Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

KA SÔ LIỄNG SÂN KHẤU- SƯU TẦM & LÀM THƠ

Được cập nhật bởi Admin ngày 2017-04-07

Là một nhánh của cộng đồng Chăm, chọn nơi sinh sống dọc hai bờ con sông Hroaih, nên xưng là Chăm Hroaih, trong danh mục 54 dân tộc Việt Nam còn được gọi là Bâhnar Chăm. Tộc người này cư trú tập trung ở Phú Yên và một vài huyện thuộc Bình Định. Đạo diễn Ka Sô Liêng là người dân tộc Chăm Hroaih, sinh ở Plei Kei Trôi, xã Bu beng, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên .

                Người thanh niên mới lớn hay nhảy múa hát ca, rất hồn nhiên, gặp cách mạng Tháng Tám rồi trở thành bộ đội Cụ Hồ. thuộc Trung đoàn 84. Năm 1954 , cả Trung đoàn tập kết rồi được điều lên Tây bắc để làm cầu đường. Thấy anh nhanh nhẹn, ham văn nghệ, thích diễn kịch, đơn vị cho đi học bổ túc văn hóa, rồi học quản lý văn hóa ở Trường Lý luận nghiệp vụ Hà Nội. Năm 1963 tốt nghiệp, anh về nhận công tác tại Ty văn hóa Thông tin tỉnh Quảng Ninh.

                Có lẽ năng khiếu nghệ thuật mạnh hơn, nên sau bảy năm hết làm phong trào đến giáo viên giảng dạy, Ka Sô Liễng thi đỗ vào khoa đạo diễn trường Nghệ thuật sân khấu – Điện ảnh. Tốt nghiệp, anh ở lại trường dạy môn Văn hóa quần chúng và Mỹ học.

                Năm 1973, theo tiếng gọi quê hương, Ka Sô Liễng lên đường trở về nam, trong đội hình Đoàn văn công tổng hợp thuộc ban Tuyên huấn khu 5. Chỉ sau một thời gian ngắn, xuất phát từ nhu cầu bổ xung đội ngũ và huấn luyện chuyên môn nghệ thuật cho các đoàn văn công chiến trường, anh về xây dựng Trường văn hóa Nghệ thuật khu Năm ở Đăk My, một vùng căn cứ của khu  tại địa phận Quảng Nam.

                Đất nước thống nhất, Ka Sô Liễng về Phú Yên, làm đạo diễn trong Đoàn dân ca kịch, rồi Trưởng đoàn cải lương của tỉnh. Đến bây giờ anh mới thực sự thỏa mãn nguyện vọng gắn bó với sân khấu, được có dịp đem học vấn đã gom góp của mình ra thực hành. Không đầy 10 năm,đạo diễn Ka Sô Liễng đã dàn dựng trên 20 vở các thể loại tuồng, cải lương, dân ca như : Ba Cha con, Rừng hận, Đôi mắt, Trần Bình Trọng, Hương gai …cho các đoàn nghệ thuật sân khấu trong tỉnh. Ông còn dàn dựng cho các tỉnh Vũng Tàu, Bến Tre, Tây Ninh, Sông Bé, Gia Lai…những tiết mục về Tây Nguyên, như : Hoa Plang, Núi rừng thầm lặng, A Nàng… về dân tộc Khơmer như vở Sa Mi cho đoàn Khánh Hòa. Ông còn viết kịch bản sân khấu như vở Tình chết trong rừng hận…Những tác phẩm do Ka Sô Liễng đạo diễn, không chỉ được giới chuyên môn đánh giá là “ sâu sắc, mang tính hiện đại” đoạt huy chương vàng, bạc trong các kỳ Liên hoan nghệ thuật sân khấu, mà còn nhờ đó các đoàn nghệ thuật có doanh thu cao.

                Khi chưa gặp Ka Sô Liễng, tôi không mấy tin ở việc có một người dân tộc thiểu số miền núi Trường Sơn  lại am hiểu và có thể dàn dựng được các thể loại kịch hát đồng bằng, nhất là về bài chòi, hát bội, cải lương…những loại hình nghệ thuật hoàn toàn xa lạ với văn hóa miền núi Tây Nguyên . Thế rôi tôi thán phục anh, say sưa ngồi nghe anh kể về nghề đạo diễn “ chủ yếu là ở khâu dàn dựng, chọn làn điệu cho phù hợp với tính cách nhân vật, nội dung vở diễn”. Không những nói, anh còn hát ngay rất nhuyễn một đoạn bài chòi khu năm và trích đoạn tuồng cổ nữa chứ. Đến lúc ấy thì tôi đã hoàn toàn bị anh thuyết phục rồi.

                Trong thời gian làm Trưởng phòng văn nghệ, rồi Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Phú yên, phụ trách công tác nghệ thuật và nếp sống văn hóa, anh đã tham gia chỉ đạo và trực tiếp sưu tầm, nghiên cứu nhiều công trình văn hóa dân gian Phú Yên, như việc phát hiện ra hơn 10 bộ đàn đá Khánh Sơn, kiểm kê di sản dân ca Phú Yên, sưu tầm dân ca Rak Glay, trường ca Xing Chion ( Bâhnar), Chơ Lơ Kôk ( Êđê )…Nhưng Ka sô Liễng còn gây bất ngờ hơn, sau khi về hưu, trong cùng một năm 1999 anh nộp Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam hai trường ca Tiếng cồng nàng H’Bia Đá Bia Tơ Lúi – Ka Ly Pu, nộp về Hội văn nghệ dân tộc thiểu số Việt nam bản thảo Anh em Chi Blơng, đều là trường ca cổ Bâhnar, mỗi tập dày hơn300 trang  nếu tính cả tiếng dân tộc và tiếng phổ thông thì dày tới hơn 700 trang/ cuốn ). Điều mà chưa một nhà sưu tầm trường ca Tây Nguyên nào ở Việt Nam làm được, vào thời điểm ấy ( khi chưa có chương trình sưu tầm sử thi của nhà nước). Bởi để có được những trang giấy như thế, người sưu tầm phải ăn dầm nằm dề ở buôn, plei thậm chí hàng tháng trời, rồi nghe băng ghi lại bằng chữ dân tộc, dịch sang tiếng phổ thông, chỉnh lý văn học cho dễ đọc, dễ hiểu…tất cả đều không dễ dàng gì. Kinh phí đi cơ sở, thậm chí giấy bút để ghi chép, đánh máy hàng ngàn trang văn bản, đâu phải là điều đơn giản với một cán bộ hưu trí, cho dẫu có từng là Phó giám đốc đi nữa. Phải xuất phát từ một tình yêu sâu nặng lắm, một lòng đam mê đến đắm đuối vốn văn hóa cổ truyền của ông bà xưa, mới giúp cho Ka Sô Liễng giành được nhiều giải thưởng cao nhất của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam và Hội văn nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam cho việc sưu tầm như thế chứ. Thật đáng khâm phục !

                Tình yêu sâu nặng ấy không chỉ bộc lộ trong công việc của anh khi còn tại chức, hoặc trong công việc sưu tầm, dịch thuật trường ca, sử thi, mà còn “ phát tiết” cả trong thơ . Bài “ Con lạch của anh đã được tuyển chọn vào Tuyển tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam ( Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc năm 1997) . Bài thơ giản dị, kể câu chuyện cũng rất đơn giản về một con lạch chảy “ giữa hai tảng đá ngồi châu đầu như hai con gà khổng lồ”ở miền núi rừng quê anh. Trong mắt một đứa trẻ con, con lạch “ sao mà to và hiểm hóc” . Nhưng “ hơn 20 năm đi đánh giặc” trở về, anh bồi hồi trước “ con lạch tuổi thơ chẳng bé đi đâu/ chỉ tầm mắt và bước chân mình đã lớn lên cùng đất nước”  . Không nói gì trực tiếp đến quê hương, mà vẫn thấy thật sâu sắc, bởi tác giả đã từng “ Đi đến cùng trời / vẫn thấy hai con gà trong tầm mắt/ đi tận cuối đất/ vẫn thấy con lạch rì rào chảy mãi trong tim”.  Giản dị mà như một chân lý về tình yêu quê hương.

Anh nói đến cội nguồn bằng một hình ảnh tưởng như không liên quan gì đến tâm tưởng con người, nhưng lại rất sâu sắc “ Con chim có hai cánh/ bay lên tận những tầng mây xanh/ Bay qua trăm cánh rừng/ Bay qua nghìn ngọn múi” nhưng “ Con chim không bao giờ quên/ mặt đất nuôi sống mình”. Để rồi  “  khi chim mỏi cánh bay về/ ..từ mặt đất/ chim lại xòe đôi cánh bay cao” ( Cánh chim)

                Sưu tầm, chuyển ngữ và chỉnh lý hàng chục bản trường ca Chăm, nên thơ của Ka Sô Liễng cũng “ ngấm” ngôn ngữ của trường ca, đặc biệt là thủ pháp nhân hóa hình tượng các vị thần ( Yang) vốn đã rất gần với đời sống dân giã của người Tây Nguyên cổ xưa, cũng có đủ mọi nỗi buồn, vui, hờn giận “ Ông trời buồn/ Mặt nặng như chì/ Con ông trời đau nặng/…bà vợ ông trời lo cho con/ hét toáng vào tai chồng”. Ka Sô Liễng lý giải những cơn mưa thất thường của đất trời Tây Nguyên cũng bằng cách nhân hóa rất hồn nhiên ấy “ Con ông trời vẫn đau/ quằn quại giãy giụa/ nước mắt tuôn ra đầm đìa/ Ướt đầm cây cỏ/ Tràn khắp đất đai” ( Chuyển mưa)

                Bây giờ rời xa phố thị, tít tận trên miền rừng Phú Yên, Ka Sô Liễng vẫn không chỉ cặm cụi hoàn thành văn bản Luật tục Chăm, hoặc những bản trường ca như Chi PNâm ( mà theo anh còn dài hơi hơn những tập trước); mà còn cần mẫn biên soạn bộ chữ Chăm Hroaih, rồi tự nguyện đi đến mọi nẻo đường dạy cho lớp trẻ ( chẳng ai trả công cho việc ấy đâu); hoặc lại đang ghi ghi chép chép, sưu tầm ở một plei nào đó trên quê anh,  nơi có rẫy mì, rẫy bắp, ruộng mía… làm hành trang theo anh trên một chiếc xe máy cũ, chiếc máy ghi âm cũng già nua không kém, với vẹn nguyên một tâm hồn trong trẻo , luôn tươi vui trong mọi hoàn cảnh.

                Ka Sô Liễng cần mẫn với việc dùng những giọt mồ hôi của mình đổ ra trên từng trang giấy, để rửa sạch, để nâng niu những viên ngọc lâu nay nằm im dưới những lớp tro bụi thời gian, của một người làm công tác sưu tầm và dịch thuật, trân trọng trao lại làm tài sản cho các thế hệ mai sau. Anh chỉ có một mối day dứt, bận tâm  duy nhất “ Sau mình, lớp trẻ người dân tộc có ai say mê với văn hóa dân gian nữa không?”

                Câu hỏi chưa có người đáp lời. Nhưng tôi biết rằng anh vẫn luôn tận tụy với công việc, để rồi lại làm thơ, dịch thơ dân gian, đi dạy chữ,  như là một cứu cánh cho nỗi khắc khoải của anh.

 

Bình luận

Tin tức & sự kiện