Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Một thoáng với Rơ Mặm

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-20-05

        Già làng A Blong nhắc đi nhắc lại rằng “ chúng tôi là Rơ Mặm, không phải Rơ Mâm như các vị gọi đâu” . Là một tộc người không có chữ, nhưng ông viết hẳn  ra cho tôi hai từ Rơ Mặm . Dường như với vị nguyên hiệu trưởng trường tiểu học xã này, việc gọi đúng tên của tộc người là điều rất quan trọng.

                Cơ duyên để chúng tôi đến với người Rơ Mặm ở làng Le ( xã Mo Ray, huyện Sa Thày, tỉnh Kon Tum) rất đơn giản, chỉ từ một thông tin thoáng qua trên VTV về bộ guông 11 chiếc, tương đồng với số lượng ching knă của người Ê Đê ở Đăk Lăk,  đánh thức sự tò mò của người sưu tầm và tôi quyết tâm phải một lần được thưởng thức.

                                                             Bộ guông nhà ông A Dói

                Làng Le là nơi cư trú duy nhất của 120 hộ tộc người Rơ Mặm ở Kon Tum. Gọi theo tên cây le, một loại nứa tép bà con dùng dựng nhà sàn,  từng mọc rất nhiều ở khu vực này. Nơi đây vốn là làng cũ. Bởi khoảng năm 1970 - 1971, do bom đạn cả hai phía quá nhiều, làng phải di chuyển đến lưng chừng núi Pong Yang Sĭt . Năm 1975, với chủ trương định canh định cư, làng chuyển xuống thấp hơn, ven suối Jek Bang Viět và đến cuối năm 1976 lại chuyển về đất cũ. Ngoài người Rơ Mặm, còn có đông người Jrai, cư trú tại 2 làng  Đinh và làng Xộp thuộc xã Mo; làng Tung, làng Rê và làng Rập thuộc xã Ray.  Sau đó chính quyền gộp cả 6 làng lại thành lập xã Mo Ray.

           Xã Mo Ray nằm kề Vườn quốc gia Asean Chư Mom Ray, thuộc huyện Sa Thày. Có 4 cung đường để tới đây. Đường thứ nhất, lối đi của xe máy, xe đò những khi trời không mưa, cách thành phố Kon Tum 68 km xuyên rừng quốc gia Chư Mom Ray,đường betong nhưng phải qua ngầm dốc Đỏ ( cách huyện lị Sa Thầy 7km) gần như dựng đứng. Lần trước xe chúng tôi tới đó nhưng do gầm thấp, phải quay trở lại. Hướng thứ hai 90 km đường đá, đi qua xã Rơ Kơi, cũng thuộc huyện Sa Thày. Đường thứ ba dẫn tới trung tâm huyện Ngọc Hồi với 54km mà Hưng, lái xe của Sở Văn  hóa KonTum cho biết, cũng toàn đá là đá ( Không hiểu sao với ba cung đường này, thỉnh thoảng lại có chừng 50m đường cấp phối, đất phẳng. Nhưng đừng vội mừng, vì ngay sau đó lại tiếp tới vài cây số đá, tốc độ xe cứ là dưới 10km/giờ mà chạy, cấm sốt ruột, vì chẳng ích lợi gì ) . Chúng tôi chọn đến Mo Ray qua đường Gia Lai, từ thành phố Plei Ku, theo quốc lộ 14C khoảng gần 120 km nữa, bao gồm cả 20 km cũng đá cục lổn nhổn như đoạn từ huyện Sa Thày tới xã vậy.

                Đường sá khó khăn như thế, nên giới sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian Trung ương lẫn địa phương, dù đã gần như “ quần nát” Tây Nguyên, lâu nay chưa “ rờ” gì tới tộc người này. Tuy nhiên, là xã biên giới ( giáp với tỉnh Natakari của Campuchia) nên vẫn có điện tới tận từng nhà dân. Đêm đến phố xã cũng sinh động hẳn lên bởi sắc xanh đỏ của đèn màu. Nhất là khi hàng đêm ì ầm bởi vài chục xe gỗ khủng cả độ lớn lẫn độ dài, bẹp dúm cầu rầm rập kéo nhau qua . Chỉ tiếc rằng, dù có sóng Vietel, nhưng vì lý do gì đó mà các anh bộ đội biên phòng chưa nhất trí cho “ dùng chung” nên kể cả Ủy ban xã cũng chỉ xài được 3G lúc có, khi không. Mo Ray đợt nắng nóng vừa qua là đỉnh điểm của cơn khát. Các dòng suối và giếng trong làng đều cạn kiệt, phải tiết kiệm từng giọt. Nhà hàng Phương Anh chúng tôi trọ phải mua nước chở từ nơi nào đó đến nấu ăn và cho du khách xử dụng.

                Được xếp vào nhóm những dân tộc ít người nhất của cả nước, nên cùng với người Brâu ở xã Đăk Mế, người Rơ Mặm làng Le được hưởng khá nhiều sự quan tâm của Nhà nước. Do vậy mà nhìn thoáng qua, làng khá khang trang. Chỉ còn sót lại mỗi một ngôi nhà sàn ( theo già làng A Blong cũng không phải kiểu cũ, mà hình dạng tương tự nhà người RNgao ở mấy làng ven thành phố Kon Tum). Một nhà Rông lợp tôn là mô hình chung, mang hình dạng Rông Bâhnar, cả 7 làng trong xã đều do Ban dân tộc xây I chang nhau. Riêng làng Le  có 50/120 hộ được  xây nhà cấp 4. Đường làng nhựa hóa gần 100%. Tiếng tivi oang oang trong mọi căn hộ. Nhà già làng A Blong còn có máy nghe nhạc điện tử riêng. Một vài hộ có cả xe cày, máy kéo ( chắc để chuyên chở gỗ rừng Chư Mo Ray).  Một số  nhà gỗ, thêm những căn kiểu dáng biệt thự thời thượng. Xe máy là phương tiện phổ biến nhất ở miền rừng này. Giữa tháng 5. Đã có vài đợt mưa đầu mùa tưới mát, cả làng đang hối hả  xuống giống củ mì. Những cánh đồng rộng đã sạch cỏ, khoe màu đất pha cát nâu ấm áp, sẵn sàng chờ đón, ấp ủ những thân mì , hứa hẹn một vụ mùa no đủ.

        Nhà biệt thự làng Le  

Nhìn là vậy chứ theo báo cáo của Ủy ban xã năm 2015, vẫn có 50% số hộ thiếu ăn, bởi làng ít ruộng và phương thức canh tác vẫn còn giữ nguyên lối cũ là chính. ( Chợt nhớ có ai đó đã nói: chính ra, chọc lỗ tra hạt tỷ lệ cây sống đến gần 100%, so với những cách gieo trồng khác mới được hướng dẫn (?)

Cả làng hiện chỉ có hai người tốt nghiệp đại học, một bác sỹ, một sỹ quan chuyên nghiệp ( đều là con của già làng A Blong,) và hơn 10 em khác đang học cao đẳng các ngành. Mặc dù đầy đủ trường từ mầm non đến trung học phổ thông, lên cấp III phải về Kon Tum học, nên tốt nghiệp lớp 12 khá nhiều, nhưng đa số học xong ở nhà làm  nông. Vì không có điều kiện đi học xa lẫn vì lo ra trường không có việc làm. Nhìn các thiếu nữ, khó có thể phân biệt ai là dân tộc, ai người Kinh bởi ăn mặc và cư xử đều rất sành điệu. Điện thoại nhắn tin, chụp hình toanh toách.

Do cư trú cận kề với người Jrai, nên ngôn ngữ Rơ Mặm có sự vay mượn, lai tạp nhiều với tộc người này. Nghệ nhân Y Điết hát dân ca ( chche)  rất hay, nhưng trong 5 bài hát thu thanh được thì có tới 4 bài mang đường nét dân ca Jrai, với những quãng nửa cung buồn buồn rất đặc trưng.

Vẫn giữ nguyên tín ngưỡng Vạn vật hữu linh nên giữa làng có một nhà sàn tre nứa thờ Yang, luôn đóng kín cửa. Ngôi nhà chứa “ vật thiêng” của cả làng, gồm một chiếc ngà voi lớn và những viên “ đá đẻ”, chỉ khi nào có lễ gì đó, mới được mở ra và cấm kị mọi người lạ dòm ngó. Theo cử nhân kinh tế nông nghiệp Y Jônh, người dân tộc Mnông ở Đăk Lăk thì đó là đá thạch anh và chuyện “ mọc” ra thêm những viên đá con là có thật mà anh đã từng được chúng kiến tận mắt. Ông A Dói trưởng làng cho biết “ lần cúng trước cách đây một tháng, có 31 vị yang về dự ( căn cứ vào số đá có cũ và “ mới đẻ” trong nhà sàn ).

                                                                             Nhà Yang làng Le

 Việc tổ chức cho chúng tôi nghe đánh guông ( ching) không phải là điều dễ dàng, vì nếu đánh lung tung, không có việc mà gọi Yang sẽ vi phạm sự cấm kỵ. Nhưng chúng tôi vẫn còn may mắn khi được dự một lễ hỏi chồng cho con gái. May hơn, gia đình ông A Ren có nguyện vọng tổ chức lễ tưởng nhớ người cha qua đời bốn tháng trước đó . Vậy là chúng tôi góp 1 ché rượu cho cuộc hỏi chồng, một heo 10kg, rượu trắng, thuốc lá, bánh kẹo…cho lễ ăn nhà ma, còn các ché rượu ghè do gia chủ và dòng họ mang tới.

Trước tiên phải nói về việc hỏi chồng. Anh chàng dân tộc Jẻ học cùng trường Trung cấp Lâm Sinh với cô con gái, nghỉ vài ngày theo bạn về quê. Đẹp trai, rất ngoan, còn cùng đi rẫy, trồng mì cho gia đình. Theo tập tục, để tránh chuyện con gái hoang thai, gia đình làm một lễ cúng nhỏ, có người dì ruột làm người mối , điều không thể thiếu. Rượu buộc chắc vào cột nhà ( nay đâu còn cột gơng ….nữa). Có bốn người ngồi quanh ché rượu và con gà luộc : mẹ, dì và đôi trai gái. Mỗi người uống một cang rượu ghè, rồi lần lượt từ người mẹ đến các dì , rồi ông bác, đề nghị chàng trai làm rõ mối quan hệ của hai người. Già làng còn cụ thể hơn, hỏi thẳng “ có ý định lên giường cùng nhau chưa?”. Nhưng chàng trai cũng rất mạnh bạo khi trả lời tòan gia đình rằng : còn ít tuổi và mới học năm thứ hai, nên bây giờ chỉ làm bạn bè. Hãy để anh ta học xong rồi khi đó mới tính. Chị A Dói, mẹ cô gái trước đó đã cho biết, việc hỏi chồng phải tiến hành hai ba lần với sự qua lại của người mai mối. Đến khi nào nhà trai nhận vòng đồng, chuyện ngày cưới và thách cưới mới quyết định.

Đối với lễ “ ăn nhà ma” (  già A Blong gọi là “ăn nhà ma tưởng nhớ”. Trong vòng một năm sau khi người thân mất,  1-2 tháng phải tổ chức một lần, cho đến khi chuẩn bị đủ lương thực, thực phẩm để bỏ mả ). Theo tập quán Rơ Mặm,  heo phải chế biến xong tại nhà mới đem ra mộ. Con heo sau khi thui vàng,ngoài cái đầu đặt lên mâm cúng trong mộ,  sẽ chế biến làm ba món chính : một xâu thành những xiên thịt dài nướng thơm trên lửa; số còn lại một nửa luộc chín, một nửa om với một thứ lá mọc rất nhiều ngoài suối, được gia chủ muối chua đã vài ngày, thành một món đồ ăn chua và thơm. Ngoài chiếc đầu heo và các món đã nấu chín để trong mộ cho vợ, con, cháu người quá cố, số thức ăn còn lại sẽ chia theo số đầu ché rượu được dòng họ mang tới ( khoảng chừng hơn 10 ghè), mỗi ghè một chén. Người đến sẻ chia vừa ăn vừa uống trò chuyện, vì đây cũng là dịp để gặp nhau.

Cách làm nhà mồ cũng khác. Sau khi chôn cất, mộ được san phẳng lì trên mặt đất. Sau đó dựng một căn chòi nhỏ trùm lên ngôi mộ. Trong nhà mồ để các vật dụng chia cho người ra đi , như ché, chén bát, quần áo, dụng cụ lao động…Chiếc giường sắt cụ ông đã nằm, dỡ tung, xếp ngay bên ngoài vách.

 Không có thày cúng. Chỉ các thành viên trong gia đình ngồi khóc, kể lể nỗi niềm thương nhớ. Sau đó là dàn guông của nam và đội múa suang của nữ. Theo thông lệ sẽ trình tấu ba lượt, mỗi lượt ba vòng ngược chiều từ dương sang âm , quanh nhà mồ. Nhịp điệu guông Rơ mặm tù tốn nhưng vẫn rộn rã và gây được hứng khởi cho cả đội suang lần bà con dự xem. Bước chân di chueyenr của các em gái uyển chuyển, cánh tay dịu mềm. Nhất là nghệ nhân Y Điết, không chỉ hát hay mà còn dẫn đầu đội suang một cách rất điệu nghệ. Nhưng bước chân, động tác tay theo nhịp kép của bà, khiến cả đội suang lúng túng mất một lúc.

Sau khi bỏ mả, ngôi nhà sẽ tự tồn tại trong nghĩa địa cho đến khi nào sụp xuống, không ai chăm nom, khóc kể nữa. Mọi mối quan hệ đã chấm dứt từ sau khi những bức  tượng gỗ tạc cho người quá cố đã được dựng nên. Những bức tượng mồ có ở khu nghĩa địa, ngoài hình dạng người, thú… như ở mọi vùng khác, còn có hình ngà voi mô phỏng, tương tự như người Jrai ở Buôn Đôn….

                                                              Mộ đã bỏ 

Cơn mưa to cuối chiều kết thúc hai ngày ngắn ngủi, được tiếp xúc với tấm chân tình của bà con người Rơ Mặm, khi biết cả gia đình chúng tôi tự bỏ tiền túi để đến tìm hiểu văn hóa, ai cũng thương quý. Nhất là khi thấy có thêm nhạc sỹ A Đuh, người gắn bó mấy chục năm nay với âm nhạc các dân tộc Kon Tum, lúc chia tay càng thêm lưu luyến.

                                                                   Vòng suang bên nhà mồ

Còn nhiều điều có thể nghe, có thể kể, nên chúng tôi sẽ còn trở lại khi nào vào mùa cúng lúa ( bởi đang giáp hạt và đầu vụ gieo trồng, không nên làm phiền bà con nhiều hơn).

 Sau cơn mưa lớn, rừng biên giới biếc lại. Cửa kính xe mở đón gió đại ngàn mát rười rượi. Có những điều buồn vui lẫn lộn vì sự giao thoa và mất mát của văn hóa cổ truyền Rơ Mặm, nhưng những gì chúng tôi thu nhận được vẫn thật là đáng trân trọng. Hẹn gặp lại nhé Mo Ray !

[...]
Xem tiếp

XIN ĐƯỢC MỘT LẦN NÓI RÕ

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-19-05

Khi Nghị quyết 5 ( khóa VIII) của Ban chấp hành TW Đảng ra đời , với nội dung chỉ đạo cụ thể “ xây dựng & phát triển một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, đã có rất nhiều nhà báo tìm những người làm công tác nghiên cứu văn hóa dân gian hỏi “ bản sắc  dân tộc thực chất là những  gì”.  Là người  làm công tác sưu tầm, nghiên cứu về văn hóa dân gian, tôi rất thường hay được các nhà báo hỏi về vấn đề này. Nhưng đến những năm gần đây, nhất là sau khi tổ chức Quốc tế UNESCO công nhận “ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là KIỆT TÁC  DI SẢN văn hóa phi vật thể truyền khẩu của nhân loại”, tiếp sau đó là rất nhiều Di Sản văn hóa vật thể và phi vật thể khác của Việt Nam, tiếp tục được thế giới công nhận,  thì cụm từ “ Bản sắc văn hóa” mới thật sự được báo chí quan tâm đến một cách thường xuyên, sâu sát và có sự thấu đáo hơn.

 

Chúng ta thường hay nghe một khái niệm “ Việt Nam là một nước thuần nông, có nền văn minh lúa nước lâu đời và độc đáo”. Cá nhân chúng tôi muốn thêm rằng “ song song đó chúng ta còn có một nền văn minh nương rẫy cũng vô cùng giàu có và độc đáo”, từng tồn tại và rất rực rỡ ở cả hai vùng miền núi phía Bắc và miền núi Trường Sơn - Tây Nguyên. “ Bản sắc văn hóa dân tộc” mà BCHTW Đảng ra nghị quyết để toàn Đảng, toàn dân quan tâm gìn giữ & phát huy chính là “ hồn cốt”, là tinh hoa, là tâm hồn, thậm chí cả những thói hư tật xấu “ chẳng giống ai” nói rộng là của người  Việt Nam, nói hẹp là của mỗi tộc người, thuộc cả hai nền văn minh ấy. Vậy thực tế từ đó đến nay, báo chí nói gì về vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa. Nhất là tại một khu vực rất nhạy cảm về văn hóa như Tây Nguyên ?

Phải nói ngay rằng báo giới, nhất là các nhà báo có tâm, có sự đóng góp rất lớn trong công việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Bằng những bài báo, những bộ  phim, đoạn băng, tấm ảnh được  ghi lại , truyền thống văn hóa đẹp được phản ảnh, thói hư tật xấu được nêu lên; không chỉ làm cho khán, thính, độc giả được hiểu, được thấy, được nghe, mà còn lay động ý thức trách nhiệm, tấm lòng, kể cả sự tự trọng đối với vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa của chính nước mình, tộc người mình. Góp phần làm lành mạnh hóa lối sống, lối nghĩ của đông đảo công chúng. Chỉ nói riêng ở “ lãnh địa” Tây Nguyên, báo chí đã làm được nhiều điều.

Đầu tiên là công tác tuyên truyền nghị quyết. Làm cho mọi người dân, kể cả đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên hiểu được giá trị quý báu từ những gì mình có, đã là một thành công lớn của ngành văn hóa và báo giới. Chưa có nghị quyết nào của Đảng lại đến được với người dân rộng và sâu đúng nghĩa, dễ hiểu và thực thi được như nghị quyết 5. Bây giờ thì cụm từ “ bản sắc văn hóa” không còn xa lạ, thậm chí trở thành câu nói cửa miệng của bất cứ cán bộ nào, người dân nào, ở bất kỳ đâu, được hỏi đến.

Tiếp theo là giới thiệu vẻ đẹp đặc biệt của văn hóa truyền  thống Tây Nguyên. Các phong tục, tập quán, các lễ hội, văn học truyền miệng, nghệ thuật diễn xướng, nghề thủ công….đều được báo giới quan tâm tìm hiểu và giới thiệu bằng tất cả các loại hình báo chí, với rất nhiều kênh thông tin khác nhau, trong đó có cả kênh phổ thông, kênh tiếng nước ngoài lẫn các thứ tiếng dân tộc, bằng nhiều thể loại phóng sự, video clip, tin thời sự, bút ký, ghi chép…. Nếu 20 năm trước đây, Đài TNVN thường trú Tây Nguyên phải tổ chức những chuyến đi tuyên truyền cho sóng, tìm hiểu việc phủ sóng lẫn lượng thính giả, thì ngày nay việc nghe và xem các loại hình thông tin bằng tiếng dân tộc, đã trở thành quen thuộc với bà con các dân tộc thiểu số mọi miền.Trong quá trình điền giã sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian và làm báo ở Tây Nguyên, tôi đã từng bắt gặp những hình ảnh rất đẹp như giờ VTV 5 phát tiếng dân tộc Bâhnar ở làng Xí Thoại huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, cả nhà quây quần trước chiếc tivi để cùng xem. Hoặc già trẻ, lớn bé làng Sê Đăng ở huyện Krông Pak tỉnh Đăk Lak, ai cũng có chiếc radio nhỏ, kể cả trẻ em nữ dắt cạp váy khi đi làm rẫy hay chăn bò, để nghe “tiếng mình” , ca nhạc của mình. Rẫy chẳng thấy người, chỉ nghe réo rắt tiếng radio treo trên cành. Thậm chí là một đoạn video quay vội của Việt kiều Tây Nguyên ở bên Mỹ truyền dạy cho con cháu điệu múa Kon Tuor và Chim Grứ, để đừng quên nguồn gốc tộc người. Nhiều chương trình báo nói, báo hình, các bài báo viết…về vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống được giải thưởng nghề nghiệp hàng năm…Đó chính là niềm tự hào và hạnh phúc của những người làm công tác thông tấn, báo chí. Với tư cách là một người nghiên cứu văn hóa và cũng là một nhà báo người dân tộc thiểu số Tây Nguyên, một phụ nữ đã gánh trên vai nhiều mùa rẫy, theo tập quán mẫu hệ của tộc người, xin được phép thay mặt bà con các dân tộc Tây Nguyên cám ơn những người làm báo.

Tuy nhiên có những điều không thể không nói đến, nhất là trong khuôn khổ một cuộc hội thảo chuyên sâu về báo chí. Và cũng không dám nói điều gì xa xôi, chỉ xin được đề cập tới lĩnh vực báo chí với công tác bảo tồn văn hóa truyền thống ở Tây Nguyên. Có bốn vấn đề chúng tôi từng mong muốn có cơ hội được một lần nói rõ và mong rằng từ các nhà báo, đến được với những ai quan tâm tới bản sắc văn hóa Tây Nguyên.

1.Điều đầu tiên là cụm từ “ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ”. Trong một cuộc khảo sát cuối năm 2015 mới đây của Ban VHXH Mặt trận Tổ quốc tỉnh Đăk Lăk tổ chức, cũng như trong quá trình điền giã ở nhiều nơi trên  miền núi Trường Sơn – Tây Nguyên, sau 10 năm được tổ chức Quốc tế Unesco công nhận Di sản, điều chúng tôi nhận thấy ở mọi địa bàn, mọi cán bộ ( kể cả lãnh đạo và chuyên ngành) đến người dân, đều hiểu rất mù mờ về danh xưng của Di sản “không gian văn hóa” ấy thực chất gồm có những gì để phải gìn giữ? Nghĩ cũng nên nhắc lại một điều, Việt Nam trình hồ sơ lên tổ chức Quốc tế Unesco đề nghị công nhận Cồng chiêng Tây Nguyên là Di sản VH quốc tế. Nhưng sau khi xem xét những gì gửi đến, các nhà khoa học thế giới đã nhất trí tuyên bố toàn bộ  môi trường diễn xướng của cồng chiêng Tây Nguyên, đều xứng đáng là “ Kiệt tác Di sản Văn hóa phi vật thể truyền khẩu của nhân loại” . Có nghĩa là ngoài tôn giáo – tín ngưỡng đa thần – Vạn vật hữu linh, với đông đảo các vị thần linh thiêng ngự trị khắp nơi, gắn bó với con người để luôn luôn phải cầu xin, tạ ơn khi ước muốn được thỏa mãn, tạ tội khi vi phạm điều gì đó; hay những nghề thủ công đã từng gắn chặt với đời sống tự cung tự cấp như rèn, dệt thổ cẩm, đan mây tre, làm đồ mộc…. Thì không gian núi rừng ( với các lễ cúng thần rừng, các loại rừng thiêng tang ma, rừng săn bắn hái lượm, rừng sản xuất nương rẫy & rừng thổ cư), sông suối ( với các lễ cúng bến nước, cầu mưa, lễ trưởng thành), không gian ở, phong tục tập quán của các buôn, bon, kon, plei, nghệ thuật diễn xướng …  là tất cả những nguyện vọng, tâm tư của đời sống con người được thông quan với các Yang bằng tiếng ching chêng. Vậy nên toàn bộ những gì có liên quan, dẫn đến sự cất tiếng cồng chiêng, đều thuộc về Di sản.

Thế nhưng ngay cả ngành văn hóa và sự tuyên truyền của báo chí, đều chỉ tập trung nhiều vào việc gìn giữ cồng chiêng. Còn không gian sản xuất, không gian ở lẫn sự biến chuyển về tôn giáo, sự mai một của nghệ thuật diễn xướng khác, ít được đề cập tới. Hoặc nếu có cũng chưa thấu đáo. Xin đưa ra một dẫn chứng : có hai điều mà đa số chúng ta đều biết một là Đạo Cơ đốc theo chân các nhà truyền giáo bị Chúa Nguyễn cấm đoán , thậm chí là đánh đuổi, đã thâm nhập vào Tây Nguyên từ thế kỷ 19. Hai là hình ảnh nhà rông được coi là một trong những biểu tượng của các tộc người Tây Nguyên. Nhà rông ở những vùng đạo Cơ đốc, vẫn là nơi tụ tập diễn ra mọi sinh hoạt của cả làng những khi có việc hệ trọng, nơi ngủ của thanh niên chưa vợ. (Tuy chưa bao giờ việc cầu kinh diễn ra trong và dưới mái nhà rông, mà chỉ thực hiện ở những nhà thờ mang dáng dấp nhà rông, nhất là diễn tấu ching chêng ngoài sân rông mà thôi). Có nghĩa là  đạo Thiên chúa & tập quán truyền thống vẫn song hành được cùng với nhau. Vậy tại sao chỉ từ 1975 đến nay, thậm chí cả sau khi được Quốc tế công nhận là Di sản của nhân loại, loại hình nghệ thuật này gần như không còn tự thân diễn ra theo nhu cầu nữa? Nhà rông cũng không còn là nơi chốn thân thuộc, mà đường như bị bỏ trống đối với mọi hoạt động tự nhiên của cộng đồng? Ngoài việc thay đổi tín ngưỡng thờ phượng, phải chăng chúng ta đã làm điều gì lệch khỏi “quỹ đạo” đã từng vận hành hàng trăm năm nay của truyền thống văn hóa các tộc người Tây Nguyên? Trong thực tế ngay cả việc diễn tấu cồng  chiêng cũng không còn trong nhu cầu tự thân của cộng đồng nữa, mà chỉ cất lên trong các liên hoan, hội diễn hay phục vụ du lịch, hội nghị, ngày kỷ niệm nào đó theo yêu cầu của chính quyền là chính.

Để mình chứng cho việc chưa hiểu thấu đáo về KGVHCC, xin kể thêm một câu chuyện : ngay sau khi được quốc tế công nhận ( nghĩa là cách đây hơn 10 năm)  tôi từng được đề nghị góp ý một đề án bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng cấp tỉnh, trong đó ngoài việc tổ chức tuyên truyền, triển lãm hàng vài chục bộ chiêng đã sưu tầm được, còn có việc “ phục dựng” nghề đúc chiêng đồng cho các buôn làng, do các nghệ nhân Phước Kiều – Quảng Nam  truyền dạy, với ¾ nguồn kinh phí dự toán của đề án cho thực thi mục này. (Trong khi đó khái niệm về giá trị cồng chiêng của các tộc người TN chỉ có “ ching Lao” – mua của người Lào là quý nhất; tiếp theo là ching Kuor – mua từ Campuchia. Nghèo lắm mới phải mua “ching Joăn” của người miền xuôi ).Trong khi thực chất ở TN chưa bao giờ có nghề đúc chiêng. Dấu vết các lò đúc đồng ở di chỉ khảo cổ Lung Leng tại Kon Tum, đã được Henrimetre xác định là của người Lào từ đầu thế kỷ XX.

Vậy nên  thiết tha mong các nhà báo góp phần gìn giữ toàn bộ KGVHCC chứ không phải chỉ là riêng ching chêng.

2.Điều thứ hai, về hai từ “ cồng chiêng”. Khi bắt đầu theo đuổi việc sưu tầm, nghiên cứ văn hóa dân gian TN, từ những năm 80 của thế kỷ XX, tôi đã hỏi một số những nhà khoa học đi trước về hai từ này, thì được trả lời rằng “ ghép từ chữ cồng Mường cho những chiếc có núm với từ chiêng gọi những chiếc không có núm của Tây Nguyên mà thành tên gọi này ”. Nhưng năm 2015, khi khảo sát văn hóa Mường tại Hòa Bình & những người Mường di cư ở Buôn Ma Thuột, bà con cho biết “ người Mường gọi là chiêng. Chưa bao giờ gọi là cồng”. Còn với người Tây Nguyên khắp dãy Trường Sơn thì không có từ “ chiêng” mà chỉ có gong, chêng, chưng để chỉ những chiếc có núm và ching dành cho những chiếc không có núm. Phải chăng danh xưng “cồng chiêng ” xuất phát  từ ngạn ngữ Việt “ Lệnh ông không bằng cồng bà” hay “ xem bà Triệu Ẩu cưỡi voi đánh cồng” được ghép với cách gọi chiêng của người Mường chăng? Tuy nhiên vì các nhà văn hóa VN đã trình và được Unesco công nhận 2 chữ “ cồng chiêng”, nên đành cứ để vậy. Chứ nếu chính xác thì nên gọi chung là “ ching chêng”. Bà con sẽ thấu hiểu hơn ( người Pháp & các nhà khoa học xã hội VN đầu thế kỷ XX như Nguyễn Đổng Chi, Toan Ánh hay Võ Quang Nhơn đều chỉ dùng từ goong và chiêng khi nói đến bộ nhạc cụ tự thân vang này).

3. Thứ ba là ba từ “ người đồng bào” gần đây bị lạm dụng rất nhiều khi nói đến bà con các dân tộc thiểu số. Thậm chí đến mức chính bà con cũng gọi theo và tự xưng mình là  “ người đồng bào” .

Không có người dân Việt Nam nào không biết đến truyền thuyết  Lạc Long Quân – Âu Cơ và bọc một trăm trứng, nở thành một trăm người con. Năm mươi con theo cha xuống biển là người Kinh, năm mươi con theo mẹ lên rừng thành người các dân tộc thiểu số. Từ sự tích Cha Rồng – Mẹ Tiên ấy, được phóng lên ý tưởng 54 dân tộc anh em cùng chung một giống nòi. ( Nhưng thực ra truyền thuyết này của người Kinh, chứ các dân tộc thiểu số chỉ có chuyện trái bầu mà thôi). Câu nói thân thương của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở quảng trường Ba Đình lịch sử sáng ngày 2/9/1954 “ Tôi nói đồng bào nghe rõ không”, là thuộc về ý nghĩa kết đoàn ấy. Vậy tại sao bây giờ kể cả các nhà chính trị lẫn nhà báo, lại chỉ coi những người dân tộc thiểu số là “ người đồng bào” ( các nhà hàng còn gọi “ heo đồng bào” )? Phải chăng chúng ta đã tuyên truyền nhầm, chỉ 53 dân tộc thiểu số mới cùng một nòi giống – chung một bào thai - cần phải đoàn kết thương yêu giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau mà thôi? Còn người Kinh thuộc một đẳng cấp khác. Chuyện tưởng nhỏ mà không nhỏ đâu, thưa quý vị . Nhất là khi số nhà báo là người dân tộc thiểu số còn rất ít, thì việc này rất dễ tiếp tục bị bỏ qua.

4. Vấn đề thứ 4 là “ Lễ hội đâm trâu” ở Tây Nguyên đang và vẫn luôn là sự tranh cãi, là ý kiến của  ngành văn hóa, nhưng chưa bao giờ và chưa có ai hỏi hay nghe người TN nói. Thế này nhé : Con trâu đơn thuần chỉ là một lễ vật hiến sinh được coi là thanh sạch nhất, lớn nhất trong một lễ thức quan trọng phải cầu khấn, tạ ơn hay tạ lỗi gì đó của cộng đồng hay gia đình với các vị thần linh. Và thực ra bà con chỉ gọi đó là “ cúng có ăn trâu”, chứ không bao giờ có “ Lễ hội đâm trâu” riêng biệt như các vị tưởng tượng, hoặc cho là biểu hiện của tinh thần thượng võ. Lỗi là ở những đơn vị tổ chức hoạt động văn hóa,du lịch đã biến tín ngưỡng truyền thống của người TN thành phương tiện để “ câu khách” ( thậm chí bắt nghệ nhân “ giả vờ cúng” – điều bà con không bằng lòng mà vẫn phải làm). Các nhà báo, nhà quay phim chọn những chi tiết mẫn cảm nhất mà đưa tin, đưa hình và khoác cho cái tên gọi ấy. ( thử hỏi họ mang cả con heo quay mấy chục ky lô ra cúng cho Cô Sáu ngoài Côn Đảo, có bị ai chê bai gì không? )

Trở lại việc báo chí luôn luôn là phương tiện tích cực để góp phần gìn giữ, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa . Tuy nhiên, Tây Nguyên không những là một mảnh đất màu mỡ, nhiều điều đặc biệt còn ẩn sâu trong các vỉa tầng văn hóa, thu hút không chỉ các nhà khoa học, văn nghệ sỹ, mà còn là một bảo tàng văn hóa sống động, đặc biệt với những nhà báo trẻ, luôn hăm hở muốn tìm tòi, chứng tỏ mình; mà đây còn là một di sản văn hóa vô cùng nhạy cảm. Chỉ một chút hiểu sai, một dẫn chứng thiếu chính xác, cũng khiến văn hóa dân gian trở nên méo mó, lệch lạc trong mắt khán thính giả và bạn đọc của chúng ta. ( Ví như danh xưng Vua Lửa, Vua Nước, chưa bao giờ là cách gọi của người TN, mà là của các Chúa Nguyễn, các nhà khoa học người Kinh khoác cho. Bởi nếu hiểu kỹ ngôn ngữ các tộc người TN, thì danh xưng Ptao Pui, Ptao Ia chỉ có nghĩa là thủ lĩnh hoặc đầu làng của một vùng đất nào đó, chứ không tương đồng với khái niệm Vua của người Việt. Vì vậy mà từng có những hiểu lầm đáng tiếc về việc này trong một hội thảo khoa học về thành phố BMT).

Cuối cùng, mong các nhà báo cũng nên chú ý tới văn hóa truyền thống các tộc người phía Bắc đang cộng cư trên Tây Nguyên. Đó cũng là một trong những nét đẹp rất độc đáo của nền văn minh nương rẫy. Cũng đang đứng trước nguy cơ phai nhạt một cách nghiêm trọng. Bài viết phản ảnh văn hóa truyền thống dân tộc phía Bắc được bảo tồn, hòa nhập, tác động lẫn nhau với đời sống văn hóa của quê hương mới như thế nào, cũng rất đáng quý.

Hy vọng các nhà báo, với tình cảm yêu mến, trân trọng dành cho một miền văn hóa đặc biệt, mà thận trọng hơn trong khi tiếp cận, kỹ lưỡng hơn khi cấu thành tác phẩm báo chí. Điều này chắc chắn sẽ giúp các tộc người thiểu số TN chúng tôi cảm phục, nể trọng sự hiểu biết, sự tận tâm của quý vị, để cùng nhau gìn giữ, bảo tồn và phát huy Di sản này, bởi tuy chúng tôi sản sinh và sở hữu, nhưng đó lại là niềm tự hào chung của đất nước VN chúng ta.

=

[...]
Xem tiếp

TỤC HỎA THIÊU CỦA NGƯỜI KHƠMER SÓC TRĂNG

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-11-05

Bà Gia không phải là con trưởng. Nhưng cha mẹ sanh 13 anh chị em, nay chỉ còn lại 6, là người  cao niên nhất, bà được coi và gọi là chị hai.  Đau nằm liệt đã hơn một năm. Ăn phải có người đút. Ngồi phải có người đỡ. Mấy tuần trước còn nhúc nhắc ngồi lên, chứ ba bốn ngày nay chỉ nằm liệt một chỗ. Lồng ngực nhô lên hạ xuống theo hơi thở  gấp gáp mà yếu ớt kèm theo cả tiếng khò khè nặng nhọc. Tình trạng ấy kéo đã dài gần giáp tuần. Con cháu trong nhà nghĩ chắc bà chờ cậu mợ Sáu, người em trai mà bà rất thương yêu, ở tận miền cao nguyên đất đỏ. Hai năm trước hay tin cậu mợ về, ở tuốt cuối ấp mà bà lò dò chống gậy lên tới nhà anh hai. Thấy cậu mợ xa xa nước mắt đã tuôn rơi. Điện thoại qua lại mấy lần. Khi anh hai báo tin cậu mợ sáu đã lên xe đò về, bà Hai Gia dường như mới yên tâm. Thanh thản nhắm mắt.

Trải qua tới 86 lần lên chùa dâng cơm cho sư sãi những dịp tết Chô thnăm thmây, bà Gia có đến hơn 140 con cháu, chút, chít. Mặc dù biết trước là  sẽ chỉ trong sớm hay chiều, vậy mà lúc bà nhắm mắt, toàn gia vẫn bối rối hết sức.  Chứ sao nữa, vì quá nhiều việc phải chuẩn bị cho cuộc hành trình cuối cùng của bà về cực lạc theo Đức phật. Chiếc quách hình lục lăng vẽ những hoa văn vàng đỏ theo tập quán đã được đưa về, cùng với chiếc nắp và đế mượn trên chùa để hình thành một chiếc áo quan đẹp. Trước đầu quan tài treo một tấm vải trắng và một chiếc xong nhôm ( trước đây là chiếc nồi đất tượng trưng cho quan niệm một đời người được nặn ra rồi lại về với đất ). Đóng nắp quách thì phát tang. Áo xô, khăn trắng quấn đầu cho các con và dâu rể. Khăn buộc  cổ hay vắt vai cho anh chị em và hàng cháu chắt. Những chùm len đỏ ngắn cho người túc trực bên linh cữu, ai tới viếng thì quấn vô nút áo họ một sợi, chứng tỏ đã tới chia buồn. Sư cho biết phải có ba ngày cúng linh, trước khi đưa bà lên chùa hỏa thiêu. Việc tiếp theo là tất thảy con, cháu trai trong nhà tự nguyện cùng gọt trọc đầu báo hiếu theo tập quán “ tu trước mặt lửa – bua muk plơng

Cây phướn trắng mang hình người  được treo lên ngay cổng nhà để báo hiệu tang lễ. Những đấng nam nhi sau khi chuẩn bị hành trang cho bà Gia thì lo báo tin gần xa, dựng rạp, sắp xếp bàn ghế tiếp khách. Các con gái, con và cháu dâu lo đãi đằng cơm nước ngày bốn bữa, không để ai tới viếng mà bị đói, nhất là kịp dâng cơm cho các sư ăn trước 12 h trưa theo quy tắc của phái Nam Tông. Ông bà Gia là “ lão làng” của ấp, nên người từ trên giồng, người trong xóm, ở bên kia kinh xáng, cả những đứa con vì kiếm sống mà  bỏ nhà đi làm ăn xa, bạn bè đồng nghiệp của  các cháu con trong dòng họ từ thành phố Sóc Trăng…tới viếng nườm nượp. Đông và bận rộn không kém là lũ lau nhau của cả dòng họ. Dường như chẳng biết gì đến nỗi tiếc thương của người lớn, chúng chộn rộn chạy qua chạy lại, chí chóe nói cười, nô giỡn, nhất là há hốc miệng bu quanh dàn nhạc ngũ âm, điều mà chỉ một vài năm gần đây, các chùa Khơmer mới phục hồi lại. Tum tum, bập bùng trống  Sakhô – somphô và xadam điểm nhịp cho tiếng lanh canh của dàn đàn thuyền – roniet ek tre và sắt, đối đáp hòa điệu cùng âm trầm ấm của bộ cồng lớn, nhỏ Pét Kuông thôn . Dường như sự ngưỡng mộ của bọn con nít, khiến các nhạc công trẻ thêm say mê trình diễn. Dàn nhạc và sự chộn rộn của đám trẻ khiến không khí u buồn của tang lễ giảm hẳn mà vẫn vô cùng trang trọng.

                Ngày thứ nhất và thứ hai, ba lần sáng chiều, tối các sư tới tụng kinh siêu thoát. Trong nhóm bốn bổn sư đến từ chùa Peng Sầm Rứk – chùa lu nước biển - có tới ba sư là người của ấp Giồng Chùa. Một sư mang tước Ti kheo là người dòng họ Lý nhà bà Hai Gia. Niềm vinh hạnh không phải nơi nào cũng có đâu nha. Những anh chị em lớn tuổi trong dòng họ tóc đã hóa mây theo tháng năm, dưới sự dẫn dắt của người A Cha, thành kính ngồi kề quan tài đọc kinh cùng các sư. Tối ngày thứ hai và thứ ba, có thêm sư cả tới thuyết giáo về luật nhân quả và phép đối nhân xử thế. Đám đông như mê đi , thôi miên trong tiếng sư sang sảng ấm và rất vang.

                Ngày thứ ba chỉ còn hai lần đọc kinh sáng và tối. Đây là ngày quan trọng nhất. Từ chiều, quan tài được chuyển ra giữa sân. Bàn thờ Phật bài trí như một hang động được sắp đặt đầu linh cữu. Bày rất nhiều trái cây và đèn cầy, hai bên còn thêm hai cây chuối trổ buồng đã chín vàng rất đẹp mắt. Ánh sáng từ mấy chục cây nến lung linh khiến cho quang cảnh trở nên rất huyền bí. Đây không chỉ là lễ đọc kinh siêu thoát, mà còn là nghi thức tiễn biệt lần cuối vong linh người đã khuất. Các gia đình trong họ chen nhau mang hình Đức Phật của nhà mình ra đặt ở đây, để được các sư cầu phước.

                Tiếng đọc kinh đuổi nhau giữa các sư và bà con dòng họ, âm thanh lanh canh của dàn nhạc ngũ âm như những bài ca đối đáp ngân vang trong gió kinh mát rượi và trong nhập nhòa bóng đêm chỗ sáng chỗ tối . Cuối buổi đọc kinh, các sư rảy nước chúc phúc tẩy trần cho mọi người; những người lớn tuổi trong họ vẩy nước thơm lên bàn thờ Phật như một nghi thức đưa tiễn vong linh. Sau đó tất cả lại cùng nghe sư cả thuyết pháp.

                Ngày thứ tư, sẽ chỉ có đọc kinh buổi sáng thôi. Rồi sẽ rước linh ra chùa. Sáng sớm, toàn thể cháu trai trong gia đình xúm nhau cưa hàng cây bạch đàn trồng ven bờ kinh, chuẩn bị củi cho hỏa thiêu. Bạch đàn nhiều nhựa đốt lên vừa dễ cháy, vừa có mùi thơm. Những khúc cây dài một mét đều chằn chặn xếp lên xe máy kéo đưa trước ra lò thiêu. Tập quán hỏa thiêu không chỉ có ở người Khơmer  Nam bộ, mang ý nghĩa  thi thể người đã khuất phải được nhanh chóng thiêu đi, để không chỉ thiêu trụi, tẩy sạch mọi tội lỗi, mà hồn phách không còn nơi bám víu ở Tiểu vũ trụ sẽ hòa vào Đại vũ trụ để rồi tách ra đầu thai vào kiếp khác. Đây cũng là tập tục từ lâu đời của các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Campuchia, Lào. Chỉ riêng ở thủ đô Băng Cok Thái Lan đã có lò thiêu điện, còn lại đều hỏa thiêu thủ công như ở Nam Bộ. 92 ngôi chùa Khơmer của tỉnh Sóc Trăng, chùa nào cũng có lò thiêu. Lò hỏa thiêu ở chùa Dơi -  Mahatuk đã có niên đại tới hơn 500 năm. Hồi các chùa tiến hành tu sửa, gia đình nào có đám phải đem người nhà ra thiêu lộ thiên ngoài đồng ruộng, vừa lâu vừa vất vả, lại ảnh hưởng cả tới môi trường.

Sáng sơm ngày thứ tư, trước khi các sư tới, ông Gia  xem xét lại toàn bộ những thứ sẽ mang theo lên chùa cho cuộc hành trình cuối cùng của người bạn đời. Ngoài bộ cặp lồng, nồi niêu và chiếc xong nhôm treo đầu quách sẽ để lại ở chùa để các sư dùng nấu cơm cúng cho các vong linh , còn có bông và dầu để mồi lửa. Xe chở dàn nhạc ngũ âm sẽ đi đầu, con trai lớn chống gậy đi trước xe linh cữu.  Con trai thứ hai ngồi ôm hình của mẹ và bát hương, cùng các vị sư . Con gái thứ sẽ ôm thúng hoa và cốm dẹp rải dọc đường cho người qua cố khỏi đói trên đường đi tiếp tới cõi sau.  Ngay tiếp sau xe tang là toàn thể đàn bà của dòng họ mặc áo xô, quấn khăn tang, đầu trần và chân đất, tay mỗi người cầm một bông hoa, một nén nhang, đi bộ bốn cây số đưa linh lên chùa. Cuối cùng, kéo dài tới hàng cây số là đoàn xe máy của những đàn ông, sẵn sàng “ứng cứu” trẻ em hay những người già mệt mỏi để hoàn thành nốt cuộc tiễn đưa.

Ở lò thiêu tại chùa Peng Sâm Rứk, những người đàn ông lớn tuổi trong gia đình với mấy người của lò thiêu đã xếp xong củi và bông tẩm dầu đẩy vô phía cửa trước, củi trên giá có bánh xe dùng đẩy quan tài ở cửa phía sau cũng sẵn sàng. Đoàn người ra đến nơi, quách được đặt xuống bên hông lò thiêu, các sư và toàn gia đứng vây xung quanh đọc kinh lần cuối rồi dỡ nắp và đế đặt quan tài lên giá, đẩy vô trong lò. Cửa lò sau đã khép lại. Toàn thể đại gia đình đi ba vòng ngược chiều kim đồng hồ  quanh lò thiêu để đưa tiễn vong từ dương sang âm về cực lạc. Vậy là nghi thức cuối cùng đã xong. Ông Hai Gia ném bó nhang cho lửa bùng lên rồi đóng cánh cửa trước lại.

Hai tiếng nữa gia chủ sẽ lượm cốt của người quá cố đưa về nhà.

Tại nhà cậu con út, bàn thờ Phật, bàn thờ người quá cố đã được lập. Khi mang cốt của bà Hai về, sau khi để cho nguội hẳn, sẽ bỏ vô trong bình, thờ trong nhà thêm thất tuần nữa, rồi sẽ mang trở lại chùa. Tại đó, gia đình nào ở ấp Giồng Chùa cũng có một ngôi tháp cất giữ cốt của dòng họ mình. Bà Hai Gia cũng sẽ được đặt vô một cái tháp như thế của dòng họ Lý.

Từ nay, mỗi mùa Chô thnăm thmây đến, cả dòng họ Lý lại cùng các sư đọc kinh nguyện cầu và mang bình nước tưới lên những chiếc Tháp, không chỉ mát mẻ cho vong linh tổ tiên mà còn là lời nhắn nhủ phù hộ cho con cháu mọi điều tốt đẹp.

Bà Hai Gia đã thanh thản về cõi. Dòng Kinh Xáng rồi sẽ nhớ những sớm những chiều đôi tay gày guộc cầm cành tre lùa bầy vịt xiêm trắng lốp về bờ. Cánh đồng chờ mưa nâu màu đất kia rồi cũng luyến nhớ mà vẫn xóa đi dấu chân bà mỗi mùa lúa sạ lên xanh. Nhưng cuộc sống sẽ vẫn theo gió mà trôi đi trên những sóc Khơmer chân chất hiền hòa với những nụ cười tỏa nắng .

[...]
Xem tiếp

Lễ cầu mưa của người Ê Đê

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-09-05

        Ông Gỗn giao cho các Yang việc coi sóc trần gian  miền cao nguyên đất đỏ  một năm có 12 lần trăng mọc trăng lặn, sẽ có sáu mlan – tháng mưa và sáu mlan nắng. Vậy  mà không biết Yang ngủ quên, hay thần mưa lỡ đổ hết nước xuống vùng nào đó, mà mặt trăng đi qua đi lại đã gần mười lần, vẫn chưa thấy có cơn mưa nào đổ xuống. Mặt đất nứt nẻ như gương mặt người già đã qua hàng trăm mùa rẫy. Cây cà phê chưa kịp ra hoa lá đã chết khô, quắt queo rụng xuống quanh gốc, dòn tan lạo xạo dưới bước chân chủ vườn. Sông suối chỉ còn là những dòng nước nhỏ róc rách. Giữa lòng đáy hồ nước đọng chút loang loang . Người người chắt chiu từng xô nước giếng chia nhau, bởi đâu phải nhà nào cũng có giếng. Bầy chó đông đúc chạy đuổi lũ heo con khắp buôn, cái lưỡi dài thè lè, thở hồng hộc vì khát.

Già làng Aê Hét  mời thày cúng của hai dòng họ Niê Siêng và K’Buôr tới bàn việc phải làm lễ cầu mưa thôi, dân buôn sang chịu hết nổi rồi. Ngay lập tức trưởng hai họ cũng phân công nhau tìm xem nhà nào có heo, gà bếp nào đã hết lớn? Nhà nào còn sót rượu ghè nhà ủ đã thơm thì mang tới, không tính toán gì đâu nhé! Buôn Ayun có hơn hai trăm hộ, mỗi nhà đóng góp 30 ngàn đồng. Đủ mua hai con heo một gang và bảy con gà làm lễ vật hiến sinh. Cũng không đơn giản đâu.Trong lễ cầu mưa có ba lễ phụ phải tuân theo, gồm cúng trời, cúng đất và cầu mưa, nếu không làm đủ, mọi lời cầu nguyện sẽ chỉ là vô ích.

Ông mặt trời chưa leo tới đỉnh ngọn cây, ánh nắng tỏa xuống cao nguyên đã nóng sau gáy. M’Jâo cái lưng còng cách mặt đất có hai gang tay, chống gậy đến từ sáng sớm. Ông vạch một cái lỗ trên mặt đất chính giữa sân. Đặt lên một chiếc sàng, trên bày chén gạo, muối và một chiếc gậy nhỏ. Sau khi khấn vái xin các Yang cho phép làm lễ cầu mưa, chiếc gậy trên sàng rung lên nhè nhẹ. Các Yang cho phép rồi. M’Jâo đặt xuống đó ba hòn đá nhỏ rồi úp cái giỏ cá lên vừa làm dấu, vừa tránh con nít qua lại va chạm, mất linh thiêng. Đó là nơi lát nữa sẽ làm lễ cúng đất. Đến lúc này mấy người con trai dòng họ K’Buôr tụ tập lại từ sớm mới bắt đầu nổi lửa thui heo. Hôm nay không ai trong buôn được đi rẫy. nếu không tới lễ cúng thì ở lại nhà.

Trên nhà của khoa tring êlăn – chủ đất Aê H’Jut, sáu ché tuk cột theo thứ tự lớn nhỏ thành một dãy. Mỗi ché sẽ phải cắm hai cần ( các lễ cúng khác chỉ có một cần. Riêng cầu mưa phải hai cần, tượng trưng cho cả nam và nữ). Lễ vật chuẩn bị xong được bày trước dãy ché, gồm sáu chén ăn cơm đựng mỗi loại một ít lục phủ ngũ tạng heo, thêm một mâm bày bốn chén thịt luộc, lòng, gan, thịt băm trộn huyết. Trước ché đầu tiên bày riêng  mình và  đầu heo, chiếc bầu nước, chén đồng đựng rượu huyết, chén tiết đỏ và đĩa thịt cùng chiếc đuôi heo. Bên cạnh còn cả hai dụng cụ lao động xagat xaclai.

Ché rượu đầu tiên được cắm cần cúng cho chủ nhà Aê H’Jut. Ché thứ hai cúng thần đất. Sau mọi lời khẩn cầu toàn thể người trong gia đình lần lượt uống rượu chuyền tay ( mnăm mring) . Lời khẩn cầu đã được gửi đi từ trong nhà, thày cúng và gia chủ cùng hai người trong dòng họ K’Buôr và Niê Siêng ra sân cúng nơi cái giỏ vẫn úp lên chiếc lỗ cầu xin làm lễ lúc sáng sớm. Tại đó, mang theo bầu rượu, một chén cơm, một chén nhỏ đựng thịt & đuôi heo, trong còn đặt một chiếc vòng cật tre nhỏ, M’jâo đặt chén thịt lên ba hòn đá và rót rượu xuống lỗ, ông cầu xin yang êlăn – thần Đất chứng giám cho lòng thành kính của buôn làng, cứu giúp cháu con trong lúc khó khăn nắng cháy “ Ơ Yang phía đông yang phía Tây, phía Nam phía Bắc, yang dưới đất, yang sấm sét trên trời. Buôn AYŭn dâng lên các yang linh thiêng heo này, rượu này. Xin hãy cho đất buôn Ayŭn một mùa mới an lành không dịch bệnh, không hạn hán. Cho người buôn AYŭn no ăn, đủ uống…Ơ Yang” Lời khấn lại đã được gửi đi, hai trưởng họ, chủ nhà và thày cúng cùng ăn mỗi người mấy miếng thịt đã được thần linh ban phúc. Việc cúng thần đất thế là xong, M’Jâo lại vào nhà lần lượt khẩn cầu tiếp sức khỏe cho dòng họ Niê Siêng và toàn thể buôn sang. Lần lượt từng người trong gia đình dòng họ K’Buôr và đại diện cho dòng họ Niê Siêng chuyền tay cần rượu. Hết ché thứ sáu là cuộc lễ thứ nhất, cúng đất, đã xong.

Bên nhà khoa tring ea – chủ bến nước, cũng là trưởng dòng họ Niê Siêng tiếng ching đã sầm sập vang lên. Mười ché tuk cột thành dãy dài, cũng mỗi ché sẽ cắm hai cần. Mình heo và sáu con gà đã thui đặt trước dãy ché . Ché đầu tiên cúng chúc sức khỏe chủ nhà Aê Blum, ché thứ hai cúng trời. Những ché sau cúng cho dòng họ Niê Siêng, đại diện dòng họ K’Buôr, rồi tất cả các gia đình trong buôn.Nhà nào cũng cử đại diện của mình đến tham dự. Nam ngồi ngoài đing gar, nữ ngồi trong đing ôk. Cứ thế tiếp tục lần lượt chuyền tay nhau vít cần, cùng ăn mỗi người một vài miếng thịt trong tiếng ching vẫn tiếp tục gửi đi thông điệp của cả buôn sang. Mời chị nhé khách xa, mời anh khách gần. Mời bạn đến từ buôn khác. Hãy sẻ chia cùng buôn AYŭn tấm lòng thành gửi tới các vị yang linh thiêng. Hết ché thứ mười là xong lễ cúng trời.

Người dòng họ Niê Siêng bưng mâm thịt luộc băm nhỏ chia cho tất thảy mọi người trong và ngoài nhà dài. Mỗi người một nắm nhỏ. Miếng ăn cộng cảm.

Chuyện kỳ diệu đã diễn ra. Mới sáng sớm nắng gắt thế, đến giờ này mây đen kịt đã kéo tới kín vòm trời mới xanh lồng lộng. Gió mạnh nổi lên cuốn đất đá, lá vàng bay tứ tung. Tiếng bò rống ò ò, tiếng heo khụt khịt, con ngựa nào vừa hý lên trong tiếng gió.  Và mưa ào ào đổ xuống… Đất giãn nở háo hức đón chào những giọt nước mưa ngọt lành. Cây cối ngả nghiêng nhảy nhót trong vũ điệu của gió.Những ánh mắt sáng ngời, những nụ cười hớn hở, các nếp nhăn xếp nếp dường như mờ đi. Tạ ơn các vị yang linh thiêng của đất trời cao nguyên đã nghe lời khẩn cầu chân thành của buôn AYŭn mà cho mưa về.

Mưa đã tới nhưng lễ cầu vẫn được tiếp tục tiến hành sau khi trời tạnh ráo. Ché tang cuối cùng được cột giữa sân, bên cạnh một cây cọc cắm chiếc đầu gà hướng về phía đông. Thày cúng ngồi ngoảnh mặt về phía đông khấn ( cầu mưa đến từ phía đông cho an lành. Bởi mưa từ phía Tây sẽ dữ dội, có thể thành bão lốc) “ Ơ Yang sấm yang sét trên trời. Tạ ơn các yang đã cho mưa xuống buôn Ayŭn. Chúng ta dâng lễ này xin được mưa trong ba ngày này, cho đất sinh sôi, nước sông suối tràn đầy, con người, con thú và cây cối đều có nước uống, qua khỏi cơn khát này. Ơ Yang…”.Lời nguyện cầu được gửi đi, già làng, trưởng hai dòng họ Niê Siêng và K’buôr lần lượt vít cần.

 

Yên tâm nhé buôn sang,  yang đã cho buôn AYŭn mình đỡ khát.

[...]
Xem tiếp