiêu biểu, là người có nhiều cố gắng góp phần làm giàu có thêm bản sắc dân tộc đối với nền văn học Việt Nam trong thời kì đổi mới và hội nhập.

 

                Vũ Thanh Loan – Luận văn thạc sỹ trường ĐH Thái Nguyên          

 

 

 

 

 

 

 

[...]
Xem tiếp

Những nữ nghệ sỹ của núi rừng Tây Nguyên

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-11-08

Các nữ nghệ sỹ Tây Nguyên chính là những bông hoa tươi thắm tỏa hương giúp nhiều người thêm hiểu thêm yêu mảnh đất này.

Tôi có may mắn được tiếp xúc với một số nữ nghệ sỹ của núi rừng Tây Nguyên và luôn cảm thấy tình đất và tình người của vùng đất này thật đậm đà tha thiết. Sông Mẹ (krông Na), sông Cha (Krông Nô) đã sinh ra những người con gái không chỉ dịu dàng, mát ngọt như nước nguồn ở trong gia đình, mà còn tài năng và mạnh mẽ ở mọi lĩnh vực hoạt động xã hội. Đặc biệt là trong giới Văn hóa - Nghệ thuật.

Cũng bởi lớn lên trong những âm thanh dù đã xa xôi lắm của rừng đại ngàn, trong nhịp điệu mê đắm của những dàn chiêng, trong các điệu hát dân ca trữ tình, những đêm xoang thâu đêm của mùa lễ hội "ăn năm uống tháng" trong các nhà Rông mà gái trai Tây Nguyên rất có năng khiếu nghệ thuật. 

Ngược dòng thời gian, từ những năm đầu thập kỷ 60, đoàn ca múa Tây Nguyên ở Hà Nội đã làm rung động bao trái tim bạn bè yêu âm nhạc trong và ngoài nước bằng những ca khúc như Chim Pong kle, Cô gái Tây Nguyên, hay làn điệu dân ca  Êđê, Giarai, Bana, cùng tiếng Tr'ưng giữ rẫy…Các nữ ca sĩ H'Wil (dân tộc Giarai), Kim Nhớ (dân tộc Hrê),  H'Benh (dân tộc Bana) với giọng hát nồng nàn, tha thiết; các  vũ nữ trong những điệu múa có nguồn gốc từ lao động sản xuất hay vui chơi của dân gian Tây Nguyên như Mùa xuân dệt vải, Ca tu, Roong chiêng, Hội làng đã có những màn biểu diễn làm say đắm lòng người.

Những thế hệ diễn viên người Tây Nguyên tiếp theo ở thập kỷ 70 có nhiều gương mặt đã tiếp tục góp phần ghi dấu ấn trong lĩnh vực nghệ thuật như: Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) Măng Thị Hội (dân tộc Bana Chăm - Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh), Rơchăm Pheng (dân tộc Giarai - Trường Cao đẳng nghệ thuật quân đội), hai NSƯT của đoàn Bông Sen ÊBan Quý (Êđê), Đinh Xuân Va (H’rê), NSND Đinh Xuân  La (H’rê - Đoàn nghệ thuật Đam San), Hồ Thị Kha Y  (Vân Kiều - Trường văn hóa nghệ thuật Gia Lai)…

Hoạt động nghệ thuật của các nữ nghệ sỹ Tây Nguyên ngày một phong phú và được đông đảo công chúng không chỉ trong tỉnh, trong vùng mà trong cả nước yêu mến. Ca sỹ Siu Black (dân tộc Bana) được mệnh danh là con chim sơn ca của đại ngàn Tây Nguyên, người nghệ sỹ được hâm mộ bởi tài năng và lòng đam mê nghề nghiệp. Các ca sĩ: Ka Thiếu, Chil Trinh, Karazan Ut (dân tộc K'Ho), Y Nguch (dân tộc Bana) Rchom H'Oanh (Giarai), Măng Linh Nga, Đinh Thanh Mai (bana)… đều đã từng giành nhiều huy chương vàng, bạc trong các hội diễn nghệ thuật chuyên và không chuyên trong tỉnh, hoặc toàn quốc. 

Diễn viên Kim Nhất (dân tộc Bana) của đoàn ca múa Tây Nguyên sau khi nghỉ hưu vẫn tiếp tục say mê sáng tạo, chị chuyển sang lĩnh vực mới là viết văn. Bằng lối kể chuyện giản dị, các tác phẩm của chị phản ánh chân thực cuộc sống của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên.

đất lành chim đậu”, bên cạnh những nghệ sỹ sinh ra lớn lên ở Tây Nguyên còn có đội ngũ đông đảo những nữ nghệ sỹ chọn nơi đây làm quê hương thứ hai. Họ đã vượt qua những vất vả của đời thường để nâng cao học vấn, rèn luyện tay nghề, làm những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa nghệ thuật. Nhà văn Nguyên Hương đã đoạt giải thưởng văn học trẻ thành phố Hồ Chí Minh, nhà báo Hoàng Thiên Nga (Báo Tiền phong) vừa là một nhà báo rất xông xáo, vừa là một tác giả thơ nữ đậm tình người, tình đời… 

Riêng nữ họa sĩ Mỹ Lệ Thi, vốn là nữ ca sĩ của đoàn ca múa Đăk Lăk năm nào, dù ở xa Tổ quốc, bằng chất liệu nghệ thuật Tây Nguyên, đã trở thành một trong những họa sĩ có tiếng ở Australia… Mỗi người một vẻ làm nên sắc hương văn hóa nghệ thuật của một vùng quê hương giàu đẹp, ấm áp tình người và tình đời dù cuộc sống vẫn còn không ít khó khăn.

Không có người phụ nữ nào hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật ở Tây Nguyên có được cuộc sống dù là vật chất hay tinh thần dễ dàng như ước muốn.  Phải bằng chính sự nỗ lực của bản thân, hay nói như nghệ sỹ Linh Nga Niê kđăm  là bằng đôi cánh của chính mình, chị em đang bay vượt gió, đến với tương lai bằng cả tâm hồn nhạy cảm, đầy ắp yêu thương của người phụ nữ Á Đông. 

Bằng cảm xúc riêng của mỗi người qua những trang văn, thơ, nét bút, lời ca, điệu múa…, chị em không chỉ làm đẹp cho mình mà còn làm đẹp thêm cho cuộc sống. Họ chính là những bông hoa tươi thắm tỏa hương, giúp nhiều người thêm hiểu thêm yêu mảnh đất Tây Nguyên đầy nắng gió và nồng ấm tình người./.

Nhạc sỹ Dân Huyền

[...]
Xem tiếp

Nghe Y Điêng kể “ Chuyện bên bờ sông Hinh”

Được viết bởi : Admin | Ngày 2017-26-07

      Cũng là một người dân tộc thiểu số theo đuổi nghiệp cầm bút, nhưng biết mình lực bất tòng tâm, nên ngoài ngưỡng mộ các nghệ nhân kể trường ca, sử thi - loại “ tiểu thuyết” bằng thơ ca dân gian của Tây Nguyên, tôi còn rất kính nể những người thiểu số viết tiểu thuyết. Bởi học, nói và viết tiếng Việt đối với người dân tộc miền núi đã là đến với một thứ ngoại ngữ khác rồi, mà sáng tác văn học, lại thể loại nhiều vấn đề, nhiều nhân vật như tiểu thuyết nữa…sao  không  giỏi chứ? Thế nên khi tiểu thuyết Hơ Giang của nhà văn Y Điêng ra đời, tôi đã cố tìm đọc cho được. Sau này, nghe ông viết lại chuyện cổ “ ba anh em” thành tiểu thuyết, rồi lại được ông tặng cuốn tiểu thuyết thứ ba “ Chuyện bên bờ Sông Hinh”, thứ tư “ Trung đội người Bâhnar” tôi càng kính nể ông hơn. Nhất là cũng như mọi nhà văn người thiểu số khác, hoàn cảnh lẫn điều kiện kinh tế để tác giả hoàn thành tác phẩm dài hơi không phải là dễ dàng gì.

Dường như những trang viết của Y Điêng trải ra cùng sự lớn lên của chiếc mầm non biếc nảy ra từ những đốt sần trên thân cây, cho đến lúc thành rẫy mì xanh tốt, với mùa thu hoạch củ mập mạp ở vùng đất Hai Riêng. Nên từng trang, từng trang, thấm đẫm hồn thiêng đất trời quê ông.

Y Điêng yêu quê hương Sông Hinh của mình lắm lắm. Ông viết bút ký, làm thơ, viết truyện ngắn, rồi cả tiểu thuyết vẫn một chủ đề những đổi thay trên mảnh đất yêu thương ruột rà ấy của mình. Quê hương Sông Hinh của ông hiện lên rõ mồn một trong từng con chữ  “ Mặt nước hiền hậu, khắc nổi những đợt sóng, làm cho chiếc thuyền nan đưa khách đi ngang phải lắc lư, nước vỗ bì bõm…Những ngọn cây, chùm hoa không còn soi bóng mình nữa. Ngọn cây hết cúi xuống lại ngẩng lên, hoa cây su vàng tươi rơi lả tả xuống mặt nước”

Chuyện bên bờ Sông Hinh” kể về quá trình đến với Việt Minh, đến với cách mạng từ thời kháng chiến chống Pháp của các buôn làng, của hai dòng họ Ksơr và Niê người Êđê, bên bờ con Sông Hinh quê Y Điêng. Đặc biệt là con đường giác ngộ, từ khi còn là một chàng trai khoẻ làm rẫy, giỏi săn bắt, đánh cá cho đến lúc trở thành con chim đầu đàn của Việt Minh của Y Thoa. Chỉ vì yêu người con gái xinh đẹp nhất buôn thuộc dòng họ KSơr, mà Y Thoa bị chánh tổng Y Sô ( cũng thích gạ gẫm H’ Linh) đẩy vào tù. Ở đó anh đã may mắn gặp và được người cán bộ Việt Minh Trần Được mở rộng hiểu biết của mình, để chọn lấy con đường đi theo cách mạng.

Chuyện còn là của cộng đồng buôn Thu luôn gắn bó với nhau trong mọi vui buồn trong cuộc sống nơi núi rừng. Về những con người hiền lành, xinh đẹp, tốt bụng như mẹ con Amí H’Linh mà phải chịu nhiều oan ức; cũng hiền lành , tốt bụng nhưng chìm trong những tập tục lạc hậu cũ kỹ của tộc người từ ngàn xưa, nên vô tình gây ra nỗi thống khổ cho cả gia đình lẫn người khác, như anh em nhà già Ama Thin. Chuyện về Y Sô, kẻ ham giàu, đố kỵ, ngu muội làm tay sai cho Pháp, quay lại  gây chuyện xấu cho đồng tộc, thậm chí cả người cùng dòng họ như mẹ con Amí H’Linh và chia rẽ mối đoàn kết Kinh - Thượng.

“Chuyện bên bờ Sông Hinh” của Y Điêng còn kể với người đọc về những ngày đầu bỡ ngỡ tham gia chống càn, đánh Tây, đuổi Nhật của trai gái quê ông, mà phần nào, tuổi thanh niên hồn nhiên như suối như rừng của ông, chính là một trong những nhân chứng sống của giai đoạn lịch sử ấy. Tiểu thuyết khắc hoạ lại được con đường đến với Việt Minh, với cách mạng giải phóng dân tộc của người Êđê Sông Hinh nói riêng, các dân tộc ít người Tây Nguyên nói chung, tuy đơn giản nhưng đã trở thành sâu đậm và trung thành với lý tưởng; một trong những tác nhân quan trọng, góp phần làm nên thành công của cách mạng Việt Nam, từ những ngày đầu còn trong “ trứng nước”.

      Không chỉ bản thân tác giả đã từng lớn lên theo sự lớn mạnh từ ngày đầu của Mặt trận Việt Minh, hít thở và tắm mình trong không gian hồ hởi ban đầu và quyết liệt từng giai đoạn của cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nên nguồn tư liệu chiến tranh của Y Điêng hết sức dồi dào và sống động; mà ông còn đến với người đọc bằng cách kể chuyện giản dị, không trau chuốt về ngôn từ, không phức tạp hoá các mối quan hệ , mâu thuẫn; sử dụng lối nói, cách nghĩ và nhất là ảnh hưởng của lối kể phóng đại, nhân hóa, cặp đôi , so sánh, tượng hình, tượng thanh …của trường ca, sử thi Tây Nguyên ( như ông kể về ngọn gió Xiăng ở Sông Hinh : Gió thổi thẳng tuột từ tây xuống đông.Tưởng nó đi thẳng ai dè nó lại chia theo các con suối nhỏ…hò lên đồi tranh, làm cho cỏ tranh hết đứng lên lại nằm xuống , từng đợt sóng xanh nối tiếp nhau nhảy múa. Đột ngột nó lại quay về làng dìu dịu, lọt vào khe hở của phên nhà nghe như ai thổi sáo vi vu, như ai đánh đàn môi, rồi lại ào lên mái nhà reo vui ầm ầm, nâng tấm tranh lên soàn soạt. Gặp cây gạo, bụi tre cao, chao ôi chúng đạp ngọn cây ngả nghiêng. Khi ngả về bên trái, lúc nghiêng về bên phải, khi rạp xuống tận mặt đất quét ngang rồi lại bật lên. Cành lá đụng vào nhau xào xạc, cành gãy lá rụng bay đi như mùa bướm tìm hoa” – đoạn văn thật đẹp),  Y Điêng đã phần nào thành công với cuốn tiểu thuyết thứ ba Chuyện bên bờ Sông Hinh này.

Tuy nhiên, là người đọc ông khá nhiều, tôi có đôi điều băn khoăn. Đã từng là biên tập sáu thứ tiếng dân tộc Tây Nguyên trên sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam. Đã từng là thư ký riêng soạn thảo mọi văn bản phát biểu ý kiến cho Phó Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam Y Bih Aleo; không thể nói Y Điêng là người không nắm vững ngôn ngữ tiếng Việt. Các bút ký của ông sắc sảo, rành rọt về văn phong, sâu sắc về ý tứ bao nhiêu, thì tiểu thuyết của ông đôi chỗ lại trúc trắc, rối rắm đến khó hiểu bấy nhiêu. (Ví dụ như trường đoạn chánh tổng Y Sô bàn với già làng hòng lấy rượu thịt của buôn để cúng chiếc trống thiêng của nhà hắn, câu văn rất rối : “ Tôi mua cái trống này cũng không nghĩ như ý bà con vừa nói. Đã là cúng bảy con trâu với bảy ché rượu, tôi lo nhất là nhà chưa hề có một ché rượu. Dù thế nào đi nữa chủ nhà cũng có bảy ché rượu chính việc của tôi là chánh tổng, nếu là việc của Tây tôi có thể lo được”)

 Trong chỉ một cuốn tiểu thuyết “ Chuyện bên bờ Sông Hinh” đang được nói đến này,  có những đoạn, những câu văn khác nhau đến ngạc nhiên.  Tôi đã cố đọc ông bằng chính cách tư duy của người thiểu số, vậy mà đôi lúc vẫn không hiểu nổi.Ông cố tình viết như thế cho “ ra” phong cách riêng về cách nói, cách nghĩ và cách viết của người thiểu số?  Hay đây là lỗi của người biên tập? Lỗi của xử lý bản thảo? ( Như đoạn hai vợ chồng Y Thoa và H’ Linh đang ngồi nghỉ ăn trưa trên rẫy, H’Linh nghĩ về chồng “ Gió nhẹ lướt qua chòi làm cho chòm tóc quắn của H’Linh cứ lất phất bay. Hơ Linh đưa ngón tay ven lại. Cô hiểu người con trai Êđê kẹp tóc. Khuôn mặt không còn như trước đây” )…(?)

Tuy nhiên, dù đã được viết ra dưới hình thức nào đi nữa, Y Điêng , với sức sáng tạo và lao động miệt mài trên từng con chữ của ông, với ba tiêủ thuyết, năm tuyển tập truyện ngắn, bút ký và thơ, chưa kể những trường ca, chuyện cổ tích mà ông sưu tầm ( chắc chắn là chưa được xuất bản hết ), Y Điêng vẫn xứng đáng là cây đại thụ duy nhất trong khu “rừng văn học đại ngàn” các dân tộc ít người khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên đương đại. Nhà văn Mã A Lềnh, một trong những cây bút đầu tiên và không kém phần nổi tiếng, người dân tộc H’Mông, đã ví ông là “Solokhop của miền Sông Hinh”. Tôi vẫn luôn kính nể và yêu mến ông.

Hãy nghe Y Điêng  Kpă Hô Dí kể về “ Chuyện bên bờ Sông Hinh” quê hương ông và cảm nhận cùng tôi nhé.

 

 

[...]
Xem tiếp