Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

taytrung 4 tay trung quangcao1.gif Tây trung 1
1 2 3 4

Âm áp mãi trong tim

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-27-06

Nhanh thế, đã 18 năm lên sóng Đài TNVN chương trình phát thanh tiếng Sê Đăng rồi đấy. Nhiều ký ức ùa về trong tâm trí khiến bồi hồi quá.

Ngày ấy, Cơ quan thường trú Đài TNVN tại Tây Nguyên đã lần lượt lên sóng các thứ tiếng Ê Đê, Jrai và Bâhnar. Để có thể lên sóng chương trình  phát thanh tiếng Sê Đăng, tôi được BGĐ giao chuẩn bị từ nhân sự cho tới kế hoạch  đào tạo & tìm giáo viên hướng dẫn lẫn cộng tác viên nghe đài sau khi lên sóng. Đây là một việc rất khó, vì tiêu chuẩn đưa ra là phải tốt nghiệp Đại học. Nhưng  những năm 80, ở Kon Tum,tìm tốt nghiệp 12 còn khó, nói gì tới Đại học, cho dù Đài PT-TH Kon Tum đã phát tiếng Sê Đăng từ sau 1975  rồi.  

Kế hoạch là  tuyển được người, sẽ đưa qua Đài Kon Tum học trực tiếp với anh A Reng, PGĐ ,cũng là người Sê Đăng và các anh chị em phát thanh viên lâu năm ở bên đó rèn giũa. Sau 1 tháng, về Đak lak sẽ tiếp tục vừa thực hành nghiệp vụ  vừa tiếp tục học phát âm đọc,dịch với cụ A Wit ( ở làng Kon Hring). Cụ cũng nhận lời làm Cộng tác viên  nghe và góp ý cho chương trình sau đó. Bao nhiêu cuộc điện thoại gọi đi, bao nhiều lời nhắn nhe hỏi đáp bay lên trên sóng.

Số lượng đưa ra là phải tuyển cho được 5 người,2 nam, 3 nữ hoặc ngược lại cũng được. Tôi liên hệ với Đài PTTH, trường PTDT NT tỉnh Kon Tum, nhờ cả lãnh đạo địa phương tìm giúp, mà vẫn chỉ được có 1 nữ, 2 nam, đều chỉ hết lớp 12. Đành cũng phải “ cầm lòng vậy bằng lòng vậy” thôi. Chợt nhớ ra từng có 1 bác sỹ tốt nghiệp Đại học Tây Nguyên đã 4 năm không xin được việc làm, phải về làng làm rẫy ( vì em mà tôi viết được một truyện ngắn đấy). Tôi tìm đến tận làng, nhưng thật trớ trêu, tỉnh Kon Tum biết chuyện lại giữ em làm ở trạm xá xã, không cho đi. Cả gia đình họp lai, em quyết định nhận việc ở trạm y tế xã  cho gần nhà, không theo tôi sang Đăk lăk. Đang thất vọng thì may quá cụ A Wit giới thiệu cho Y Gương, đang là giáo viên Mầm non ở làng Kon Hrin ( huyện Cư M’gar, Đăk Lak). Mất mấy lần qua lại thuyết phục cả Gương lẫn gia đình , thêm được 1 nữ nữa.

Trường hợp Nhát Li Sa gay go hơn cả. Anh đang là “ ngôi sao” của ngành VH tỉnh Đăk lak. Đơn vị gây khó dễ đủ điều chỉ để giữ lại. Chúng tôi cũng làm đủ mọi cách , thậm chí là Nhát làm đơn xin nghỉ phép không hưởng lương để  đi Kon Tum học.Sau thì xin thôi việc. Thấy Nhát quyết tâm quá, ngành mới làm thủ tục cho chuyển. Việc này làm tôi với sêp của Nhát – vốn là bạn thâm niên – giận nhau một thời gian.

Vất vả nữa là 5 người 5 vùng khác nhau mà lẽ ra chỉ tuyển người Đăk Tô để lấy ngữ âm chuẩn, nhưng không tuyển được. Do đó khi học dịch các bạn cũng vất vả lắm. Sau này có em không chịu được sức ép của công việc, bỏ về,  lại phải tuyển người mới thay thế. Tôi cũng vẫn là người đi tuyển chọn đợt hai.

Tổ Sê Đăng chỉ có Nhát & Gương tốt nghiệp trung cấp. Vì vậy mà so với các chương trình khác phải nỗ lực gấp đôi, vì họ đều Đại học cả.Nhưng anh chị em bảo ban nhau rất tốt.

Thời gian chuẩn bị ( học nghiệp vụ) chỉ có 2 tháng, anh chị em phải nỗ lực rất nhiều, học ngày đêm, học lẫn nhau, hỏi thêm các anh chị. Mọi việc đều đúng thời hạn quy định của BGĐ. Tất cả đều mừng.

Chương trình phát thanh các thứ tiếng dân tộc Tây Nguyên của Cơ quan thường trú mới lên sóng 2-3 năm, nên Việc tiếp xúc bạn nghe đài là việc làm rất thường xuyên. Tôi là người phụ trách. Ngoài việc thường xuyên liên hệ với các cộng tác viên đã chính thức hợp đồng nghe, góp ý, định kỳ 3 tháng/lần phải đi cơ sở, đến tận làng, ngủ đêm để trò chuyện với bà con & giới thiệu sóng, kiểm chứng việc nghe đài tại gia đình, kiểm tra luôn chất lượng sóng phát các vùng. Những nơi có thể thì tổ chức họp dân. Nhóm kiếm tra sóng của chúng tôi thường kết hợp cả phóng viên để lấy tin bài, có lần xe phải xuống thung lũng, lên lưng chừng núi, vô rừng, đến những vùng thật xa đô thị. Xe Mekong một cầu, chở nặng cả máy lẫn người, mưa, đường trơn, xe suýt tuột dốc trên đường vô Đăk Tô ( sau này con dốc ấy được giao thông tỉnh ủi thấp xuống). Có lần cả nhóm từ Đăk Glây về, phải xuống bốc đá  dọn đường cho xe qua, vì đêm trước mưa to, đường sạt lở. Những chuyến đi rất đáng nhớ của đời làm báo.

Qua những chuyến hành trình, chúng tôi hiểu được nhu cầu của người nghe hơn, nhất là bạn nghe đài người các dân tộc thiểu số. Bà con thích nghe chuyện cổ tích , kể sử thi, các chương trình ca nhạc, nhất là những bài hát bằng tiếng dân tộc. Còn thời sự thì nhiều từ mới không có trong ngôn ngữ dân tộc, dịch khó hiểu, Những gì bà con góp ý phải về báo cáo lãnh đạo & giao ban thông báo ngay.Ví dụ như một số từ phát sinh Thuế giá trị gia tăng, ISO… thì để nguyên tiếng Kinh, không dịch, không mượn tiếng nước ngoài ( nhhư có biên dịch vẫn hay dùng từ companies – công ty). Sau này một số ca khúc quen thuộc của Tây Nguyên được dịch sang 4 thứ tiếng, lấy người dân tộc địa phương hát, bà con rất thích.

Tôi nhớ lần đi kiểm tra sóng ở Buôn Hằng của Nhát, thấy ai ai ( kể cả trẻ em trai lẫn gái) cũng có chiếc radio nhỏ dắt thắt lưng, cạp váy “ để nghe Nhát hát, Nhát nói”. Sang Kon Tum, bà con hồ hởi “ nghe tiếng người mình trên sóng quốc gia  tự hào lắm, mừng lắm. Cám ơn Đài” . Sao không vui mừng !

Bà con góp ý tiếng Kon Plong khó nghe hơn tiếng Đăk Tô, dịch thời sự nên dịch nghĩa, dịch sát ý quá khó hiểu……. Những ý kiến đó được trao đổi lại với anh em, mọi người đều rút kinh nghiệm ( kể cả các chương trình khác). Sau này dù không ở Đài nữa,  có dịp đi công tác Kon Tum, tôi hỏi, thấy bà con khen dịch đã dễ hiểu hơn. Đọc cũng quy chuẩn, thậm chí hơn cả Đài tỉnh Kon Tum .

18 năm qua là cảnhững sự  nỗ lực rèn luyện rất lớn của các biên dịch, phát thanh viên chương trình tiếng Sê Đăng. Không có đánh giá nào cao hơn việc người nghe các  chương trình phát thanh tiếng dân tộc ngày một nhiều hơn. Tôi đã từng được chứng kiến khi đi tìm người dân tại rẫy, không thấy người, chỉ có chiếc radio treo trên cành cây cao đang phát vang vang tiếng dân tộc . Tôi từng được cơ quan tặng 2 chiếc radio, mang về buôn tặng lại cho người nhà, bà con thuộc giờ phát hơn tôi.

Riêng tiếng Sê Đăng, làng Kon Hrinh coi tôi như người nhà, lúc nào về gặp cũng khen anh em tiến bộ. Nhất là cụ A Wit, tự hào lắm. Lúc ốm nằm dưỡng bệnh cũng để cái radio bên tai. Cô ruột tôi bị liệt nằm một chỗ mấy năm liền, chiếc đài nhỏ bên tai chỉ để đúng chỗ sóng phát tiếng Ê Đê

Thỉnh thoảng con người cần ngoái lại sau lưng, để nhìn xem quãng đường đã qua có những vui buồn gì. Trong tâm hồn và trái tim  tôi, rất gắn bó với chương trình phát thanh tiếng Sê Đăng, nên có nhiều điều để nhớ lắm. Nhớ ngày chuẩn bị lên sóng, nghe lại mới biết Gương đọc nhầm “ Đài PTTNVN”, thành “ Đài nói tiếng VN” . Mưa như trút nước khi Khương lái chiếc xe Mekong đưa cả nhóm len lỏi trong vườn cà ( vì đường quá lầy xe không qua nổi) quyết tâm để vào Kon Hring thu lại.

Nhớ ngày đầu tiên lên sóng, cả BGĐ, tổ phóng viên ( dẫu đã thực hiện 3 thứ tiếng rồi) hồi hộp như ngạt thở cùng với tổ Sê Đăng.

 Nhớ hôm Lãm & tôi ngồi ở nhà dân trên lưng chừng núi Ngok Linh, dò được sóng giới thiệu cho bà con nghe đài tiếng Sê Đăng mà ứa nước mắt . Nhà chúng tôi ở nhờ ngay dưới chân núi, có vòi nước tự chảy dẫn từ trên đỉnh về, róc rách suốt đêm mất ngủ vì niềm vui ngập tràn trong tôi.

Nhớ, chưa có điện thoại, tôi & Gương chở nhau về Kon H’Ring thu thanh ý kiến cụ A Wit về chương trình. Mưa tạnh, đường trơn như trời đổ cả thùng mỡ xuống, bánh xe cứ loạng quạng lại qua. Mấy lần tôi quăng Gương xuống đường, em bảo “ cô chạy xe, em đi bộ”. Lẽo đẽo theo nhau hàng cây số như thế cho ra tới ngã 3 liên huyện .

Mừng thấy anh chị em Sê Đăng và cả những tiếng dân tộc khác, ngày một vững vàng trong nghề, được bà con tin yêu,có người đã tốt nghiệp đại học báo chí, cuộc sống gia đình & cá nhân ổn định. Là người tổ chức thực hiện việc tuyển chọn & đào tạo anh em tiếng Sê Đăng, tôi nghĩ mình đã góp phần làm được những điều thật tốt đẹp cho cả xã hội lẫn bà con mình.

18 năm ngày tiếng Sê Đăng lên sóng quốc gia, như những trai cô gái Tây Nguyên “ da nâu mắt sáng vóc dáng hiền hòa” tràn đầy sức trẻ, chân thành chúc cho những bạn đồng nghiệp, những người em thân thương tổ Sê Đăng và các chương trình tiếng dân tộc khác của Đài TNVN  may mắn & hạnh phúc trong cuộc sống, ngày càng giỏi nghề, dịch hay, dịch đúng để bà con mình hiểu quyền lợi và  những gì Nhà nước dành cho mình. Nhất là tuyên truyền về pháp luật, về khuyến nông, về bảo tồn văn hóa cổ truyền, theo phương châm “ cung cấp những gì bà con cần, không phải những gì mình thích”.Và trở thành người bạn thân thiết, luôn gắn bó của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên.  Mãi mãi ấp áp trong trái tim tôi những ngày đã xa ấy.

 

 

 

 

[...]
Xem tiếp

Gốm cổ M’nông trước nguy cơ mai một

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-02-06

Đồng bào dân tộc M’nông ở xã vùng sâu Yang Tao, huyện Lắk (Đắk Lắk) có nghề làm gốm hàng trăm năm. Nhưng thời gian gần đây, đồng bào không còn sản xuất gốm, làng nghề gốm truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một.

 

Sản phẩm gốm M'nông.

Nghề làm gốm đã có từ lâu đời trên đất nước Việt Nam. Với vùng đất Tây Nguyên nó phát triển muộn hơn rất nhiều, sản phẩm tạo ra được làm hoàn toàn thủ công, hoa văn đơn giản, khả năng sản xuất hàng hóa không cao. Tuy nhiên, làng gốm cổ của người M’nông Rlăm tại buôn Dơng Băk xã Yang Tao, huyện Lắk, Đắk Lắk đã một thời cung cấp các sản phẩm cho đồng bào các dân tộc nơi đây khi các sản phẩm hiện đại chưa xâm nhập cũng như việc giao thương, đi lại gặp nhiều khó khăn.

Làng gốm của người M’nông tồn tại lâu đời ở vùng đất Tây Nguyên và mang trong mình một số đặc trưng riêng phù hợp với điều kiện sống của người dân. Đây là làng gốm cổ duy nhất của người M’nông Rlăm với quy trình sản xuất thủ công và cách nung gốm lộ thiên. Sản phẩm gốm được tạo nên trong quá trình lao động, sáng tạo. 

Quy trình sản xuất gốm cổ gồm nhiều công đoạn, tổng kết lại gồm 5 khâu chính: Làm đất, tạo hình sản phẩm, trang trí hoa văn, tráng men và nung đốt. Đó là quy trình chung của mỗi làng nghề, tuy nhiên ở từng công đoạn được thực hiện khác nhau tuỳ theo trình độ của làng nghề đó.

Theo các kết quả sưu tầm, nghiên cứu của Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk, trong các nhóm người dân tộc M’nông thì chỉ có nhóm M’nông Rlăm là có truyền thống nghề gốm lâu đời. Kỹ thuật làm gốm của đồng bào khá độc đáo, nhất là kỹ thuật chế tác.

\Đồng bào không cần dùng bàn xoay như thường lệ mà nặn bằng tay và di chuyển xung quanh vật chế tác để tạo dáng. Cách làm này gần giống với cách chế tác gốm Bầu Trúc của người Chăm ở Ninh Thuận. Nguyên liệu để chế tác đồ gốm là loại đất sét được đánh nhuyễn, không pha trộn, thêm vào đó là các họa tiết hoa văn riêng biệt, độc đáo của người M’nông. Sản phẩm gốm được nung lộ thiên chỉ trong vòng 30 phút nhưng rất bền và tinh xảo.

TS. Lương Thanh Sơn, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk cũng cho biết: Sản phẩm gốm do đồng bào M’nông ở Yang Tao sản xuất gồm các sản phẩm như bát, chảo, ấm, nồi, niêu, ché rượu... đã có một thời hưng thịnh, được nhiều dân tộc thiểu số khác ở Tây Nguyên chọn sử dụng. 

Nhưng, hiện nay làng gốm đang đứng trước thực trạng sản phẩm gốm sản xuất ra không tiêu thụ được, khách tham quan thưa dần nên làng nghề truyền thống sản xuất gốm cổ ở Yang Tao dần dần bị mai một.

Được biết, trước đây, Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk đã phối hợp với chính quyền địa phương mở một số lớp dạy nghề làm gốm cho thanh thiếu niên trong buôn; đồng thời giới thiệu một số sản phẩm gốm của đồng bào làm ra cho các đơn vị du lịch. Bên cạnh đó, Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk cũng tổ chức cho các nghệ nhân M’nông làm đồ gốm theo mẫu có sẵn để làm hàng lưu niệm phục vụ khách du lịch.

Thông qua hoạt động này, ngành văn hóa tỉnh Đắk Lắk mong muốn góp phần bảo tồn nghề gốm truyền thống, đồng thời tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho đồng bào. Nhưng những giải pháp này vẫn chưa đủ sức để vực dậy làng nghề gốm cổ.

Do vậy, ngoài việc vận động các nghệ nhân sản xuất gốm ở Yang Tao đổi mới mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm, các cấp chính quyền ở huyện Lắk cần vận động, liên kết với các đơn vị du lịch để đưa du khách đến tham quan, tiêu thụ sản phẩm gốm cho đồng bào. Mặt khác, tỉnh Đắk Lắk cũng cần sớm đưa nghề gốm cổ của đồng bào M’nông vào chương trình phát triển làng nghề nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho đồng bào khôi phục, phát triển làng nghề, góp phần bảo tồn văn hóa đặc sắc cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn Tây Nguyên.    

    Phương Lan ( Theo Báo Đại Đoàn kết)

 

[...]
Xem tiếp

Điểm hẹn Ban Mê

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-31-05

                Đã lâu lẩu lầu lâu. Trong một lần nhà văn Nguyên Ngọc nhờ đưa đi nghiên cứu văn hóa, tôi mời các bạn tới làng của người Ê Đê ở buôn Akó Dhông , thành phố Buôn Ma thuột. Lúc ấy buôn chỉ là chốn ở. Vắng khách.

                Nơi đến là một căn nhà sàn gỗ bạc phếch màu nắng mưa, mái ngói thâm nâu mùi thời gian, ở giữa buôn, gồm toàn những căn nhà nhỏ yên bình nằm dọc theo hướng Bắc Nam. Theo truyền thống, sẽ có thêm một căn ( một cửa sổ) được nối, nếu một cô gái nào đó “ bắt chồng” về. Nhà của AMa H’Len,  người bạn, cố giáo viên trường Dạy nghề Đăk Lak – anh chuyên ngành sửa chữa máy nông nghiệp . Khi ấy anh mất đã vài năm, chỉ có người vợ tóc bạc và con gái lớn tiếp đón. Không thể diễn tả hết sự ngạc nhiên của mọi người, kể cả nhà văn Nguyên Ngọc, người vẫn tự coi và được coi là rất thấu hiểu văn hóa Tây Nguyên. Câu cuối cùng trước khi rời khỏi ngôi nhà của mọi người, rằng “ không thể ngờ có sự văn minh đến thế trong không gian ở truyền thống Ê Đê ”.

                Trước hết phải kể đến công của cố già làng Ama H’Rin, người đã kiên trì thuyết phục cả buôn theo một lối sống pha trộn hợp lý giữa văn hóa truyền thống Ê Đê với tinh hoa văn hóa Pháp suốt nhiều năm dài. Trước 1975, Buôn Kó Dhông gần như là nơi đầu tiên người Ê Đê học cách trồng cà phê và làm ăn chung dưới sự chủ trì của già làng, để đều có một đời sống kinh tế ổn định.

Sau 1975, bị nhiều áp đặt về lề lối làm ăn tập thể mới,  những ngôi nhà dài dần trở nên mục nát, ván sàn rung rinh dưới mỗi bước chân người, những ô cửa sổ khép kín e ngại, cầu thang gãy bởi chẳng còn đón bước chân khách lên cửa trước, mái ngói sụt lở, vườn hoang hóa…bà con còn phải đuổi theo sự thất thường của giá cả cà phê để kiếm tìm sự ổn định nào đó cho kinh tế hộ gia đình, bỗng dưng mất đi sau hàng chục năm thịnh vượng. Mặc dù vậy, Già làng Ama H’Rin vẫn giữ được tâm nguyện gìn giữ không gian truyền thống của buôn sang, với khuyến cáo : có bán đất , làm nhà xây cũng lùi vô phía sau, đừng chắn mất hình ảnh nhà dài. Ở buôn, không chỉ có già làng Ama H’Rin duy trì việc dạy ching knă cho lớp trẻ, gìn giữ cây rừng cổ thụ, mà còn Ami H’Dit và chồng cố gìn giữ nghề dệt thổ cẩm, làm kong đồng, Ami Phi Ơm không bỏ làm rượu cần. Và rất nhiều giọng hát bỏng cháy tâm hồn cao nguyên, khiến du khách nghe một lần không thể nào quên, như : Y Jăk, Y Son của dòng họ Arul, Y Nan, Y Gim của dòng họ K’Buôr….

 Rồi cũng đến lúc vẻ đẹp không tô vẽ ấy được nhận ra, khi Công ty Du lịch chọn làm một điểm đến. Nhưng buôn Kó Dhông chỉ thật sự trở mình tỉnh thức sau hàng loạt những thay đổi do sự tọa lạc của khách sạn Yang Sin, từ một phụ nữ Ê Đê đến từ buôn khác. Thêm một đội ching Knă đón khách gần xa, thêm Amí, Ama H’Loan hát arei, thổi đinh năm đinh buốt…Và ngôi nhà cổ của Ama H’Len cũng giật mình ra khỏi giấc ngủ dài, bởi cô con gái . Nhìn ra vẻ đẹp của chính tâm hồn cha, tâm hồn mình trong hình dạng căn nhà chẳng dài một hơi ngựa chạy cũ kỹ, nhỏ bé, H’ Len chắt chiu từng đồng từ rẫy cà phê để sửa chữa, dặm lại, thu lượm những hiện vật truyền thống văn hóa Ê Đê còn sót lại đâu đó, chất đầy căn nhà. Nào là ché Tuk, ché Tang, ché mẹ bồng con ( xưa kia phải mất hàng chục con trâu mới đổi được) ; nào là bộ nồi đồng lớn nhỏ, trống H’Gơr hai mặt da trâu đực trâu cái, bộ ching Lao, khung dệt, những chiếc bầu nước đen bóng màu suối ngàn…cùng với hoa lá của rừng, tô điểm. Để tôi lang thang đặt gót chân đến mọi buôn, bon, kon, plei, nhưng hai năm một lần, vẫn nhớ đưa lớp năng khiếu viết văn thơ của các em học sinh dân tộc về thăm. Bạn sinh viên Nhật nằm dài trên sàn nhà “ con chẳng muốn về. Ở Nhật nhà con cũng không được thế”…. Các con gọi đó là “ Vườn cổ tích”.

Cho đến ngày H’Len trở thành bà chủ của một tiệm cà phê nguyên chất từ suối hạt nâu bóng thơm lừng chảy về từ rẫy , đến không gian nhà sàn dài mái nhọn, với sự lại qua duyên dáng của những cô gái “ da nâu mắt sáng vóc dáng hiền hòa” trong váy áo Ê Đê. Cà phê A Rul nhanh chóng trở thành điểm hẹn của những người yêu Ban Mê, yêu cà phê. Thiên hạ hẹn nhau ngày nghỉ, bạn bè mời nhau mỗi lần ghé qua. Cô giáo dạy tiếng Ê Đê đưa học viên tới đàm thoại, bé gái đung đưa trên chiếc xích đu, bé trai  áo choàng siêu nhân chạy đuổi bướm trong vườn. Góc này máy chụp hình nháy lên. Bên bàn nọ tiếng ghi ta nhè nhẹ bập bùng. Đẹp, bình yên và thư giãn đúng cách thưởng thức hương cà phê Cao Nguyên. Còn thiếu những đêm hát về Cao nguyên nữa H’Len nhé. Nhưng bạn vẫn có thể “ hãy đợi đấy !” mà, đúng không?

Đó chính là điểm hẹn của Ban Mê : cà phê A Rul, buôn Akó Dhông, tp Buôn Ma Thuột  bạn nhé ( người địa phương gọi là Buôn A Kô Thôn).

Người Ê Đê chúng tôi xin mời !

[...]
Xem tiếp

Tục chia của cho người chết qua di chỉ mộ táng cổ ở Lâm Đồng

Được viết bởi : Admin | Ngày 2016-28-05

Chia của cho người chết là một trong những nét độc đáo của các cư dân bản địa vùng Tây Nguyên nói chung và Lâm Đồng riêng. Một số dân tộc ở Tây Nguyên vẫn thường quan niệm rằng thế giới bên kia không phải là một thế giới siêu phàm của thần tiên mà là một bản sao của thế giới thực như khi họ còn sống. Người chết cũng cần phải có đầy đủ các vật dụng trong sinh hoạt và sản xuất. Chính vì vậy mà khi có người trong gia đình, dòng tộc mất, họ đều tiến hành phân chia của cải mang ra mồ cho người chết. Những tài sản được chia cho người chết bao gồm cả những đồ vật quý như chiêng, choé, vòng cườm, lục lạc đến các vũ khí, công cụ sản xuất như: lao, kiếm, xà gạt, xà bách… và các vật dụng trong đời sống sinh hoạt thường ngày như nồi, tô, chén bát. Số của cải này không quy định về số lượng mà tuỳ thuộc vào sự giàu nghèo của mỗi gia đình mà người chết cũng được chia khác nhau.

                                                           Đồ táng cho đàn ông ở mộ Đại Làng 

                                                            Đồ táng trong di chỉ Đại làng 

Ở Lâm Đồng, người ta còn thấy tục chia của được phản ánh khá rõ nét qua các di chỉ mộ táng cổ của cư dân bản địa có niên đại cách ngày nay từ 400 đến 700 năm. Tiêu biểu là di chỉ mộ táng Đại Làng (nay thuộc huyện Bảo Lâm) và di chỉ mộ táng Lộc Châu (thuộc địa bàn xã Lộc Châu, thành phố Bảo Lộc).

Qua khai quật, các di chỉ mộ táng này cho thấy cách mai táng và các vật dụng được chia chôn theo người chết đã phản ánh đời sống sinh hoạt của các dân tộc bản địa Mạ, K’ho – chủ nhân của khu mộ.

 Các vật dụng bằng sắt bao gồm: các loại vũ khí để săn bắt thú rừng và khi giao tranh giữa các bộ tộc như: lao và dao nhọn; các loại nông cụ như liềm để cắt cỏ, cắt lúa; rìu và xà gạt để chặt cây, phát rừng làm rẫy; xà bách để làm cỏ hoặc khoả đất lấp hạt, dao nhỏ để vót tre đan gùi,... Các công cụ của nghề rèn sắt như: đe búa; nghề dệt như: dọi xe chỉ… Các vật dụng được dùng trong nghi lễ tôn giáo như : xà gạt có mũi nhọn phỏng theo mỏ của con chim rừng, lục lạc nghi lễ… và các vật dụng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày như nồi đất, nồi đồng, tô, chén, bát v.v…

Đồ trang sức bằng đồng bao gồm vòng, khuyên tai, nhẫn, lục lạc có kích thước, kiểu dáng mang đặc trưng của đồng bào Tây Nguyên. Trong đó có những chiếc vòng bản rộng còn gọi là ốp tay có kiểu dáng và hoa văn giống vòng đồng Đông Sơn được người xưa sử dụng làm bao che cổ tay mà cách đây không lâu thanh niên Mạ ở Lâm Đồng vẫn còn dùng. Ngoài chất liệu chính bằng đồng còn có các hạt cườm bằng thuỷ tinh màu, đá thiên nhiên, mã não được mài nhẵn kết lại tạo nên những chuỗi hạt.

 Nét độc đáo trong các di chỉ mộ táng còn thể hiện qua việc phân bổ các loại hình hiện vật trong các nhóm mộ. Giữa các nhóm mộ đàn ông và đàn bà đều có sự khác nhau. Với nhóm mộ đàn ông thì thường được chôn theo một số choé lớn, một số tô, bát, đĩa, vũ khí và nông cụ bằng sắt, lượng hiện vật ít và tập trung ở giữa mộ. Với nhóm mộ đàn bà thường được chôn theo đồ trang sức, vật dụng sinh hoạt bằng gốm sứ, dọi xe chỉ… Nhóm mộ này hiện vật chôn theo rất nhiều. Sự phân chia số lượng của cải, vật dụng sinh hoạt nhiều hay ít, theo loại hình ở từng nhóm mộ thể hiện sự phân công lao động rõ rệt trong xã hội của chủ nhân mộ cũng như quyền lực của họ trong gia đình, dòng tộc.

Với truyền thống lâu đời là nhiều thế hệ sống chung dưới một mái nhà sàn, khi chết thì được chôn chung một mộ. Vì thế, các di chỉ mộ táng ở Lâm Đồng đã phản ánh rõ rệt phong tục này. Ở di chỉ mộ táng Đại Làng, quá trình khai quật các gò đất đắp, các nhà khảo cổ đã phát hiện có một số gò được chôn từ 2 đến 4 mộ. Điều đó chứng tỏ rằng đầu tiên người ta chôn các mộ riêng biệt trong cùng một khoảnh đất rồi sau đó phủ đất đắp lên thành một gò mộ chung. Hoặc ở di chỉ mộ táng Đại Lào, trong hố khai quật thứ 3, ở độ sâu từ 0,6m-1,8m có ba ngôi mộ được chôn chồng lần lượt lên nhau. Điều này thể hiện quan niệm: chủ nhân mộ khi sống thì cùng sống chung một nhà, khi chết cũng được cùng chung sống ở một thế giới mới.

Tục chia của cho người chết trước đây (vào những năm 80-90 của thế kỷ XX) vẫn còn tồn tại trong các cộng đồng cư dân bản địa Lâm Đồng và Tây Nguyên,  nhưng hiện nay do tác động của cuộc sống hiện đại cùng với sự du nhập của các tôn giáo nên đã gần như mất đi, nó chỉ còn thể hiện một cách hết sức mờ nhạt qua việc người chết được chôn theo những kỷ vật hoặc trang sức mà con cháu mua tặng khi còn sống.

Bích Ngọ - Hoài Thu ( thao báo Lâm Đồng)

 

[...]
Xem tiếp