Linh Nga Niê Kdăm
taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Chầm chậm Luang Phrabang

Được viết bởi : Admin | Ngày 2015-02-01

                Dòng Mê Khỏng oằn nặng phù sa nên chảy rất chậm quanh cố đô Luang Phrabang, như ôm thành phố vào lòng trìu mến chở che. Suốt dọc bờ sông, không biết kéo dài tới mấy cây số, đều là hàng quán. Sang trọng lịch sự. Xộc xệch bình dân . Tất thảy đều rất nhiều những nụ cười thân thiện. Sà vào bất cứ hàng nào, cũng có thể thả mình đón gió mát, ngắm dòng nước đỏ ngầu chảy chậm, ngó những chiếc phà cũ kỹ ăm ắp người qua lại giữa hai bờ Lào – Thái. Lạ ! Không hề thấy tấp nập những xuồng máy, xuồng cao tốc hay ghe thương hồ xé toạc dòng nước lao vùn vụt như ở dọc sông Tiền, sông Hậu nhà mình. Ngoài thỉnh thoảng mấy chiếc xà lan, tàu khẳm hàng nặng nề chậm chạp xuôi dòng, chỉ loáng thoáng vài con thuyền nhỏ không máy nổ , của cặp vợ chồng hay cha con nào đó quăng lưới cho một ngày  mưu sinh lặng lẽ trên sông.

                Giống như sông Hằng đối với người dân Ấn Độ, người Lào cũng rất thành kính coi trọng dòng sông mang tên “ Sông Mẹ” . Vì vậy mà cổng chính rộng thênh thênh của ngôi chùa được coi là linh thiêng nhất, cổ nhất cố đô Luang Phabang , chùa Wát Xiêng Thong, mở ra phía dòng sông. ( Cửa hậu nhỏ hơn mở ra  phía đường phố, phải đi qua một con ngõ hẹp.)  Chỉ cần xuống mấy chục bậc thang, băng qua con đường chắn ngang, là gặp ngay dòng sông rộng đang trầm lặng chảy. Hàng năm có những lễ cúng rước tắm Phật rất trọng thể, rất thành kính diễn ra trên bờ sông này. Thế nên không lạ lắm khi nhà văn Hoàng Thu, người đã có lần đến Luang trước chuyến đi này mách nhỏ chúng tôi “Trước đây, du khách có nhu cầu cá nhân đều phải sang các nhà phía bên kia đường để giải quyết. Nhưng bây giờ họ đã cho phép làm nhà vệ sinh ngầm bên dưới con đường, tiện cho khách hơn” .

Đã từng ngưỡng mộ rón rén đặt từng bước chân trần vào những ngôi đền, chùa rộng thênh thênh dát kín vàng ở kinh đô cổ Miến Điện, tượng Phật khổng lồ lộng lẫy và oai nghiêm tại thủ đô Băng Cok, trèo lên tận đỉnh tháp đá Angko Wat điêu tàn lộng gió hay chiêm ngưỡng ngôi chùa cổ đầy khỉ ven bờ biển Bali xanh; nhưng bước vào chùa Wat Xiêng Thong vẫn không thể không cảm phục bàn tay tinh tế của người Lào từ mấy trăm năm về trước. Không chỉ là mặt tiền đang được trùng tu bằng những tấm lá vàng dát mỏng, mà chiếc xe chở lẫn tháp chứa xá lị của Đức Phật và hàng trăm bức tượng Phật lớn nhỏ đặt trong tòa chính điện  đều được bọc kín bằng vàng. Những bức tranh tường thêu, vẽ, chạm trổ chi tiết công phu hình hoa lá, con người, ngôi tháp chứa di cốt dát  hàng ngàn những mảnh kính lấp lóa trong bóng nắng hoàng hôn, âm âm tiếng chiếc chiêng cổ đen bóng cao hơn 1,5m…đều khiến người hậu thế phải nghiêng mình kính nể .

                                                                Chùa Wat Xiêng Thong chạm trổ cầu kỳ

Là kinh đô cổ của một đất nước Phật pháp có tuổi đời hàng 4-500 năm, nên chùa hiện diện trên mọi nẻo đường : trên phố lớn sầm uất, trong ngõ nhỏ tĩnh lặng, giữa những làng quê mộc mạc hoang sơ, sát bên chợ ồn ã người mua kẻ bán… Leo 359 bậc lên đỉnh núi Phou Si chót vót kề bên bảo tàng Hoàng gia ( xây dựng năm 1904) , quỳ lạy cầu phúc ngôi chùa Wat Chomsi chiếu thẳng góc với cung điện cổ bên dưới - nghe nói chùa rất thiêng, nếu bạn sóc thẻ sẽ được báo trước một điều gì đó của tương lai - và từ đó lia mắt ngắm cố đô trải rộng trong bóng nắng đổ dài, cảm giác thật yên bình. Trong sương sớm mờ mờ hư ảnh, đã thấy bóng áo vàng cam khất thực của các sư sãi đếm từng bước theo hàng dọc trên mọi nẻo đường, cũng đã bắt gặp người dân quỳ ngang đường thành kính dâng cơm. Hoàng hôn níu  bóng nắng dần buông, trong tiếng chuông chiều dục các tiểu sinh áo nâu đỏ líu ríu bước chân tụ về những tu viện…Có lẽ vậy nên nhịp sống ở Luang dường như trôi đi rất chậm. Xe máy không phóng nhanh. Tịnh không một tiếng còi ô tô, những bước chân sớm chiều đều không vội vã trên đường, cho dù là công chức, bà nội trợ hay chủ nhân những tiệm ăn uống, khách sạn lẫn du khách. Đó chính là điều cuốn hút của Luang Phrabang chăng? Bởi không biết chặng đường từ Viên Chăn lên cực bắc Lào này  tốt đến đâu, chứ từ thành phố Điện Biên  tới cố đô, hơn 500 km là cả một chặng …khủng khiếp với cái cột sống vốn thoái hóa nặng của tôi. Vậy mà các khách sạn ở Luang vẫn kín khách từ mọi nơi trên trái đất đổ về - là chưa đến mùa lễ hội gì của bạn đấy nhá .

                                                                Dâng cơm cho sư buổi sáng

Bỏ qua các thung lũng voi, thác nước… những điểm đến của du lịch Luang Phrabang đã quá quen với người Tây Nguyên, ăn phở sáng ở một quán của người Việt mà đêm qua đã tới ăn tối, xong; chúng tôi chạy khắp những ngôi chùa trong cố đô, tất nhiên là có cả bảo tàng vàng son của Hoàng cung cổ. Tìm nơi hội quán của người Việt để nhà văn Đào Thắng dò hỏi thông tin về cố nhà văn Nguyễn Đình Thi. Dạo phố tò mò ngắm những khách sạn lớn nhỏ ( không hề có nhà cao tầng) với mọi phong cách kiến trúc Pháp hiện đại có, cổ kính Lào có, đều xanh mát rợp bóng cây lá. Ghé chợ rau củ non mươn mướt buổi sáng, chọn cho bữa trưa ven sông lộng gió thêm chút rau; ồ à thích thú với mọi thứ  trái cây chẳng khác gì ở Việt Nam trong nắng hầm hập chợ chiều ( một cặp trai gái Việt chỉ đường ra sông cho chúng tôi lúc sáng, lủng liểng nải chuối vàng rực, chào nhau lúc ở chợ rẽ về) và lang thang lóa mắt trong ánh đèn màu lung linh huyền ảo tại chợ đêm, lựa chọn tìm quà lưu niệm mọi thể loại, kích cỡ, hầu hết là sản phẩm của địa phương, dẫu bằng gỗ, đá, bạc, thổ cẩm hay những lá dù rực rỡ đủ sắc màu…. Đủ để hiểu sức hấp dẫn đến khó cưỡng của một cố đô thanh lặng mà trầm mặc, dấu trong mình sắc thái riêng, rất Lào ( bằng chứng là tôi đã từng rất ao ước có chuyến đi này và vẫn còn muốn được một lần nữa trở lại để có một chuyến du thuyền trên sông Mê Khỏng, mà lần này thời gian quá gấp không kịp thực hiện ). Dường như đó cũng là điều tiên quyết để nhiều thế hệ người Việt chọn nơi đây định cư.

                                                             xe ngựa dát vàng của Hoàng gia 

Cũng bởi con đường từ Điện Biên sang quá xấu, chúng tôi lại tự đi xe của Hội Nhà Văn, không có hướng dẫn viên, không đặt trước khách sạn, nên khá vất vả trong việc hỏi đường. Mặc dù đã được nữ sỹ Hà Nhì Chu Thùy Liên và đồng chí chồng – tham mưu trưởng toàn tuyến biên giới hỗ trợ hết mức – nhưng xuất phát từ 7h sáng ở cửa khẩu Tây Trang mà mãi gần 21h chúng tôi mới an vị được trong khách sạn . Bù lại, biết thêm nhiều chuyện thú vị về người Việt sang làm ăn ở Luang. Đầu tiên là dừng giữa chợ hỏi đường. Mới nghe thấy nói tiếng Việt, thiếu phụ bán  bắp nướng đã chỉ sang quầy  vịt quay gần ngay cạnh đó. Hòa, cô gái  chừng ba mươi tuổi người Nghệ An cười rất tươi khi cho biết xe chúng tôi rẽ nhầm nơi vòng xuyến, phải quay lại và thay vì rẽ phải, sẽ rẽ trái để vào trung tâm. Mùi vịt quay thơm nức mũi khiến những cái bụng trào sôi đánh trống, nhưng đành tạm biệt cô chủ dễ mến để tìm chỗ nghỉ . Tiếp theo là thắng phắt lại khi nhìn thấy một quán ăn có chữ Phở trong ánh đèn nhấp nháy, hoàn toàn bằng tiếng Việt, để gặp một bà chủ nhà hàng người Thanh Hóa, lại hết sức tận tình chỉ dẫn. Cả hai người phụ nữ đều đã có hơn 10 năm buôn bán ở Luang.

Xe  chầm chậm trôi giữa  những con phố bóng đêm đã rủ xuống, chật ních hàng, quán sáng ánh đèn đủ màu nhưng đã thưa vãn bóng người. Lại dừng hỏi đường. May thế, một thiếu nữ Huế rặt giao cửa hàng lại cho em gái, chạy xe máy đưa chúng tôi đến tận cửa  khách sạn MeKong sang trọng ngay ven bờ sông. Thủy mới hai mươi tuổi, đưa em gái 16 cùng sang, thuê  nhà mở một tiệm uốn tóc nho nhỏ. Rất Huế, bởi sự nhỏ nhẹ và dáng vẻ dịu dàng, em bảo hai chị em đủ sống, nhưng chỉ buồn vì nhớ cha mẹ, nhớ quê, nhất là vào dịp tết Nguyên đán, mọi gia đình xum họp.  Sang đã ba năm, chị em chưa có dịp về thăm nhà.

Khách sạn nơi Thủy đưa chúng tôi tới, cũng của người Việt. Vợ chồng Trung chung vốn với một người bạn. Ở vị thế ven sông, giữa một trong những khu sầm uất và đông đúc nhất của Luang, nên  giá phòng không rẻ chút nào. Trung đề nghị chúng tôi về ngủ tại bản Ma Nô, là một trong hai khách sạn nữa của anh, có 8 phòng dom và cũng có phòng đôi cho hai chị em chúng tôi. Giá rất rẻ nhưng vẫn đủ mọi tiện nghi.

Khách sạn Si Sam Wat nằm kề ngôi chùa cổ Wat Ma Nô Rom ( nên bản và đường cũng mang tên Ma Nô là thế), một con phố toàn nhà trọ theo kiểu dom ( phòng tập thể với giường hai tầng như gia đình chúng tôi đã từng ngủ ở Philipin). Diện tích nhỏ , có vẻ hơi chật chội với những căn phòng giản dị nhưng sạch sẽ. Sân đầy cây xanh và cảnh quan dân giã Việt Nam với những chum, gộc tre, nơm, nón, bàn ghế hoặc gỗ, hoặc tre nứa. Dạ lan tràn đầy trên tường rào, thoang thoảng tỏa thơm khắp không gian một sàn nứa hẹp có mái phủ đầy dây leo. Ngồi trên ghế gỗ thô hoặc đánh bệt xuống sàn, hay đung đưa trên xích đu khúc cây, đám khách Tây mải miết truy cập mạng hoặc nhâm nhi tách trà, li cà phê tan miễn phí, trò chuyện nho nhỏ ( Ấy vậy mà đêm sau đó, một đám khách về khuya cũng ồn ào uống bia Lào ngay cạnh cửa sổ phòng chúng tôi cho tới gần sáng).

                                                               Nơi sinh hoạt chung của dom

Nguyễn Trung là một trong những người Việt như thế. Vốn là một chiến sỹ công an đã từng nhiều năm công tác ở Lào và nhất là ở Luang.Năm ngoái Trung  xin thôi. Được sự đồng thuận của cả hai bên gia đình, đưa vợ con sang Luang Phrabang vừa tròn tám tháng. Là người nước ngoài, nên không được phép mua nhà đất, Trung thuê với kỳ hạn 10 năm hai khách sạn người bản địa làm ăn không lãi, sang sửa lại rồi quảng cáo trên mạng. Tháng đầu khai trương đã kín khách. Thấy làm ăn được, mẹ Trung – một người phụ nữ gốc Thái , Sơn La, về Hà Nội đã mấy chục năm, sang nhượng hoạt động xây dựng, để lại ở Việt Nam ông chồng còn tuổi công chức , vừa bay sang trông coi giúp con. Ngoài khách sạn Me Kong sang trọng ở phố Tây chung vốn với bạn, hai khách sạn ở bản đều dành cho du lịch bụi. Khách muốn nghỉ phải đặt trước qua mạng, nếu không khó lòng mà có chỗ. Mới cuối tháng 10 nhưng đã kín phòng cho đến tận tết dương lịch.

Trung bảo, người Việt qua đây, xa xôi thật, nhưng dù ít hay nhiều vốn cũng dễ làm ăn. Người Lào trung thực , dễ mến và nhất là không hay cạnh tranh , nên ai cũng sống được. Cứ nộp đủ thuế là chẳng bị hạch sách hay phiền hà gì.

Chắc mới qua chưa vơi nỗi nhớ và có lẽ khách sạn thường đón toàn tây balo, nên người mẹ gốc Thái rất quấn quít với nhóm chúng tôi. Từ việc dặn vợ chồng con cho tới mấy cô gái Lào làm nhân viên phục vụ chăm lo từ phích nước, ấm trà tới mua và lắp giúp những chiếc cac điện thoại Lào, chỉ đường tham quan, thậm chí ngồi rất khuya tiếp rượu mấy nhà văn…Khiến lúc chia tay cả hai bên đều rất bịn rịn.

Một lần nữa trên đường rừng quay lại Điện Biên, chúng tôi bình luận về những cái tên khó đọc nhưng thân quen, ngắm các bản làng, với những nếp nhà sàn yên bình nép mình dưới đám cây xanh, soi bóng bên dòng suối, hay hàng loạt các kho thóc nho nhỏ dựng sát đường quốc lộ, không khác gì những tuyến đường Tây bắc vừa đi qua, hay ở Tây Nguyên thuở chưa xa nào…

Mới rời đi đã nhớ nhịp sống chầm chậm Luang Phrabang….

[...]
Xem tiếp

Xin hãy giành cho thày một vị trí xứng đáng

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-23-12

Trong hồi ký 50 năm theo Bác Hồ, cố bác sỹ Y Ngông Niê Kdam có nhắc câu chuyện thày Y Yut giải thích khi học sinh trường tiểu học Pháp – Đê ngày ấy,hỏi  về những người tù bị bắt làm đường quốc lộ 14, rằng “ đó là những người tù chính trị”. Trong hồ sơ xin xây lại ngôi mộ ở buôn Pân Lăm, nhà giáo – Tiến sỹ Phan Văn Bé – nguyên Giám đốc Sở Giáo dục Đăk Nông – đã nói rất kỹ về ông “Y Jút tốt nghiệp sơ học tại trường Franco - Rhade Buôn Ma Thuột, tốt nghiệp tiểu học ở Huế và năm 1912 học trung học tại trường Lycee Khải Định Huế. Năm 1916 Y Jút tốt nghiệp trung học, được bổ nhiệm làm giáo viên tại trường Franco Rhade Buôn Ma Thuột.

Trước cảnh sống tối tăm và khổ nhục của đồng bào do chính sách ngu dân của thực dân Pháp, ngay từ những năm đầu bước vào nghề dạy học, Y Jút đã nuôi hoài bão giải thoát người Êđê ra khỏi nạn mù chữ. Y Jút cùng thầy Y Út đã bỏ nhiều công sức vào việc xây dựng bộ chữ Ê Đê - Latinh hóa và thầy đã thành công. Ngoài ra, Y Jút còn là người phụ trách biên soạn bộ giáo trình Rhade - Pháp dùng để giảng dạy trong nhà trường”.

Chữ Ê đê là một trong những bộ chữ của các tộc người thiểu số Tây Nguyên được xây dựng sớm nhất ở khu vực, do chính hai trí thức dân tộc biên soạn từ cơ sở chữ La Tinh, với ý thức tự tôn và trách nhiệm công dân của mình, nhằm  giúp cho người Ê đê có chữ viết. Sau này mới được các linh mục người Pháp, các mục sư Tin Lành người Mỹ góp ý sửa chữa để chép kinh thánh bằng tiếng Ê đê . Điều này không giống với quá trình xây dựng và hình thành bộ chữ của một số tộc người Tây Nguyên khác, như Jrai, Bâhnar, K’Ho…đều do các Đức Cha giáo phận mời  trí thức các dân tộc cùng tham gia biên soạn, hướng chính vào mục đích phổ biến kinh thánh Cơ đốc và Tin Lành.  Trải qua nhiều tháng năm, bộ chữ Ê Đê ban đầu do hai thày Y Yút và Y Út biên soạn vẫn được coi là khoa học nhất và rất ít bị thay đổi. Đến nay vẫn được sử dụng để giảng dạy trong các trường tiểu học vùng Ê Đê tại Đăk lăk.

Tôi đã một vài lần đưa đám con cháu, những thanh thiếu niên thích tìm hiểu về cội nguồn quê hương đến ngôi mộ của vợ chồng thày Y Yut– như đã nói ở trên – do TS Phan Văn Bé đề xuất và Sở Giáo dục – Đào tạo Đăk  Lăk cấp kinh phí xây dựng lại tại nghĩa trang của buôn Pân Lăm. Nơi gia đình người vợ xinh đẹp H’ Zih Niê Brít của thày cư trú.Nói là giữa nghĩa trang ngày ấy, khi nhà cửa còn thưa thớt, vườn cà phê quanh buôn xanh rờn, với những ngôi mộ nằm lặng lẽ yên bình dưới những tàn cây cổ thụ. Chứ bây giờ dân cư mỗi ngày một đông đục, tấc đất là tấc vàng. Vườn cà phê đã không còn.Những cây bằng lăng lớn mấy vòng tay ôm trong rẫy gia đình cô tôi, cũng đã bị cưa đốn hết.  Bởi không có tục bốc mộ, nên nhà cửa của người dân bây giờ chen chúc cùng nhưng người đã yên nghỉ, trong đó có cả vợ chồng thày Y Yut. Cuộc sống bon chen xô bồ của kinh tế thị trường khiến cho khu vực từng là nghĩa trang trở nên chật chội và ồn ã.

                                                                   Mộ vợ chồng Y Yut chen chúc giữa khu dân cư

Mấy năm trước, biên soạn tài liệu về văn hóa và văn học Ê đê, Đăk Lăk cho lớp tập huấn của các giáo viên dạy chữ Ê Đê do ngành Giáo dục tỉnh tổ chức mỗi hè, tôi có dịp đọc lại hồ sơ của thày Y Yut, để làm rõ thêm việc hình thành & phát triển chữ Ê đê qua các thời kỳ. Quả thực công lao của thày Y Yut và Y Út rất lớn.

 “Thầy giáo Y Jút H’Wing, sinh năm 1885 tại Buôn Kram, xã Ea Tiêu, trước đây thuộc huyện Krông Ana, nay thuộc huyện Čư Kuin, tỉnh Đắk Lắk. Sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, được nuôi dưỡng trong một gia đình có truyền thống yêu nước, đánh đuổi kẻ thù xâm lược, lớn lên trên mảnh đất cao nguyên sâu đậm tình người, tất cả đã hun đúc trong người Y Jút dòng máu yêu nước từ rất sớm. Chính vì vậy, khi bị bọn Êđê gian giao nộp cho Pháp cùng với một số thanh niên khác, để thực dân Pháp đào tạo thành tay sai cho chúng, lợi dụng cơ hội này Y Jút quyết tâm học hành, đem ánh sáng văn hóa trở lại phục vụ quê hương, buôn làng và đó cũng là cơ hội tốt nhất để giải phóng đồng bào ra khỏi ách áp bức bóc lột.

Theo lời kêu gọi của thầy Y Jút toàn thể giáo viên, học sinh trường Franco - Rhare, công nhân viên chức hành chính, Bưu điện, y tá nhà thương…mỗi người viết 4 lá đơn tố cáo tội ác của tên công sứ Sa Ba Chê và đồng bọn ở Đắk Lắk.

- Một bản gởi Toàn quyền Đông Dương.

- Một bản gửi khâm sứ An Nam.

- Một bản gửi Chưởng lý Tòa án Đông Dương tại Sài Gòn.

- Một bản lưu cá nhân (để khi có thanh tra về hỏi thì mỗi người trả lời y như nguyên đơn).

Song song với việc viết đơn tố cáo tội ác của Sabatier, một cuộc biểu tình bao vây Tòa Công sứ đuợc thầy Y Jút thực hiện hoàn toàn thắng lợi. Lực lượng biểu tình không những tập trung được toàn thể giáo viên, học sinh mà còn thu hút được hàng ngàn người gồm các công nhân, viên chức, binh lính và cả nông dân, thợ thủ công khắp thị xã kéo đến ngày một đông, lần lượt có cả các thầy, các y tá, công chức, binh lính, đồng bào đi rẫy…”

          Vậy là không chỉ là người biên soạn thành công bộ chữ Ê đê, thày Y Yút còn là một trong những người trí thức dân tộc đầu tiên thúc đẩy và hình thành phong trào chống Pháp ở thị xã Buôn Ma Thuột  nói riêng và tỉnh Đăk lăk nói chung, ngày ấy.

          Bằng chừng đó công lao, ông xứng đáng có một nơi yên nghỉ đàng hoàng và đẹp đẽ hơn. Đó không chỉ sẽ là nơi thế hệ trẻ các dân tộc Đăk Lak hôm nay tưởng nhớ về công lao của người thày giáo, mà còn là một điểm du lịch văn hóa của một vùng đất luôn tự hào về “ Không gian văn hóa cồng chiêng – Di sản văn hóa phi vật thể truyền khẩu của nhân loại”.

          Gia Lai đã  dựng tượng cụ Nay Der, một trong những trí thức Jrai cùng thời với thày Y Yut, cũng là người đã cùng các Đức Cha làm nên bộ chữ Jrai. Du lịch qua một thành phố vệ tinh thuộc Thượng Hải ( Trung Quốc) ,thấy bạn dành cả một khuôn viên rộng vài ha làm nơi tưởng niệm người thày đầu tiên dạy chữ cho nông dân trong vùng.

          Trông người lại ngẫm đến ta. Thành phố Buôn Ma Thuột xinh đẹp trẻ trung của chúng ta đã trải qua đúng 110 năm hình thành và phát triển. Đường phố xênh xang đêm đêm sáng bừng ánh đèn, hương cà phê thơm mọi góc phố, người xe mỗi ngày thêm nhộn nhịp.  Tuy nhiên vẫn chưa có được một địa chỉ nào để hậu thế và du khách tưởng nhớ đến người tù trưởng làm nên tên tuổi một địa danh, cho dẫu thành phố mang tên một con người cụ thể là khá hiếm ở Việt Nam . Nhưng  huyện Cư Kuinh thì có thể dành một vị trí xứng đáng tại buôn Kram, nơi quê gốc của thày Y Yut, và rước vong linh vợ chồng thày về với buôn làng không?

Chắc bà con mình cũng mong muốn như thế.

 

 

                                                                             Linh Nga Niê kdam

[...]
Xem tiếp

Nơi uống rượu như uống nước, hút thuốc như ăn cơm

Được viết bởi : Admin | Ngày 2014-08-12

Người Xê Đăng ở đỉnh núi Ngọc Linh (xã Trà Linh, huyện Nam Trà My, Quảng Nam) uống rượu bằng bát. Rượu đối với họ là nước... giải khát. Cách thức hút thuốc của họ cũng quá kỳ lạ. Họ hút thuốc như ăn trầu, ăn cơm. Uống rượu bằng ca cho đã

                                                              Uống rượu bằng ca mới đã

Vượt núi đến các thôn của người Xê Đăng sống lưng chừng đỉnh  Ngọc Linh, chúng tôi chứng kiến những câu chuyện khá lạ. Từ trung tâm xã lên thôn 2 mất gần 3 giờ đồng hồ cuốc bộ, mồ hôi nhễ nhại, chân đã chùng, chúng tôi ghé vào quán tạp hóa của vợ chồng anh Chiến, chị Lương ngay đầu thôn. Vợ chồng anh Chiến quê ở huyện Thăng Bình, Quảng Nam nhưng lên Trà Linh lập nghiệp gần 10 năm nay. Hiện 2 đứa con của anh chị gửi cho ông bà ở dưới quê chăm sóc. Anh Chiến thường xuyên về xuôi lấy hàng hóa và thu mua lợn, gà lên bán. Còn chị Lương ở nhà bán hàng, chăn nuôi lợn. Con cái ở xa, vài tháng mới gặp được một lần. Có những lúc anh chị muốn bỏ vùng đất Ngọc Linh để về xuôi có điều kiện chăm sóc các con. Thế nhưng chưa về được, bởi người dân mua chịu rất nhiều, nếu về xuôi coi như mất sạch. Hỏi về số tiền người dân ghi nợ, chị Lương chẳng giấu giếm. Hiện bà con đang nợ 25 triệu đồng, số tiền này chủ yếu là nợ tiền bia, rượu. Muốn lấy được tiền của bà con thì phải chờ bán sâm (sâm Ngọc Linh), tuy nhiên sâm khác với nhiều cây trồng khác, trồng rất nhiều năm mới thu hoạch được. Do vậy, bà con chưa có trả nợ mà đòi thì cũng không biết lấy đâu ra. Tôi vừa ngồi xuống 5 phút thì có 3 thanh niên ghé vào quán bảo: Cho rượu đi! Chủ quán đưa một ca khoảng 1 lít ra, rượu vừa đặt xuống thì họ rót ra cốc. Chẳng mời nhau, mỗi người tu một hơi đã cạn. Tôi bắt chuyện thì được biết, họ vừa đi phát nương về đang khát nước. Sao không rót vào chén uống cho dễ? Tôi hỏi. Cả ba đều cười. Một người bảo: “Mình uống bằng cốc cho vừa miếng, uống bằng chén lâu lắm, lúc nào mới hết rượu”. Uống rượu bằng bát Nhìn đồng hồ mới chừng 30 phút nhưng 3 ca rượu chị Lương đưa ra thì 3 người uống đã xong. Đứng dậy về, một người nói với chủ quán: Ghi nợ nhé! Vừa lúc họ đi thì có mấy người ghé vào quán và gọi rượu ra uống. Trời sắp tối, chúng tôi xin tá tục tại quán anh Chiến. Bữa cơm tối xong thì sang nhà phó thôn Hồ Văn Bằng làm thủ tục tạm trú, tạm vắng. Trong nhà phó thôn tập trung đông người đang nói chuyện rôm rả, rượu được bày ra nhiều lắm. Thấy chúng tôi, anh Bằng nói: “Nhà báo ạ! Nhập cuộc với bọn mình luôn”. Đảo mắt nhìn xung quanh có đến hơn 15 người, đầy đủ mọi thành phần. Trai có, gái có. Chúng tôi là khách nên được dọn ra một bàn riêng để ngồi, gồm có phó thôn, già làng. Trình bày giấy tờ với phó thôn xong, anh Bằng khoe: “Mấy khi có nhà báo lên đây chơi, cứ uống xem rượu trên này có ngon hơn dưới xuôi không”. Vừa lên giường thì có tiếng đập cửa: bán rượu, bán rượu… Giọng đàn ông nói tiếng được, tiếng mất nhưng anh Chiến cũng phải dậy để phục vụ. "Mình không bán thì bà con bảo chê họ, không kể giờ giấc, bà con thích mua cái gì là đến đập cửa. Ở đây lâu cũng thành quen nên việc bị tỉnh giấc ngủ là chuyện thường xuyên”, anh Chiến tâm sự. Nói xong, anh Bằng rót vào bát và mời chúng tôi cạn bát. Nhìn thấy bát rượu trong veo, bảo uống hết tôi rất sợ. Thấy tôi ngần ngại, thầy Hiệu (người đi cùng tôi dạy ở Trường tiểu học Trà Linh) ghé vào tai nói nhỏ: “Phải uống thôi, đừng từ chối, hay đổ đi. Ở đây bà con đã mời là phải hết, không thì phật lòng, khó nói chuyện lắm!”. Tưởng rằng, một bát thế là xong, ai ngờ rượu tiếp tục được rót ra. Các chị em cũng sang mời tôi uống. Từng bát, từng bát các chị uống một hơi hết sạch. Về đêm một số người bắt đầu nằm ngay ở sàn nhà, tuy nhiên ai ngủ thì ngủ, ai uống vẫn cứ tiếp tục. Rượu hết thì tiếp tế thêm, do đó cuộc rượu vẫn không dừng lại. Khi thấy không trụ được nữa, chúng tôi rút lui về nhà anh Chiến ngủ.

Thưởng thức Cá C’râu

                                                                 Cây thuốc lá

Ở Trà Linh, cây thuốc lá trồng rất nhiều. Xen lẫn với lúa rẫy, sắn… là những đám cây thuốc lá xanh ngút ngàn. Người Xê Đăng từ già trẻ, gái trai ai cũng hút thuốc, nhưng cách thức hút thuốc của họ thì quá kỳ lạ. Họ hút thuốc như ăn trầu, ăn cơm. Cách hút thuốc này, người Xê Đăng gọi là Cá C’râu. Cá C’râu được chế biến từ lá của cây thuốc. Sau khi phơi khô, khác với người dưới xuôi thái nhỏ để hút thì người Xê Đăng phơi khô treo lên giàn bếp, khi nào dùng thì giã thành bột. Cây thuốc lá được chế biến thành Cá C’râu Sau đó cho vào một cái hộp và cứ mỗi lần thèm thuốc, họ lại đổ ra bàn tay với liều lượng vừa phải và cho vào miệng nhai, nuốt. Nếu còn sót lại thì dùng lưỡi liếm sạch Cá C’râu. Ghé vào nhà cụ Hồ Thị Địa, nóc Ka Pin, thôn 2, xã Trà Linh khi cụ đang giã gạo. Thấy chúng tôi, mời vào nhà uống nước, cụ rất hào phóng, lấy trong túi áo ra một cái hộp và mời chúng tôi hút thuốc. Tuy nhiên, trước khi lên đây, tôi đã mua thuốc lá để mời mọi người.  Tôi đưa một gói thuốc ra mời cụ Địa nhưng cụ lắc đầu từ chối. Cụ đổ thuốc ra bàn tay và nói: “Người Xê Đăng không hút thuốc đó, hút như rứa hại sức khỏe, khói vào trong bụng khó thở lắm. Người Xê Đăng nhai Cá C’râu bảo vệ được răng, miệng tốt lắm”. Nói xong, cụ Địa đổ ra lòng bàn tay một thứ bột có màu vàng nhạt. Cụ bắt đầu thao tác rồi cho vào miệng nuốt một cách ngon lành. Lá thuốc được giã nhỏ thành bột Hỏi về tuổi, cụ Địa không biết. Hỏi về Cá C’râu cụ nhớ rất rõ. Từ khi còn bé, cụ biết chế biến và ăn Cá C’râu. Người Xê Đăng truyền từ đời này qua đời khác về Cá C’râu. Những lần gặp nhau họ đưa Cá C’râu ra mời giống như người miền xuôi mời thuốc lá, mời trầu; trong đám cưới, đám tang không thể thiếu Cá C’râu. Hiện 9 người con và gần 30 người cháu của cụ Địa đều ăn Cá C’râu chứ không hút thuốc lá, thuốc lào như người miền xuôi. Để có Cá C’râu, ai cũng trồng trên nương, xung quanh vườn nhà. Sau khi thu hoạch họ treo trên giàn bếp và dùng dần. Còn nhà nào hết lá thuốc thì ra quán mua. Bởi biết được món Cá C’râu nên các chủ quán ở đây về dưới xuôi đặt hàng và đưa lên bán với giá 25.000 đồng/bó (khoảng 50 lá gói lại).

                                                          Chị Hồ Thị Dế mua lá thuốc làm Ca C'rau

Trên đường đi, chúng tôi gặp mẹ con bà Hồ Thị Dế ở nóc Ka Pin đang ngồi nghỉ bên đường. Tôi dừng lại hỏi chuyện thì bà đưa Cá C’râu mời. Quá tò mò, tôi đưa tay ra và bà Dế đổ vào một ít bột. Cảm nhận đầu tiên là vị đắng, mùi hôi khó chịu. Để khỏi mất lòng, tôi đành nuốt vào. Thuốc đến đâu thì bụng cồn cào đến đó rất khó chịu. Ấy thế mà, từ trẻ con đến người già ở Trà Linh ăn thuốc như ăn cơm, quả là một điều khác lạ. Đi cùng bà Dế có 2 người con trai, tôi đưa gói thuốc lá ra mời, nhưng Hồ Văn Giang (20 tuổi) từ chối. Giang bảo: “Mình hút thuốc này không quen, hít khói vào sẽ bị ho. Ở đây, chỉ quen ăn Cá C’râu, mỗi ngày mình ăn hết khoảng 3 lá thì không còn thèm thuốc nữa”.

 ĐẮC THÀNH

[...]
Xem tiếp