Linh Nga Niê Kdăm
taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Mang mang ký ức tuổi thơ

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-19-05

Đầu tháng 5/2015.Tôi nhận được tin nhắn của các bạn ở VTV, báo ngày phát sóng chương trình phỏng vấn những kỷ niệm với Hồ Chủ tịch mà họ đã kỳ công vào tận Buôn Ma Thuột tìm kiếm thông tin. Tuy nhiên, bộ phim tài liệu phát hôm ấy khiến tôi xúc động đến ngỡ ngàng, lại không phải là đoạn trả lời các phóng viên VTV, mà là những hình ảnh tuổi thơ bên cạnh Bác Hồ xuất hiện liên tục trên màn hình. Khuôn mặt tròn hớn hở, mái tóc cắt ngắn viền ngang má. Lúc nào tôi cũng được ngồi sát bên cạnh, khi Bác vui cười, lúc Bác chia kẹo cho các cháu…Ôi, chuyện ngày xưa của tuổi ấu thơ…

                Tôi nhớ lắm,dẫu ngày đó chỉ mới 4,5 tuổi đời. Những hình ảnh ấy được nhà đạo diễn điện ảnh  người Pháp ( lớn lên mới biết tên ông là  Carmen ), đến quay tại nhà trẻ bé nhỏ nằm sâu giữa rừng già chiến khu, bên cạnh căn cứ kháng chiến của chính phủ, nhà trẻ mang tên Tân Tiến.

                Tân Tiến,  có lẽ là nhà trẻ đầu tiên của chính quyền cách mạng non trẻ, dành cho con em cán bộ, chiến sỹ . Chưa đầy 20 đứa bé lít nhít từ 3-5 tuổi có cha mẹ đang rong ruổi trên mọi nẻo đường vận động quần chúng, hay là bộ đội tham gia đánh trận nào đó ở phía Bắc, suốt ngày đêm bên các cô bảo mẫu. Mỗi bé một chiếc túi nhỏ, trong ấy  có vài bộ quần áo. Khi cần chỉ khoác lên vai là cùng các cô chú di chuyển được ngay ( nhưng rất may trong suốt thời gian ở trại, chúng tôi chưa bao giờ phải chạy giặc càn). Lớp học kề bên con suối cạn nho nhỏ, chiều chiều mùa hè, các cô đưa chúng tôi ra suối , thả cho bì bõm đùa giỡn, hụp lặn trong niềm vui tột cùng của con trẻ giữa dòng nước trong leo lẻo. Đêm mùa đông, một bếp lửa hồng với những gộc củi lớn ấm áp cháy rừng rực  giữa nhà. Lũ trẻ xúm xít bên các cô quanh bếp, với mùi khoai lùi hay sắn nướng thơm phức. Rồi sau đó chìm dần vào trong giấc ngủ, chắc vẫn còn những thổn thức cố nén trong giấc đêm nhớ hơi ấm thân thương của cha mẹ, nhưng vẫn yên lành giữa núi rừng, trong tiếng con mang nào buồn bã tác gọi .

                Nhà trẻ Tân Tiến, như đã nói ban đầu, nằm giữa ATK ( An toàn khu), thủ đô suối ngàn của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày ấy. Chỉ cần leo lên một đoạn dốc ngắn với vài chục bậc  đất, có thể đến ngôi nhà bé nhỏ của một cụ già có chòm râu đen phất phơ. Ở trên ấy, thế nào cũng có cho bọn lít nhít chúng tôi, chục trái vải rừng, vài chiếc kẹo ngọt, của cực hiếm thời bom đạn. Chiều chiều, thỉnh thoảng ông cụ xuống trại, cùng các cô bón cơm cho bé ít tuổi, chơi rồng rắn lên mây với đám lau nhau lớn hơn, lúc vỗ tay cho bọn trẻ hát “ Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng…”. Chúng tôi chẳng cần biết đó là ai, nhưng trái tim bé nhỏ của tôi tràn đầy mến luyến , giống hệt như với ông ngoại thân thương của tôi lúc ấy đang  ở đâu đó xa ngái giữa rừng Việt Bắc.

                Sau này về Hà Nội, tôi nhận ra ông cụ  trong lần đầu tiên đến văn phòng Quốc hội, nơi tổ chức đón giao thừa chung nhân dịp Tết độc lập đầu tiên  1955 , cho các cán bộ mới về tiếp quản. Ba tôi bảo đó là “Bác Hồ”. Lúc ấy tôi còn bé hơn đứa cháu đang học lớp hai bây giờ, đi học về thường bi bô tâm sự  “ cô giáo nói Bác Hồ mất rồi, ngoại” .Cụ nhận ra ba tôi và hỏi thăm tôi “ con gái Ê đê có học tiếng Ê đê không?”. Thế là ba cho tôi học tiếng dân tộc từ năm đang học lớp 3.

                 Nhiều bạn hay hỏi “ Con đường nào dẫn chị đến với công việc sưu tầm & nghiên cứu , rồi trở thành một chuyên gia của văn hóa Tây Nguyên như bây giờ ?”. Biết nói thế nào nhỉ? Trước tiên là bà con các dân tộc Tây Nguyên đã khai sáng tâm trí tôi, dạy tôi biết thế nào là vẻ đẹp nguyên sơ của một nền văn minh hoang dã của miền quê hương đất đỏ, giàu nắng, giàu gió và giàu cả những nét văn hóa đặc biệt chẳng giống ai. Để rồi yêu, rồi biết trân trọng những Di Sản mà ông bà mình để lại. Sau nữa là những người thày, các cố Giáo sư Trần Quốc Vượng, Tô Vũ, Tiến sỹ khoa học Tô Ngọc Thanh…dạy tôi không chỉ biết cách kiếm tìm, mà còn biết phân biệt, gọi tên  cái gì với cái gì cho đúng nghĩa.

                Nhưng trên hết, có lẽ khởi nguồn từ những ngày đã rất xa. Những ngày bắt đầu từ năm 1955 ấy. Mỗi một năm Tết Nguyên Đán về, trường Cán bộ dân tộc miền Nam tập kết ra bắc ở Gia Thượng, Gia Lâm, Hà Nội, nơi ba tôi làm Giám đốc, lại tưng bừng hội hè. Đứa con gái 6 tuổi vừa ở rừng Việt Bắc về, lẽo đẽo theo ba đến các Chi trong trường ( mỗi chi là một tỉnh, một dân tộc). Để làm quen được với rượu cần, chẳng biết cất bằng thứ men gì mà cha con tôi say ngất ngư, hay ăn những món cay xé lưỡi bởi đầy ớt hiểm . Thích thú, nhâm nhi xé từng mảnh thịt khô nướng thơm phưng phức trên lửa hồng. Nghe mẹ cằn nhằn “ sao để ba say tới người ta bỏ thịt trong túi veston mà không biết. Chuột cắn nát áo thì sao?” ( sau này thì tôi biết rồi nhá, chẳng phải ai chơi xấu ba đâu, mà đó là phong tục sẻ chia sau mỗi lễ hội, bất cứ tộc người nào ở Tây Nguyên cũng có. Không kiếm ra lạt để xâu thịt, thì cho vào túi áo là đúng rồi còn gì nữa). Nhiều nhất là xem văn nghệ, năm nào cũng diễn ra vài ba đêm như thế, mới hết tinh hoa của gần 20 dân tộc anh em cùng cư trú trên miền núi Trường Sơn – Tây Nguyên. À, tuy ít nhưng mà có cả các bạn Tày, Nùng, Hoa nữa chứ ( con của một số cán bộ người dân tộc phía Bắc đang về công tác ở Hà Nội, gửi tới trường học văn hóa).

                Tôi biết tới bài ka choi buồn mênh mang của người Hrê, câu arei  cùng điệu múa khil – đao rộn ràng trong dân ca Ê đê, bài hát “ Chim Jil đi tắm” Sê Đăng nhí nhảnh, hay “ Em bên suối” đầy lãng mạn của dân ca Bâhnar. Biết nắm tay ba, tay bạn bè ngượng ngập đôi chân bước lấp dấp theo vòng múa suang JRai náo nức cùng dàn ching arap. Cao hơn là kịch dukê với những nhân vật công chúa, khỉ Hanuman, chằn tinh…của người Khơmer, sau này là bên nội thân thiết của các con tôi…. Năm này qua năm khác, những thứ đó ngấm vào tâm hồn tôi.

                Chưa hết. Những năm đầu của thập kỷ 60, thế kỷ XX, văn hóa dân gian độc đáo của Tây Nguyên, được đâu đó quan tâm đến. Các nhà sưu tầm văn học tìm tới ghi chép những áng văn vần của trường ca Đam San, Xing Nhã. Các nghệ sỹ - giảng viên múa kiên nhẫn ngồi bên nghệ nhân ghi lại từng động tác dân gian để sau này hình thành hệ thống cơ bản múa Tây Nguyên giảng dạy trong trường múa….Là đứa hay tò mò, tôi thường theo sát các cô chú, anh chị nhìn ngó, lắng nghe….Đấy, cứ thế ! văn hóa dân gian truyền thống Tây Nguyên ở trong tôi từ lúc nào, sao biết?

                Có điều, sau này lớn hơn, nhất là khi lăn vào nghề tôi mới rõ : những năm đầu mới tập kết ấy, Ban Giám đốc nhà trường đã làm theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch “ hàng năm, cho bà con tổ chức tết cổ truyền để vơi bớt đi nỗi nhớ quê hương”.( Việc này chỉ đến khi phát động “ chống mê tín dị đoan”, mọi lễ hội truyền thống mới bị dẹp bỏ. Vì ai cũng sợ làm sai ). Nếu không có những tháng ngày đẹp đẽ tắm trong không gian văn hóa cổ truyền với nhịp điệu ching chêng náo nức ngay giữa lòng thủ đô Hà Nội  ấy, làm sao có một tôi với nghiệp “ văn hóa dân gian Tây Nguyên”  hôm nay?

                Còn nữa, sau ngày chuyển về trường dân tộc tại Mễ Trì ( Hà Nội) năm 1960, dường như năm nào Bác cùng đến thăm trường. Với lợi thế con Giám đốc, lại còn nhỏ tuổi, trong khi cả trường tập trung lên hội trường chờ đón, tôi lẽo đẽo theo ba đưa Cụ đi khắp nơi. Lên ký túc, nhắc bảo mẫu các cháu có đái dầm thì phải giặt chiếu.Xuống bếp mở lồng bàn xem mâm cơm, nói chị nuôi đừng nấu cơm nhiều cháy, lãng phí. Ghé lò bánh mì ( hồi đó chỉ trường tôi có thôi nhé), dặn đừng lãng phí bột. Tới hội trường, chào hỏi xong, câu đầu tiên bao giờ Bác cũng hỏi mọi người là “ các cháu ăn có no không?”….

                Những câu chuyện lan man, có lẽ là rất nhỏ nữa,  để dẫn tới điều tôi muốn nói với mọi người rằng “ tấm lòng Bác Hồ với người Tây Nguyên thật mênh mông”. Nếu không hiểu và thương quý dân, sao cho phép người dân xa quê làm những việc gợi sự nhớ nhung về bến nước núi rừng như thế. Thậm chí có năm, nhà bếp mang lên cho gia đình tôi một xoong cháo đón giao thừa. Ấy là con nai ở đâu đó biếu, Bác Hồ gửi tặng lại trường, ba tôi bảo bếp ăn nấu mấy nồi cháo to, chia cho mọi người, ai cũng được hưởng tình thương của Book Hồ. Rồi ba tôi, một trong số ít ỏi những người đại diện cho Tây Nguyên, đâu có được “ ở” với Quốc hội tới 9 khóa, nghĩa 45 năm như thế ?  Và có lẽ cuộc đời lẻ bóng khiến bác yêu thương trẻ em hết lòng ?

                Tôi vẫn thường nghĩ, ba tôi, một trí thức Ê đê đến với cách mạng từ khi  mới 24 tuổi, cho tận đến lúc đi về “ bến nước ông bà” – theo cách nói của người Tây Nguyên – lúc 79 mùa rẫy, nghĩa là suốt một đời, chỉ tận tụy vì mối đoàn kết các dân tộc, vì đồng bào dân tộc, vì sự nghiệp giáo dục dân tộc, ấy cũng chính vì ông tiếp nhận ngay từ thuở ban đầu, khi mái tóc còn xanh mướt, ngay trong kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa I - 1946, tấm lòng và tình cảm của Bác Hồ đối với đồng bào các dân tộc thiểu số cả nước. Tôi chỉ học theo Bác và Ba, con đường gìn giữ văn hóa dân tộc, không để cho “ mất văn hóa là mất tất cả”, như lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã dặn. Hạnh phúc nhỏ nhoi ấy theo tôi suốt đời !

[...]
Xem tiếp

Về với Sóc Trăng

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-07-05

Có một bài hát về quê hương Sóc Trăng mà ông xã tôi rất thích, không phải chỉ vì là  “ địa phương ca ”, mà bởi giai điệu mang âm hưởng dân gian Nam Bộ ( phần nhạc đệm có cài thêm cả làn điệu dân ca Khơmer), tiết tấu rộn ràng, lời nghe cũng dễ thương. Có một đoạn rằng “ Về thăm người bạn Khơmer nghe hát dù kê và điệu múa lăm thôn. Sóc sơ bai ơ bong, tâu na ơ bong ơi… Dù đi bốn biển năm châu, xa quê rồi mới hiểu lòng đau ”. Đi trên xe đò hãng Phương Trang về Sóc Trăng trên con đường cao tốc láng o, hay đêm văn nghệ lồng lộng gió sau đó cạnh nhà tại sân Ủy ban Quận Tân Phú thành phố Hồ Chí Minh, cũng nghe được bài hát này.Khiến tâm trạng một người làm nhạc như tôi cũng thấy hưng phấn.

                                                         Tượng đài đoàn kết 

Không kể festival Lúa Gạo thì qua 5 Tết rồi, năm nay tôi mới trở lại Sóc Trăng đúng mùa Cho thnăm thmay.Thành phố như lộng lẫy hơn trong tết cổ truyền của người Khơ mer. Cô cháu gái, Trưởng một phòng của Sở Văn hóa, chở mợ vòng quanh phố phường, khoe sự đổi thay của quê hương. Ngay đầu cửa ngõ vô thành phố là tượng đài ba cô gái Kinh, Hoa, Khơmer cao vút lên trên bầu trời xanh biếc. Rất may là không hoành tráng cho tốn kém ngân sách như nhiều tượng đài ở các địa phương khác, mà vẫn biểu hiện được sức sống và tình đoàn kết các dân tộc của một miền quê Nam Bộ. Ghé công viên hồ Nước Ngọt , sạch đẹp, cây xanh, hồ nước khiến không khí mát rượi ( lần dự festival Lúa Gạo tôi đã chụp hình đám cá vàng dày đặc tung tăng lượn dưới hồ). Rất thích hợp cho một chốn thư giãn tại một vùng không có mùa đông như Nam Bộ. Chỉ tiếc các hàng quán xé lẻ chiếm hết không gian khiến không còn bất cứ một  chỗ rộng nào, ngoài các con đường lượn quanh, có thể dành cho người già tập dưỡng sinh, thanh thiếu niên vui chơi tập thể ngày nghỉ cuối tuần ( như ở các vườn hoa tại thành phố Hồ Chí Minh). Âu cũng là tình trạng chung ở mọi địa phương(?) . Chẳng  thế mà Sóc Trăng  thiếu hẳn một sân vận động tương xứng ( mỗi khi có tổ chức  thể thao gì huy động đông đảo người, là phải đưa về huyện Châu Thành). Dạo một vòng quanh bảo tàng ( bởi lần về trước đóng cửa ), cùng với Bảo tàng Khơmer Sma Cum du khách có thể nhẩn nha thả bước quanh quanh hai tầng lầu để tìm hiểu đầy đủ mọi điều về lịch sử và văn hóa đặc trưng của một miền quê . Chỉ hơi tiếc sân rộng mà thiếu bóng mát, thứ cần thiết nhất cho con người cảm giác được chở che, thân thiện. Cái nóng từ mặt beton phả lên dễ khiến người ta muốn mau thoát ra. Với lại …không biết mấy chiếc xe tăng được trưng bày ở sân, có lịch sử  gì trong ngày giải phóng Sóc Trăng không nhỉ? Xe tăng vô được tới Tây Nam Bộ  quả là kỳ công.

 Xe vòng qua quảng trường trước trụ sở Vinaphone thênh thênh rộng, đêm đêm ánh đèn cao áp sáng rực, đông chật người dạo mát, nhâm nhi giải khát sau một ngày nóng đến 36 độ. Con đường Trần Hưng Đạo có thể được coi như phố Wall của Sóc Trăng, bởi là nơi tập trung tới hàng chục trụ sở các ngân hàng, mới sáng sớm đã nhộn nhịp người xe. Phố chợ cạnh nhà , không thiếu một chủng loại hàng hóa gì, lần về trước còn phải rón rén bước qua những vũng nước, nay thảm beton láng o; chỗ ngồi gọn gàng sạch sẽ, râm ran tiếng chào mời ghé thưởng thức tô bún nước lèo “ đặc sản” …

Cái mới của  tết cổ truyền năm nay là 92 ngôi chùa  Khơmer trong toàn tỉnh đều đã được xây cất khang trang, to đẹp. Nơi nào cũng rộn ràng, rực rỡ sắc màu cờ hoa đón  Tết ,cho dẫu “ vụ” hành tím đang làm lao đao người dân Vĩnh Châu. Cũng bớt hẳn những hàng quán xâm lấn mọi cửa chùa.  Đó là sự nỗ lực của chính quyền thành phố và ngành văn hóa. Phải như thế chứ, không vui , không tự hào sao được khi Sóc Trăng có tới hai đặc trưng văn hóa Khơmer được công nhận là Di Sản văn hóa Quốc gia : Tết Cho thnăm thmay và Hội đua ghe Ngo. Thế nên chùa Peng Sâm Rưc ở ấp Giồng Chùa nhà chồng tôi, chỉ là một ngôi chùa nhỏ trong xã An Hiệp ( Mỹ Tú), quang cảnh và không khí khác hẳn những tết trước. Cũng giống như chánh điện mọi chùa, lộng lẫy với những cây cột đầy hoa văn và những bức tranh tường, tranh vòm rực rỡ  màu đỏ vàng ( đặc trưng nghệ thuật tạo hình Khơmer) với những câu chuyện  về con đường tu hành của Đức Phật. Năm nay,thay vì xử dụng băng, Đại đức cho sắm hẳn một dàn nhạc ngũ âm ( Theo cô cháu thì gần như chùa nào đến nay cũng có dàn ngũ âm ). Tiếng nhạc lanh canh rộn ràng làm không gian trong chùa sôi động hẳn lên. Lũ trẻ tíu tít bu quanh các nhạc công, háo hức chờ lúc ngừng nghỉ để ngồi vô, thử cầm lấy những chiếc dùi, gõ lên đàn. Cứ vậy đi, nay mai sẽ có những thế hệ nhạc công trẻ, mới, thay thế các bậc cao niên. Bên cạnh nơi dành cúng dường cho lễ tắm Phật, sư trụ trì chùa Peng Sâm Rực còn cho dựng lều, đắp núi cát mô phỏng  câu chuyện cổ  răn dạy những người con hư quay về tạ tội cùng cha mẹ. Sư Phi Long dẫn tôi qua bảy vòng mê cung cắm 100 cây nứa tượng trưng cho ngàn ngọn núi con phải vượt qua.  Thắp nén nhang thơm trong tiếng tụng kinh chúc phúc của các sư , cảm thấy như tâm trí nhẹ nhõm hơn vì đã được tạ lỗi cùng các đấng sinh thành. Một điều thú vị mới mẻ nữa là nơi bức tường nhà dâng cơm cho sư, còn có tấm biển của Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tỉnh , về điểm “ Mô hình khai thác thông tin Internet phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương tại chùa Peng Sâm Rưc ” . Nghĩa là ai cần, đều có thể đến chùa tìm thông tin trên mạng. Kỹ thuật số hiện diện cả ở nơi cửa chùa cổ kính rồi đấy !

                                                                     Kỹ thuật số về chùa 

Ấp Giồng Chùa nhà chồng tôi mấy năm nay được mùa lúa, đường điện lưới quốc gia chỉ mới về năm 2013, nhưng gia đình nào cũng đã xây nhà gạch, mua sắm vật dụng đắt tiền…điều mà 5 năm trước chưa từng thấy. Vật chất đủ đầy, con người sẽ thêm hướng thiện, vậy nên sáng mùng một Tết, già trẻ, trai gái kéo nhau lên chùa tất ( 5 năm trước mấy đứa cháu chỉ chở vợ con dạo quanh rồi về) . Xong lễ dâng cơm, đợi các sư dùng bữa rồi cả họ cùng quây quần trong bữa cơm đầm ấm . Rồi lại lũ lượt kéo nhau ra chầu chực chờ lễ tắm Phật, một trong những nghi lễ không thể thiếu trong ngày Tết của phái Nam Tông. Những gương mặt thành kính của người lớn, sự háo hức của con trẻ xúm xít đợi  các sư rảy nước thơm chúc phúc, rửa sạch những lo toan vất vả của một năm cũ; rồi chen nhau nhưng không hề xô đẩy, mang ấm nước thơm của gia đình xối lên những bức tượng Phật cầu may. Tôi cũng mượn ấm nước của cháu để cầu cho dòng họ, gia đình mình năm nay mọi việc làm ăn được xuôi chèo mát mái.

                                                                   Núi cát & ngàn núi tạ lỗi cùng cha mẹ

 Dường như là mắc bệnh nghề nghiệp, đến bất cứ một địa phương nào, tôi cũng chằm chằm tìm cho tới những địa chỉ , tham gia cho được một nét văn hóa đặc trưng gì để chiêm ngưỡng, nhặt cho đầy thêm trí thức dân gian vào tâm thế. Với Sóc Trăng, đây là lần thứ hai tôi được dự lễ trao bình bát và phong sa di cho sư trẻ, cũng như lễ dâng cơm cho sư trong ngày băng skon – cầu siêu. Nhưng lễ tắm Phật thì mới có một năm Tết Bun Pi May đang ở Viên Chăn, được dự  với các bạn Lào, chứ ở Nam bộ là lần đầu tiên. Cùng với lễ  băng skon cho cộng đồng dưới gốc cây bồ đề cổ thụ, nơi nền tháp cổ. Hàng chục năm qua, chị năm và ông xã cũng đã dắt tôi đi chừng hơn 10 ngôi chùa Khơmer. Ngoài ba nơi đặc biệt : Chùa Dơi – Wot Ma Ha Tuk , chùa chén kiểu ( được dát hoàn toàn bằng những mảnh chén hoa ) và chùa đất sét( với hàng trăm bức tượng nặn từ đất), thì còn vài ngôi chùa trong đó có chùa Sơ Mộn chồng tôi đã từng tập tu hồi nhỏ ( Hỏi sao  cách nhà xa thế, anh bảo “ để không dễ bỏ chùa trốn về”). Tuy mỗi chùa một kiểu cách, nhưng đều khiến phải ngưỡng mộ bởi kiến trúc độc đáo.

                                                                 Mê say xem duke

Nếu những tết trước không có, thì năm nay, nghe thông tin từ tài xế taxi, sau đó được Phó Giám đốc Sở Văn hóa kiểm chứng lại, rằng tại chùa Khleng ( một trong những ngôi chùa bề thế nhất giữa trung tâm thành phố, nơi còn là trường dạy kinh phật và chữ pali ) , tối nào cũng có diễn duke, dẫu là của các đội nghệ thuật tư nhân, mấy chị em tôi hăm hở lội bộ đi coi.

Dài dòng một chút về cái chuyện Dukê này. Vì phải đến 39 năm rồi, kể từ 1976, lần đầu tiên tôi đem con về quê nội, mấy cậu cháu bên chồng đưa lên chùa Peng Sâm Rưc xem,  tôi mới được coi lại loại hình nghệ thuật được biết tới và rất thích từ hồi còn nhỏ xiu xíu tại Hà Nội . Hồi đó chính chị chồng tham gia đóng vai công chúa, nghệ sỹ Thạch SRay Manh, bạn vong niên của vợ chồng tôi đóng vai khỉ Hanuman. Nghe chẳng hiểu gì nhưng vẻ đẹp của giai điệu và lối diễn cũng như trang phục thì vô cùng thán phục. Năm 2009, tại Liên hoan Cồng chiêng quốc tế lần thứ nhất ở Plei Ku, đoàn nghệ thuật Sóc Trăng cũng diễn trích đoạn Dukê, nhưng chỉ có một màn múa ngắn mà không có hát.Chị năm chắc đang bồi hồi nhớ thuở nào ca hát.  Còn tôi, chỉ ngắm rất đông bà con say sưa, im lặng ngồi xem từ đầu buổi thế đã là thích lắm rồi.Bởi điều này khác hẳn không khí  ở những sân khấu ca hát quần chúng cạnh đó với những tiết điệu hừng hực cha cha cha, bolero hay khởi vòng điệu múa lăm thôn, đều bằng tiếng Khơmer, lôi cuốn mọi lứa tuổi ưa náo động

Vô chùa, 5 năm trước tôi đã từng tần ngần trước những ngôi tháp lộng lẫy chứa di cốt của các gia đình, thì năm nay hiện tượng này trở nên rất phổ biến. Dòng họ anh rể chồng tôi cũng xây một tòa tháp riêng khang trang tương tự. Có lẽ điều này khởi thảo từ ngôi tháp chứa di cốt rất bề thế của một nhân vật lão thành cách mạng tại chùa Khleng chăng? Giá mà…nhưng thôi, đó là chuyện tâm linh của mọi người. Còn tôi, mỗi lần về quê nội các cháu, thêm thân thương, luyến nhớ với những kỷ niệm lưu giữ rất lâu trong ký ức. Tất nhiên rồi “ Quê hương nếu ai không nhớ sẽ không lớn nổi thành người” m

[...]
Xem tiếp

TRẢI NGHIỆM CÙNG GỐM MNÔNG

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-02-05

Một lần đi khảo sát ghé qua buôn Yang Bắc, mua bộ ấm chén và nồi bằng gốm đen xinh xinh, rất lạ,ai thấy cũng tò mò hỏi , hỉnh mũi lên mà khoe “đó là gốm của người MNông”. Bảo tàng Đăk Lăk có giới thiệu “ Người Ê đê xưa cũng có làm gốm, nhưng thất truyền rồi, chỉ còn gốm MNông ở Lăk thôi” . Tôi nhớ có lần hỏi nghệ nhân dệt thổ cẩm Amis Dít ở buôn Kó Dhông “ Hồi xưa, chiếc nồi nhuộm vải mua ở đâu ”, chị ấy nói “ mua của người MNông” . Là biết vậy,chứ chưa nhìn thấy tận mắt cách làm bao giờ. May thay, mấy ngày nghỉ 30/4, Bảo tàng Đăk lăk đón nghệ nhân làm gốm từ huyện Lăk về , được trải nghiệm tạo nên những vật dụng sinh hoạt bằng gốm, thật thích thú.

                                                                Giã đất làm gốm

Đất làm gốm là một loại đất sét lấy từ ruộng ở Lak, không phải nơi nào cũng có. Đem nhồi nước cho kỹ, rồi bà con chỉ cho tôi cách dùng chày giã như giã gạo trên một đoạn gốc cây cưa phẳng. Sau đó nhồi bằng tay cho khối đất dẻo mịn, nhuyễn ra. Đến công đoạn tiếp theo thì tôi chịu, vì nắm đất chẳng theo ý mình, cứ méo xèo xẹo. Ấy thế mà nghệ nhân chỉ cần đi quanh  mấy vòng, hình dạng cái nồi  xinh xinh đã hiện ra rất đẹp và nhất  là tròn vành vạnh. 

                                                                Nặn nồi không bàn xoay

Khác với người Campuchia, đặt nắm đất lên một chiếc bàn, chân đạp cho bàn quay, hình thức nặn nồi đi vòng quanh không có bàn xoay này của người tộc MNông, rất giống với cách làm gốm của người Chăm ở thành phố Phan Rang. Sau khi thiết kế sản phẩm, họ  cũng đốt lộ thiên thế.

Những chiếc chén ăn cơm, nồi đất, chõ đồ xôi, nồi nhuộm vải lớn , tròn trịa. Đến chiếc ché “ Mẹ bồng con” rất cổ và rất quý trưng bày trong bảo tàng, các nghệ nhân Mnông cũng làm y hệt. Vậy mà ngày xưa loại ché này tuy bé, nhưng phải đổi bằng mấy con trâu đấy nhé. Những sản phẩm làm ra lần này chỉ để chào mời du khách làm quà lưu niệm, nên đều nho nhỏ, xinh xinh. Có cả mấy con voi, con trâu, amí Juel làm cho lũ trẻ con vây xung quanh rất dễ thương nữa.

                                                                   Sản phẩm chờ nung

Sản phẩm nặn xong, chuốt sơ cho bóng, mịn, phơi cho thật khô,rồi mới đem nung. ( tôi đặt sẵn nghệ nhân làm một chiếc ché mẹ bồng con rất nhỏ xinh, nhưng vì mới nặn xong chưa khô, nên không thể đem nung được, đành phải chọn một chiếc lớn hơn đặt vào “ lò” nung ). Một lớp trấu được trải lên mặt đất ở ngoài sân. Tiếp theo xếp một dọc những thanh tre khô. Rồi sau đó đặt các vật dụng đã nặn hoàn chỉnh lên . Nồi thì úp xuống, ché đặt nằm nghiêng. Xong xuôi thì chất củi xếp lớp ở xung quanh ( hoàn toàn bằng tre khô) dựng đứng, chụm đầu vào nhau.

           Nung lộ thiên

 Đến đây thì có chuyện, vì “cả lũ” xem ham quá, mang xuống đốt rất nhiều sản phẩm , nên củi hơi bị thiếu. Thế là đám trẻ con vừa được các nghệ nhân nặn cho con voi, con heo đất bỏ vào đống củi sắp nung gốm, háo hức rủ nhau chạy đi kiếm củi. Vài cành khô nữa được đưa đến bằng tay ôm, chân chạy, cả xe đạp 4 bánh của trẻ em cũng chở củi tới. Đủ rồi, đốt thôi ! Nắm cỏ khô ném vào, ngọn lửa bùng lên mỗi lúc một to, trông thật thú vị. Một du khách tò mò hỏi :

- Bao lâu thì xong bác?

- Khoảng một giờ .

Tuy nhiên, chưa đến một tiếng đồng hồ , khi đám củi tre đã cháy hết, chỉ còn những nắm tàn tro rủ xuống. ( lúc đầu mình thắc mắc : sao lại dùng củi tre. Sau mới hiểu ra, đó cũng là thời khắc xong một mẻ đốt “ lò gốm” ). Người phụ nữ MNông đổ bao trấu còn lại vùi từng hiện vật lấy trong đống tro vừa nung ra. Một lát sau lại gắp từ đống trấu ra ngoài sân cỏ, chờ cho khô hẳn. Công việc cuối cùng là trau chuốt cho những chiếc ché, tô, nồi…trơn láng.

                                                               Xong, nhưng chưa phải thành phẩm

Nghề làm gốm ở xã Yang Tao, huyện Lak đã có từ hàng trăm năm nay. Một thời gian gần như mất hẳn. Mấy năm gần đây, Giám đốc Lương Thanh Sơn ở Bảo tàng tỉnh được quỹ For tài trợ, đã giúp bà con khôi phục lại. Gần nhất, khi xây dựng quy hoạch Làng nghề nấu rượu men lá ở huyện Krông Năng, Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh, Công ty Thảo Nguyên Xanh đã đề nghị có sự kết nối giữa hai nghề ( làm vò đựng cho rượu) và kết nối tuyến du lịch Lăk nữa.

Hy vọng những việc trên nếu thực hiện được, không chỉ bảo tồn và phát huy được một di sản văn hóa vật thể quý giá, mà còn giúp bà con có thêm thu nhập trong xây dựng một vùng nông thôn mới. Còn tôi thì đã có một ngày thật tuyệt cú mèo luôn.!

 

 

[...]
Xem tiếp