Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Mình muốn xây dựng thương hiệu cây thuốc

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-20-07

 

Mưa lâm râm khi chúng tôi ghé căn nhà xoàng xĩnh nơi ven đường ở xã Đăk Som ( huyện Đăk Glong, Đăk Nông). Cậu con trai cho biết bố đi sửa đầu máy bơm. Phải chờ mất một lúc, ông Lê Minh Hoàng mới phóng xe về.  Ông chủ của 70 ha đất đã canh tác hết này trông rất phong độ, rắn rỏi. Ít ai nghĩ ông đã 66 tuổi.Cái tuổi này nếu ở thành phố chỉ ung dung ngày ngày uống cà phê, đọc báo, xem tivi, hay chăm sóc chim, cây cảnh. Vậy mà vợ chồng ông cả ngày mưa lẫn ngày nắng, sùng sục lội khắp vườn rẫy.

Đưa chúng tôi vào ngôi nhà kính vườn thuốc rộng 23m2, trị giá 96 triệu đồng mà Dự án “ Nâng cao năng lực phát triển kinh tế cho đồng bào dân tộc tỉnh Đăk Nông” của Đan Mạch, vừa hỗ trợ kinh phí để hoàn thành, ông Hoàng nâng niu gảy từng chút đất đám mầm ươm giá thể các loại Lan Kim tuyến, Lan đá có tác dụng tăng cường thể lực, ngăn ngừa ung thư, bổ gan phổi….Loại lá thuốc có giá trị rất cao cả về kinh tế lẫn trị bệnh của Đông y. Vừa lấy bình tưới nhẹ nhàng lên đám lan, vừa  vui vẻ khoát tay giới thiệu khoảng đất nhỏ đang chăm bẵm Lan :

Ông Hoàng giới thiệu lan Kim tuyến

 - “ Loài Lan đa giá thể này cực kỳ khó tánh. Đất ươm cấy giống phải làm kỹ lắm. Coi nè, gồm toàn mùn lá rừng trộn với men vi sinh diệt nấm. Ươm nảy mầm rồi mới mang sang bên này cấy xuống. Chút phân hóa học dính vô là cây chết ngay. Sương gió, nắng nôi gắt gao nơi mảnh đất này, cũng khiến nó dỗi dằn như cô gái đẹp khó tánh ấy. Thế mới phải làm nhà kính. Cái nhà kính này bên Đà Lạt thì nhiều, chớ Đăk Nông chắc mới có cái này là một. Vợ tui bả không ưng nhận ươm cây thuốc với dự án đâu. Vì mất công chăm sóc lắm, mà chỉ vườn nhà mình thôi làm cũng chưa hết việc. Nhưng tui ham mấy cây này vì là thuốc quý, cần cho con người nên cứ quyết tâm nhận làm đó chứ. Bán lại có giá nữa, tới 270-300 ngàn đồng/ký đó. Nguyên giống cấy mô đã 700 ngàn/kg rồi.

 

Nhà kính này lẽ ra phải hoàn thành từ năm 2015 kia. Nhưng thủ tục lúng túng sao đó, suýt nữa làm tui nhỡ vụ ươm cây đó. Làm nông là phải theo đúng thời vụ mới có lời được”.

Nhìn người đàn ông ra dáng nông dân khỏe mạnh, nước da sạm nắng gió cao nguyên, nếu không nói, không thể biết ông từng là cử nhân khoa học tự nhiên, rồi kỹ sư kinh tế ở Đà lạt . Vì không tìm được việc làm, vợ chồng dắt nhau lang thang hết về quê chồng Quảng Ngãi, lại sang quê vợ Bình Định làm đủ nghề. Dạt qua Gia Lai năm 1987, rồi về Đăk Plao. Do lời mời gọi của người em họ là vợ ông Chủ tịch tỉnh Đăk Nông, rằng “ bên này đất tốt mà còn rộng dài lắm”. Vậy mà đã 11 năm hai vợ chồng gắn bó với mảnh đất này.

Bà Sen giở khăn bịt mặt, chống cây cuốc giữa lưng đồi lồng lộng nắng và gió , thở dài :

- “Trụ lại đây vì thấy đất rộng, đỏ au, mê quá. Nhưng làm rồi, quen biết rồi mới thấy thương bà con người dân tộc tại chỗ. Họ sống trên mỏ vàng mà do không biết cách làm ăn, thiếu vốn, nên nghèo miết. Thế nên vợ chồng tui càng gắn bó, quyết tâm ở lại, mở rộng diện tích, hướng dẫn cho bà con cùng làm.

                Mình cũng từng theo cha mẹ lên núi ở Bình Định với  cách mạng từ năm mới 6 tuổi đó chớ. Vì xuống núi mua đồ cho cứ mà bị bắt. Nhỏ tuổi nên nó thả, nhưng canh chừng không cho đi khỏi nữa. Do đó mà biết bà con người dân tộc miền núi tốt lắm, không nề hà gì khi giúp cách mạng. Vậy mà bây giờ họ vẫn còn vất vả lắm”.

                Ông Hoàng nối tiếp câu chuyện :     

- “ 70 ha, nhưng mình xuống cà rồi giao cho cho bà con dân tộc Mạ quanh đây chăm sóc. Giao được 6 ha cho 2 hộ rồi. Mình chịu phân, dầu tưới. Khi nào cà có thu thì chia đôi. Trồng cây bén rễ tới đâu, giao tới đó. Cây thuốc cũng vậy, cây nào dễ trồng, bén rễlà giao cho bà con chăm sóc”.

- “Ô, Các công ty cà phê cũng liên kết như vậy, nhưng họ thu 70%, bà con hưởng 30% cơ anh ạ.” 

- “ Đó là vì họ của Nhà nước còn phải nuôi mấy người văn phòng. Mình làm đây là trên đất truyền thống của bà con, chẳng phải mua bán gì. Giúp họ chừng nào hay chừng đó chứ. Nước vùng này không lo lắm. Chỉ buồn là bà con còn quen với tập quán cũ đất rộng người thưa, rừng đó, kiếm chỗ nào cũng có ăn,nên không được chăm lo cho lắm.  Ngay việc sạc cỏ đây, bà xã cũng một mình lụi cụi tự làm, vì sợ người dân làm không kỹ, lỡ phạm phải gốc thì cây chết uổng”.

Ông Hoàng bà Lan trên vườn thuốc

Đứng trên đỉnh đồi bao la nắng và gió, ngắm không chán mắt những cây chanh không hạt, cam xen bưởi da xanh, ổi nữ hoàng, thơm nhú trái dọc suốt hai bên đường từ chân lên đỉnh ( đã có khóm cho trái nặng tới 5kg)… qua ba mùa đang xanh mởn, đều đã được thu bói. Nhìn sang bên kia đồi, cà phê, bời lời phủ xanh gần kín diện tích đất đỏ mênh mông . Mới thấy phục công sức và mồ hôi đổ xuống mảnh đất này của cặp vợ chồng trí thức - nông dân là không thể tính được. Gia đình họ chỉ có 3 lao động. Cậu con trai tốt nghiệp đại học, vừa thương cha mẹ vất vả, vừa biết khó mà xin được việc, lại cũng chí thú với nghề nông, nên đang là trợ thủ đắc lực của hai người.  Bà Sen vẫn như đang dở mạch chuyện :

- “Nói vậy chứ làm không dễ đâu chị. Năm 2004, vợ chồng tui đã từng xin dự án trồng bời lời của tỉnh mà không được. Ham quá nên tự bỏ tiền mua 6.000 cây giống về trồng. Được thu hai lần rồi đó.  Thấy có nhà máy chế biến trà ở huyện, thay vì trồng trà búp, tui cũng trồng gần 1 ha trà xanh. Vậy mà   Hội Nông dân tới coi, hỏi tui “ Trồng rồi bán ở đâu?”. Trời ơi, người ta đang vận động rần rần uống trà xanh chống ung thư. 10 ngày tui cắt một lần, bán không đủ nữa đó chớ. Rồi còn cái vụ trồng gần 10 ngàn cây bơ Bot, bị dê họ thả rông ăn sạch nữa…gian lao lắm chị ơi. Nhưng muốn có thương hiệu thì phải ráng mà gồng thôi”.

Ừ, Đăk Nông đã có khoai Đăk Song, ổi Đăk Glong, nay mai chắc sẽ có cây thuốc, có chanh không hạt Đăk Som nữa đây.

- “Anh chị có phải vay ngân hàng để đầu tư cho diện tích 70 ha này không?”

- “Lúc đầu họ đâu cho vay. Vì hồi đó còn đất trống, có giấy tờ nhưng chưa có thu, không vay được. Sau phải nhờ “ người ta” có sự can thiệp mới vay được 200 triệu đồng của Ngân hàng Nông nghiệp, lãi tới 12%/năm chứ ít đâu”.

Câu chuyện của chúng tôi với vợ chồng Hoàng - Sen dường như không dứt ra được bởi sự đồng cảm. Từ từ theo xuống chân đồi, ông Hoàng khoát tay chỉ vườn các cây thuốc nam mới bén rễ phía bên tay phải, rất tâm đắc :

- Cây  thuốc Đông Y của mình nhiều mà chưa sử dụng hết, cứ để Trung Quốc sang tận thu hoài. Tui cố gắng xây dựng thương hiệu vườn thuốc, rồi nhân rộng ra cho bà con cùng trồng. May ra giúp xóa đói giảm nghèo chăng….

Cũng lạ, có đủ mọi phương tiện ôtô con, máy cày, xe tải…để làm việc, nhưng căn nhà ở thì chẳng có vẻ gì “ hoành tráng”. Chẳng có gì để có thể gọi đây là một trang trại. Dường như chỗ ở không phải là mối quan tâm chính của cả cha mẹ lẫn anh con trai gia đình này. Ấy vậy mà nói tới cây thuốc, vườn đất thì say mê không ngừng được. Nói tới bà con người dân tộc tại chỗ thì giọng lúc nào cũng ngùi ngùi…Ngoảng sang đồi bên trái, ngó sang đồi bên phải, màu xanh của cây thuốc, cà phê, cam, bưởi, chanh lẫn chưa lấp kín màu đất đỏ mênh mông. Nghĩa là còn phải vất vả lắm mới nên thương hiệu của một địa chỉ cây thuốc & cây ăn trái  giữa xa xôi cao nguyên. Nhưng  giọng nói chắc nịch và hồ hởi của cặp vợ  chồng trí thức – nông dân này, lại khẳng định được cho người nghe một niềm tin mãnh liệt vào sự thành công.

 

[...]
Xem tiếp

Mùa này rồi sẽ ra sao ?

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-17-07

            Bản tin thời sự 19h ngày 3/7/2016 của VTV1 đưa tin Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc làm việc với lãnh đạo tỉnh Kon Tum, trong đó Thủ tướng yêu cầu  “phải rà soát lại quỹ đất, không để bà con các dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất. Không được để các nông lâm trường “ phát canh thu tô” bà con các dân tộc ”. Điều này dường như ứng với những gì đang xảy ra tại buôn H’Đing, buôn Rao xã Cư Dliê Mnông, huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lak? Và biết đâu còn đang diễn ra đâu đó  ở Tây Nguyên mà chúng ta chưa có thông tin chăng?


Người buôn H'Đing lo lắng

                Những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, bà con người dân tộc Ê Đê ở buôn H’Đing xã  Cư Dliê Mnông,huyện Cư M’Gar, tỉnh Đăk Lăk lâm vào cảnh thiếu đói, bởi diện tích  vài chục đất rẫy truyền thống ( cái nong cái nia, cái lưng ông bà của buôn) phía đông bỗng dưng bị “ ai đó” bán cho nông trường Việt Đức hết. Đất quanh buôn phía Tây chính quyền cũng quy hoạch cho nông trường cà phê Drao tất cả. Mỗi gia đình chỉ còn nhiều nhất là 1ha, ít thì 1- 2 sào rẫy theo phương thức canh tác luân khoảnh cũ.

Năm 1982, Tỉnh Đăk Lăk có chủ trương các nông trường liên kết với bà con người dân tộc trồng và chăm sóc cà phê. Nông trường Drao – Sau này là Công ty TNHHMTV cà phê Drao - tuyển dụng 115 người dân trong buôn vào làm công nhân. Mỗi hộ 1ha. Hộ nào có 2 lao động khỏe thì được nhận liên kết 2ha.  Mỗi tháng được lĩnh 120 ngàn tiền lương, 25 kg gạo, các con “ ăn theo” được từ 10-12kg gạo/ tháng, tùy theo tuổi. Khai hoang, đào hồ, trồng cây và chăm sóc là việc của bà con. Giống cà phê, muồng che bóng và phân, dầu tưới do công ty cung cấp. Năm này qua năm khác, người dân trong buôn yên tâm với công việc và thu nhập ổn định của gia đình.  Cứ như đổi đời vì không  còn phải lo kiếm gạo, không còn phải sáng sáng gùi trên vai vô rừng tìm rau củ. Cuộc sống thật mới lạ với người Ê Đê buôn H’Đing. Khi cà phê có trái. Lương và gạo không còn được lĩnh, chuyển sang giao khoán, nộp sản vườn cà.

Theo tháng năm, vai trò công nhân chuyển từ mẹ, cha sang con. Các hộ đều có hai lần ký được hợp đồng  ( lần 1 – 3 năm : 2007 - 2010 và lần 2 – 5 năm : 2010-2015). Cho dẫu nhà nào đông lắm, có tới 7 anh chị em, thì canh tác 2ha cà phê và vài sào đất rẫy, kinh tế gia đình không phải lo lắng nhiều . Tuy không giàu và giá cà phê lên xuống bất thường, nhưng đời sống người dân và kinh tế buôn H’Đing ổn định. Những căn nhà xây dần dần được dựng lên bên cạnh nhà sàn truyền thống. Mọi việc cứ tuần tự như bao lâu nay vẫn thế, hơn 30 năm qua.

12 năm trước, 2003, Công ty D’Rao bắt đầu tái canh vườn cà. Đốn chặt mỗi năm vài chục ha. Từ năm 2015 , mỗi năm 30 ha. Sang 2017 sẽ chỉ còn 17 ha nữa là hết số diện tích từng liên kết với bà con buôn H’Đing . Công nhân chặt hạ cà phê , Công ty cho xe tới đào gốc, cưa muồng và chở toàn bộ thân cây đi. Việc tự dọn sạch vườn và gieo trồng các hộ vẫn canh tác theo mỗi mùa vụ. Khoai lang, mì, bắp, kể cả lúa cạn…vẫn góp phần ổn định kinh tế gia đình. Không có nhà nào rớt bậc xuống hộ nghèo. Trong số diện tích gần 90 ha đã dọn sạch từ 2003 cho tới nay, chưa có ha nào được tái canh ( theo người dân “ hình như chưa có kinh phí”).

                                                             Công sức 30 năm chỉ còn là đống củi cành

Bỗng đầu năm 2016, Phó Giám đốc Công ty đến buôn họp với các hộ nhận khoán lô, rằng “ ai tiếp tục sản xuất thì nộp 5 triệu đồng/ha. Trồng gì cũng được, chỉ không trồng lúa”. Dân xôn xao bàn tán, chưa có ý kiến nào được kết luận, không có biên bản nào được thông qua. Nhưng tháng 4/2016, 115 hộ buôn H’Đing ngạc nhiên lẫn bàng hoàng khi thấy xe máy cày ầm ầm kéo đến san ủi, lên luống trồng khoai lang trên toàn bộ diện tích gần 90 ha đất bà con đã canh tác hơn 30 năm nay. Người ta dựng hẳn nhà ở cạnh vườn ( cây dây leo đã phủ xanh mái) để tranh thủ đua nhau với thời tiết. Còn hơn một trăm hộ từng là công nhân của Công ty , chiều chiều đứng ven đường nhìn cánh đồng khoai lang bát ngát trên đất bazan đỏ au, lao xao hỏi nhau : Ai hợp đồng với họ ? Ai đang gieo trồng trên mảnh đất từng “ đã hóa tâm hồn” bà con hơn 30 mùa gieo trồng vui buồn qua? Mùa tới đây rồi sẽ ra sao khi không đất sản xuất, không việc làm, không thu nhập? Cũng chẳng biết hết vụ 2016 này “ người ta” có cho mình hợp đồng lại không? Vì hợp đồng cũ hết hạn từ  tháng 12/2015 chưa thấy “ai” nói được ký lại. Công ty chẳng phải thuộc huyện mà trực thuộc tỉnh. Kêu ở đâu bây giờ?

                                                                        Ai trồng khoai trên đất của người buôn H'Đing ?

Đất rẫy còn sót từ “ ngày xưa”, sau  hơn 30 năm, con cái lập gia đình, các hộ đã chia vụn ra hết. Sống sao đây khi đất ông bà mình theo truyền thống xưa, nay để được gieo trồng thì phải đóng thuế?  

Mưa xuống rồi mà bụng người buôn H’Đing  lửa lo âu vẫn ngùn ngụt cháy ?

 

 

[...]
Xem tiếp

Nét đẹp làng ching nữ ở Gia Lai

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-12-07

Làng Leng, xã Tơ Tung, huyện Kbang đã đi vào tiểu thuyết “Đất nước đứng lên” của nhà văn Nguyên Ngọc với hình ảnh Anh hùng Đinh Núp lãnh đạo buôn làng kháng Pháp, trở thành dấu ấn sâu sắc trong lòng bao thế hệ. Ngày nay, hình ảnh của Làng còn biết đến là vùng đất của những sắc màu văn hóa độc đáo, đủ sức hấp dẫn những bước chân du khách từ mọi miền đất nước.

 Mời quý vị và các bạn cùng về với làng Leng, xã Tơ Tung, huyện Kbang khám phá một nét văn hóa riêng biệt, độc đáo của đội Chiêng nữ giữa núi rừng Tây Nguyên. 

  Sau những mùa rẫy, có  thời gian rảnh rỗi những người phụ nữ làng Leng lại cùng nhau tụ hợp về ngôi nhà rông truyền thống để  tập luyện những bài chiêng, điệu xoang của dân tộc mình.

Nằm giữa cánh đồng mía trải rộng mênh mông, buổi chiều ở làng Leng khung cảnh thật đẹp, mặt trời xuống phía bìa rừng như đánh thức âm thanh của tiếng cồng, tiếng chiêng ngân vang giữa buôn làng.  Đặc biệt, tiếng cồng chiêng ấy lại được tấu lên bởi những đôi tay của các thiếu nữ xinh đẹp miền sơn cước.

      Đã thành thông lệ, sau những mùa rẫy, có thời gian rảnh rỗi những người phụ nữ làng Leng lại cùng nhau tụ hợp về ngôi nhà rông truyền thống để  tập luyện những bài chiêng, điệu xoang của dân tộc mình. Từ thế hệ này sang thế hệ khác, bà dạy cho mẹ, mẹ truyền cho con và cứ như thế nhịp chiêng ở đây thấm sâu và ngân dài qua bao thế hệ.

Chị Đinh Thị Jrech, làng Leng, xã Tơ Tung, huyện Kbang, Gia Lai cho biết: “Lúc đầu phụ nữ tập cồng chiêng thì khó, nhưng mà tập dần thì quen, nay thì cũng đã đánh được rồi, tham gia biểu diễn ở nhiều nơi.  Cũng vận động chị em cố gắng tập luyện để sau này tiếp tục truyền lại cho con châu của mình nữa để bảo tồn văn hóa của dân tộc mình”.

Cũng như đội cồng chiêng nam, đội cồng chiêng nữ làng Leng sở hữu giàn chiêng có biên chế lớn lên đến hơn 20 thành viên cùng tham gia biểu diễn. Tuy nhiên, đội chiêng nữ không phô diễn sự mạnh bạo, khỏe khoắn thường thấy ở những tay chiêng đàn ông mà cách cầm chiêng, gõ nhịp của các nữ nghệ nhân Banah nơi đây lại vô cùng duyên dáng, uyển chuyển; từng cánh tay tròn đưa lên hạ xuống cùng với những cái lắc hông gợi tình làm say đắm lòng người,...

Già làng Đinh Chơ Rai, làng Leng, xã Tơ Tung, huyện Kbang, Gia Lai nói: “Sau thời gian luyện tập thì nay đội chiêng nữ của làng đã đánh được nhiều bài chiêng rất hay không thua gì đội chiêng nam, đây thật sự là điều rất đáng mừng. Nay cả làng hầu như ai cũng biết đánh chiêng, bản sắc văn hóa truyền thống  của dân tộc mình sẽ được gìn giữ, phát huy”.

Khoác trên mình bộ trang phục truyền thống, không điểm trang cầu kỳ, rất thô mộc và giản dị nhưng mỗi khi biểu diễn đội chiêng nữ làng Leng lại tạo cho người xem một sức hút đến lạ kỳ. Tiếng chiêng ngân lên như những lời tâm sự, là mái ấm gia đình với những buồn vui sinh hoạt mọi nhà…

Tiến Sĩ Nguyễn Thị Kim Vân, GĐ Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Gia Lai cho biết: “Đến với làng Leng, xã Tơ Tung ta sẽ thấy được nét đẹp cồng chiêng nữ, họ biểu diễn không thua gì đội cồng chiêng nam. Thực tế thì họ cũng đã biểu diễn ở rất nhiều nơi, điều này cho thấy vẻ đẹp cồng chiêng là một sản phẩm âm nhạc riêng” .

Tiếng chiêng nữ đã ngân vang giữa núi rừng, những người phụ nữ làng Leng đang mang đến thêm màu sắc cho buôn làng và cho chính bản thân mình.

Chắc rằng mọi người sẽ rất tự hào về những người phụ nữ làng Leng, vừa đảm đang việc nhà, vừa khéo léo nhiệt tình với công việc của cộng đồng. Và chính những thiếu nữ miền sơn cước đang là người góp phần gìn giữ, phát huy nét bản sắc của dân tộc mình để lại cho muôn đời sau./.        

 

Kim Ngân – Phan Nguyên- Minh Vũ

[...]
Xem tiếp

Âm áp mãi trong tim

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-27-06

Nhanh thế, đã 18 năm lên sóng Đài TNVN chương trình phát thanh tiếng Sê Đăng rồi đấy. Nhiều ký ức ùa về trong tâm trí khiến bồi hồi quá.

Ngày ấy, Cơ quan thường trú Đài TNVN tại Tây Nguyên đã lần lượt lên sóng các thứ tiếng Ê Đê, Jrai và Bâhnar. Để có thể lên sóng chương trình  phát thanh tiếng Sê Đăng, tôi được BGĐ giao chuẩn bị từ nhân sự cho tới kế hoạch  đào tạo & tìm giáo viên hướng dẫn lẫn cộng tác viên nghe đài sau khi lên sóng. Đây là một việc rất khó, vì tiêu chuẩn đưa ra là phải tốt nghiệp Đại học. Nhưng  những năm 80, ở Kon Tum,tìm tốt nghiệp 12 còn khó, nói gì tới Đại học, cho dù Đài PT-TH Kon Tum đã phát tiếng Sê Đăng từ sau 1975  rồi.  

Kế hoạch là  tuyển được người, sẽ đưa qua Đài Kon Tum học trực tiếp với anh A Reng, PGĐ ,cũng là người Sê Đăng và các anh chị em phát thanh viên lâu năm ở bên đó rèn giũa. Sau 1 tháng, về Đak lak sẽ tiếp tục vừa thực hành nghiệp vụ  vừa tiếp tục học phát âm đọc,dịch với cụ A Wit ( ở làng Kon Hring). Cụ cũng nhận lời làm Cộng tác viên  nghe và góp ý cho chương trình sau đó. Bao nhiêu cuộc điện thoại gọi đi, bao nhiều lời nhắn nhe hỏi đáp bay lên trên sóng.

Số lượng đưa ra là phải tuyển cho được 5 người,2 nam, 3 nữ hoặc ngược lại cũng được. Tôi liên hệ với Đài PTTH, trường PTDT NT tỉnh Kon Tum, nhờ cả lãnh đạo địa phương tìm giúp, mà vẫn chỉ được có 1 nữ, 2 nam, đều chỉ hết lớp 12. Đành cũng phải “ cầm lòng vậy bằng lòng vậy” thôi. Chợt nhớ ra từng có 1 bác sỹ tốt nghiệp Đại học Tây Nguyên đã 4 năm không xin được việc làm, phải về làng làm rẫy ( vì em mà tôi viết được một truyện ngắn đấy). Tôi tìm đến tận làng, nhưng thật trớ trêu, tỉnh Kon Tum biết chuyện lại giữ em làm ở trạm xá xã, không cho đi. Cả gia đình họp lai, em quyết định nhận việc ở trạm y tế xã  cho gần nhà, không theo tôi sang Đăk lăk. Đang thất vọng thì may quá cụ A Wit giới thiệu cho Y Gương, đang là giáo viên Mầm non ở làng Kon Hrin ( huyện Cư M’gar, Đăk Lak). Mất mấy lần qua lại thuyết phục cả Gương lẫn gia đình , thêm được 1 nữ nữa.

Trường hợp Nhát Li Sa gay go hơn cả. Anh đang là “ ngôi sao” của ngành VH tỉnh Đăk lak. Đơn vị gây khó dễ đủ điều chỉ để giữ lại. Chúng tôi cũng làm đủ mọi cách , thậm chí là Nhát làm đơn xin nghỉ phép không hưởng lương để  đi Kon Tum học.Sau thì xin thôi việc. Thấy Nhát quyết tâm quá, ngành mới làm thủ tục cho chuyển. Việc này làm tôi với sêp của Nhát – vốn là bạn thâm niên – giận nhau một thời gian.

Vất vả nữa là 5 người 5 vùng khác nhau mà lẽ ra chỉ tuyển người Đăk Tô để lấy ngữ âm chuẩn, nhưng không tuyển được. Do đó khi học dịch các bạn cũng vất vả lắm. Sau này có em không chịu được sức ép của công việc, bỏ về,  lại phải tuyển người mới thay thế. Tôi cũng vẫn là người đi tuyển chọn đợt hai.

Tổ Sê Đăng chỉ có Nhát & Gương tốt nghiệp trung cấp. Vì vậy mà so với các chương trình khác phải nỗ lực gấp đôi, vì họ đều Đại học cả.Nhưng anh chị em bảo ban nhau rất tốt.

Thời gian chuẩn bị ( học nghiệp vụ) chỉ có 2 tháng, anh chị em phải nỗ lực rất nhiều, học ngày đêm, học lẫn nhau, hỏi thêm các anh chị. Mọi việc đều đúng thời hạn quy định của BGĐ. Tất cả đều mừng.

Chương trình phát thanh các thứ tiếng dân tộc Tây Nguyên của Cơ quan thường trú mới lên sóng 2-3 năm, nên Việc tiếp xúc bạn nghe đài là việc làm rất thường xuyên. Tôi là người phụ trách. Ngoài việc thường xuyên liên hệ với các cộng tác viên đã chính thức hợp đồng nghe, góp ý, định kỳ 3 tháng/lần phải đi cơ sở, đến tận làng, ngủ đêm để trò chuyện với bà con & giới thiệu sóng, kiểm chứng việc nghe đài tại gia đình, kiểm tra luôn chất lượng sóng phát các vùng. Những nơi có thể thì tổ chức họp dân. Nhóm kiếm tra sóng của chúng tôi thường kết hợp cả phóng viên để lấy tin bài, có lần xe phải xuống thung lũng, lên lưng chừng núi, vô rừng, đến những vùng thật xa đô thị. Xe Mekong một cầu, chở nặng cả máy lẫn người, mưa, đường trơn, xe suýt tuột dốc trên đường vô Đăk Tô ( sau này con dốc ấy được giao thông tỉnh ủi thấp xuống). Có lần cả nhóm từ Đăk Glây về, phải xuống bốc đá  dọn đường cho xe qua, vì đêm trước mưa to, đường sạt lở. Những chuyến đi rất đáng nhớ của đời làm báo.

Qua những chuyến hành trình, chúng tôi hiểu được nhu cầu của người nghe hơn, nhất là bạn nghe đài người các dân tộc thiểu số. Bà con thích nghe chuyện cổ tích , kể sử thi, các chương trình ca nhạc, nhất là những bài hát bằng tiếng dân tộc. Còn thời sự thì nhiều từ mới không có trong ngôn ngữ dân tộc, dịch khó hiểu, Những gì bà con góp ý phải về báo cáo lãnh đạo & giao ban thông báo ngay.Ví dụ như một số từ phát sinh Thuế giá trị gia tăng, ISO… thì để nguyên tiếng Kinh, không dịch, không mượn tiếng nước ngoài ( nhhư có biên dịch vẫn hay dùng từ companies – công ty). Sau này một số ca khúc quen thuộc của Tây Nguyên được dịch sang 4 thứ tiếng, lấy người dân tộc địa phương hát, bà con rất thích.

Tôi nhớ lần đi kiểm tra sóng ở Buôn Hằng của Nhát, thấy ai ai ( kể cả trẻ em trai lẫn gái) cũng có chiếc radio nhỏ dắt thắt lưng, cạp váy “ để nghe Nhát hát, Nhát nói”. Sang Kon Tum, bà con hồ hởi “ nghe tiếng người mình trên sóng quốc gia  tự hào lắm, mừng lắm. Cám ơn Đài” . Sao không vui mừng !

Bà con góp ý tiếng Kon Plong khó nghe hơn tiếng Đăk Tô, dịch thời sự nên dịch nghĩa, dịch sát ý quá khó hiểu……. Những ý kiến đó được trao đổi lại với anh em, mọi người đều rút kinh nghiệm ( kể cả các chương trình khác). Sau này dù không ở Đài nữa,  có dịp đi công tác Kon Tum, tôi hỏi, thấy bà con khen dịch đã dễ hiểu hơn. Đọc cũng quy chuẩn, thậm chí hơn cả Đài tỉnh Kon Tum .

18 năm qua là cảnhững sự  nỗ lực rèn luyện rất lớn của các biên dịch, phát thanh viên chương trình tiếng Sê Đăng. Không có đánh giá nào cao hơn việc người nghe các  chương trình phát thanh tiếng dân tộc ngày một nhiều hơn. Tôi đã từng được chứng kiến khi đi tìm người dân tại rẫy, không thấy người, chỉ có chiếc radio treo trên cành cây cao đang phát vang vang tiếng dân tộc . Tôi từng được cơ quan tặng 2 chiếc radio, mang về buôn tặng lại cho người nhà, bà con thuộc giờ phát hơn tôi.

Riêng tiếng Sê Đăng, làng Kon Hrinh coi tôi như người nhà, lúc nào về gặp cũng khen anh em tiến bộ. Nhất là cụ A Wit, tự hào lắm. Lúc ốm nằm dưỡng bệnh cũng để cái radio bên tai. Cô ruột tôi bị liệt nằm một chỗ mấy năm liền, chiếc đài nhỏ bên tai chỉ để đúng chỗ sóng phát tiếng Ê Đê

Thỉnh thoảng con người cần ngoái lại sau lưng, để nhìn xem quãng đường đã qua có những vui buồn gì. Trong tâm hồn và trái tim  tôi, rất gắn bó với chương trình phát thanh tiếng Sê Đăng, nên có nhiều điều để nhớ lắm. Nhớ ngày chuẩn bị lên sóng, nghe lại mới biết Gương đọc nhầm “ Đài PTTNVN”, thành “ Đài nói tiếng VN” . Mưa như trút nước khi Khương lái chiếc xe Mekong đưa cả nhóm len lỏi trong vườn cà ( vì đường quá lầy xe không qua nổi) quyết tâm để vào Kon Hring thu lại.

Nhớ ngày đầu tiên lên sóng, cả BGĐ, tổ phóng viên ( dẫu đã thực hiện 3 thứ tiếng rồi) hồi hộp như ngạt thở cùng với tổ Sê Đăng.

 Nhớ hôm Lãm & tôi ngồi ở nhà dân trên lưng chừng núi Ngok Linh, dò được sóng giới thiệu cho bà con nghe đài tiếng Sê Đăng mà ứa nước mắt . Nhà chúng tôi ở nhờ ngay dưới chân núi, có vòi nước tự chảy dẫn từ trên đỉnh về, róc rách suốt đêm mất ngủ vì niềm vui ngập tràn trong tôi.

Nhớ, chưa có điện thoại, tôi & Gương chở nhau về Kon H’Ring thu thanh ý kiến cụ A Wit về chương trình. Mưa tạnh, đường trơn như trời đổ cả thùng mỡ xuống, bánh xe cứ loạng quạng lại qua. Mấy lần tôi quăng Gương xuống đường, em bảo “ cô chạy xe, em đi bộ”. Lẽo đẽo theo nhau hàng cây số như thế cho ra tới ngã 3 liên huyện .

Mừng thấy anh chị em Sê Đăng và cả những tiếng dân tộc khác, ngày một vững vàng trong nghề, được bà con tin yêu,có người đã tốt nghiệp đại học báo chí, cuộc sống gia đình & cá nhân ổn định. Là người tổ chức thực hiện việc tuyển chọn & đào tạo anh em tiếng Sê Đăng, tôi nghĩ mình đã góp phần làm được những điều thật tốt đẹp cho cả xã hội lẫn bà con mình.

18 năm ngày tiếng Sê Đăng lên sóng quốc gia, như những trai cô gái Tây Nguyên “ da nâu mắt sáng vóc dáng hiền hòa” tràn đầy sức trẻ, chân thành chúc cho những bạn đồng nghiệp, những người em thân thương tổ Sê Đăng và các chương trình tiếng dân tộc khác của Đài TNVN  may mắn & hạnh phúc trong cuộc sống, ngày càng giỏi nghề, dịch hay, dịch đúng để bà con mình hiểu quyền lợi và  những gì Nhà nước dành cho mình. Nhất là tuyên truyền về pháp luật, về khuyến nông, về bảo tồn văn hóa cổ truyền, theo phương châm “ cung cấp những gì bà con cần, không phải những gì mình thích”.Và trở thành người bạn thân thiết, luôn gắn bó của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên.  Mãi mãi ấp áp trong trái tim tôi những ngày đã xa ấy.

 

 

 

 

[...]
Xem tiếp