Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

Sáng tác văn học bằng tiếng dân tộc ở Tây Nguyên

Được cập nhật bởi Admin ngày 2009-06-03 15:02:30

Đề tài mà Ban tổ chức Hội nghị Lý luận phê bình Tây Nguyên giao cho, đối với tôi, một nhà văn người dân tộc Tây Nguyên, quả là một bài toán khó.

Những năm qua, nhờ tấm lòng ưu ái của các bạn đồng nghiệp, mà tôi đã được đọc một số tập thơ viết bằng hai thứ tiếng Tày - Việt, một số ít bằng tiếng Mông & tiếng Thái. Mới đây nhất, cuối năm 2006, trước khi mất, nhà văn người dân tộc Tày Hoàng Hữu Sang đã kịp để lại cho cộng đồng một cuốn tiểu thuyết song ngữ có tên gọi “ Vực thuồng luồng” .  Đặc biệt là nhờ sự quan tâm của nhà thơ InRaSaRa, nên tôi thường cập nhật  được những sáng tác song ngữ của các bạn viết người Chăm.Thành thật mà nói, tôi rất cảm phục tình cảm trân trọng và sự nỗ lực của các bạn khi sáng tác song ngữ. Bởi chẳng ở đâu hoặc bằng cách nào bảo tồn bản sắc văn hoá thông dụng nhất, hiệu quả nhất bằng ngôn ngữ của chính tộc người mình.

Nhưng viết bằng tiếng dân tộc đối với văn học các dân tộc thiểu số Tây Nguyên thì sao? Ô hô,điều này gần như chưa hề có, ngay cả với bậc nhà văn lão làng như bác Y Điêng . Cho đến nay,chỉ có một vài người dịch từ tiếng phổ thông sang tiếng dân tộc này, dân tộc kia một vài bài thơ, đoản văn nhỏ, chứ chưa hề có tác giả nào viết thẳng bằng tiếng của chính tộc người mình, đặc biệt là văn xuôi lại càng là “ của hiếm” .Đây quả là một sự thật trần trụi rất đáng buồn .
Trong lớp sáng tác văn học dành cho các em thiếu nhi người dân tộc thiểu số mà Hội VHNT Đăk lăk tổ chức đã được ba mùa hè , chúng tôi cũng đã thử động viên các em viết bằng tiếng mẹ đẻ.  Cho dù cũng đã có một vài em viết bằng tiếng dân tộc mình những đoạn văn ngắn, nhưng cũng chưa có kết quả gì để có thể gọi là khả thi.
Vì sao lại có sự khó khăn trong việc sáng tác bằng tiếng dân tộc ở Tây Nguyên như thế chứ ? Như trước đây đã từng đi tìm những “ hạt giống” văn học, tôi có làm một số cuộc phỏng vấn mini về điều này. Nhưng gặp ai cũng chỉ được một câu trả lời “ Không đủ ngôn từ để viết bằng tiếng dân tộc”. Ô hay ! Vùng đất gần như duy nhất trong cả nước ( thậm chí là đối với thế giới) có cả một kho tàng đồ sộ về văn học truyền miệng như Tây Nguyên, mà không đủ ngôn từ ư ?Vậy mà quả có chuyện thật như đùa thế đấy. Trường ca, sử thi ư?  Ngoại trừ thế hệ U 70 đã từng may mắn được trực tiếp tham gia một vài buổi nghe các nghệ nhân kể khan, Hơ amon, Hri... ( cho dù là chỉ để cho các nhà sưu tầm ghi lại đi nữa), chứ lớp tác giả U 60 lứa chúng tôi trước đây chỉ biết trưòng ca, sử thi qua sách vở bằng tiếng Việt, không hề có điều kiện tiếp xúc với chính nghệ nhân. Những thế hệ 8x , 9x bây giờ lại càng không có điều kiện nghe chính các nghệ nhân kể trường ca, sử thi, bởi đã từ lâu nó vắng bóng trong cuộc sống đời thường của mọi buôn làng. Chỉ mới 5 năm trở lại đây các nhà sưu tầm mới được tiếp cận, chứ lớp trẻ cũng không được hưởng thụ.Trong khi đó thì suốt 12 năm ngồi trên ghế nhà trường,tiếp đến 4 năm trên các giảng đường đại học, cho dù là học ngữ văn đi nữa, thì hàng chục năm nay mọi thế hệ thanh thiếu niên Tây Nguyên lớn lên chỉ biết đến văn học Việt, thậm chí cả văn học nước ngoài, chứ có bao nhiêu tỷ lệ dành cho văn học dân gian Tây Nguyên? Mà văn học Việt đối với học sinh dân tộc đã là một thứ ngoại ngữ rồi còn gì?
May mắn thay, năm 2004, nhân có lớp truyền dạy sử thi Êđê do Viện nghiên cứu văn hoá mở ở huyện Cư M’gar tỉnh Đak Lak, chúng tôi mới có dịp phục dựng một đêm kể khan trích đoạn ở nhà dài cho lớp viết văn thiếu nhi dân tộc tham dự ( tất nhiên là thời gian không cho phép để kể hết một câu chuyện) . Gần 30 em học sinh Êđê, Jrai, Sê Đăng, Mnông..., đều lần đầu tiên được biết thế nào là kể khan thực sự.
Mọi sự so sánh đều khập khiễng, nhưng thử cứ lấy chuyện dịch văn học nước ngoài sang tiếng Việt ra mà đối chiếu, xem có bao nhiêu người ? Tất suy ra việc trở thành một tác giả viết văn bằng “ ngoại ngữ ” đã khó, viết bằng tiếng dân tộc cũng có dễ dàng gì hơn đâu.Ngay cả nhà nghiên cứu Ka Sô Liễng, dịch hàng ngàn câu thơ sử thi từ tiếng Chăm HRoaih sang tiếng phổ thông, mà khi làm thơ cũng có viết được bằng tiếng dân tộc đâu? Người đa tài và hiểu biết sâu rộng về văn hoá dân gian Tây Nguyên như nhạc sỹ- tác giả thơ- ảnh Kpă Y Lăng, cũng đâu có bao giờ làm thơ được bằng tiếng Banar Chăm của ông?
Cũng may là trong lĩnh vực âm nhạc,có một số tác giả kiên trì viết song ngữ, mang đầy chất thơ của trường ca vào ca khúc , như nhạc sỹ AMa Nô với “ Lăk quê ta, Mừng lúa mới”..., Y Sơn Niê với “ Ơ chim Ktiă, Về buôn mới, Tiếng sáo diều...”, Y Phôn Ksor với “ Bay về cội nguồn, Đi tìm lời ru mặt trời...”, K’RaZan PLin với “ Giữ ấm bếp hồng ”, K’RaZan Đích với “ Sim Prim” ...Tuy không nhiều, nhưng những ca khúc có lời dân tộc vừa kể trên, đều có đời sống lâu bền trong thanh niên các dân tộc ở nhiều buôn làng Tây Nguyên. Thậm chí có bài như “ Ơ Chim Ktiă ” đã có một thời được hầu hết thanh niên các dân tộc Jrai, Êđê, K’Ho , Banar ở cả 5 tỉnh Tây Nguyên ...hát trong những liên hoan nghệ thuật quần chúng toàn quốc.
Trở lại với việc sáng tác văn học bằng tiếng dân tộc. Đến hôm nay, dẫu có được sự động viên của các Hội chuyên ngành đến đâu đi nữa, thì việc viết văn song ngữ ở Tây Nguyên vẫn là điều không tưởng.Xin có ngay một vài ví dụ cụ thể :
* Mới gần đây ( tháng 3/07), tôi dựng chương trình ca nhạc dân gian cho một nhóm thanh niên dân tộc khoảng từ 18-20 tuổi, ở huyện Buôn Đôn ( Đăk lăk), khi chép lời bài hát bằng tiếng Êđê, các em đều không đọc được chữ .Cho dù là một bài dân ca khá phổ biến trong toàn thể cộng đồng,chúng tôi phải đọc lên để học thuộc lòng từng câu mới nhớ hết lời.
* Những cuốn sử thi in song ngữ Êđê, Mnông, Jrai, Banar, Sê Đăng...dày cộp vừa được xuất bản, chắc chắn không bao giờ đến tay bà con các dân tộc Tây Nguyên, bởi giá bán quá cao và cũng không mấy ai biết chữ mà đọc. Tình trạng này vẫn là phổ biến ở tất cả các tỉnh. Cho dẫu các chương trình dạy song ngữ cho học sinh tiểu học vùng dân tộc, lẫn là một trong những tiêu chí để thi chuyên viên chính của cán bộ các tỉnh Tây Nguyên, vẫn được coi là triển khai sâu rộng.
Nêu lên một thực tế để chia buồn với nhau thôi. Còn cách giải quyết thì không có đâu.Nguyên nhân ư? như vừa trình bày đó: không đủ ngôn từ và không có ai đọc.
Điều mà chúng tôi thấy cần quan tâm và nên bàn bây giờ và cũng đã từng đề cập đến trong một số hội nghị của Hội VNDTTS, là làm sao để tác phẩm của tác giả dân tộc thiểu số, đến được với chính cộng đồng mình.Không chỉ là để nâng cao dân trí, mà còn vì sẽ có những sự đồng cảm đáng quý giữa những người đồng tộc, không chỉ qua phong tục tập quán,hình tượng văn học, mà còn cả văn phong nữa. Nhà thơ InRaSaRa có truyền đạt một kinh nghiệm, một cách làm rằng : mang sách về phát tại các plei Chăm, tặng cho các thày cô giáo người dân tộc...Chắc chắn là rất hiệu quả đấy. Nhưng mấy người có được khả năng kinh tế như anh ấy để tự bỏ tiền in sách và phát tặng ?( Vợ hoặc chồng không mắng cho đã là may). Còn việc tìm được nguồn tại trợ để in đã khó, chỉ được vài cuốn thay cho nhuận bút thì đủ để tặng ai ?
Vậy nên lại chỉ bằng cái cách mà tôi đã một lần cầu mong ở hội nghị Lý luận của Hội VHDTTS năm 2006 tại Hà Nội, rằng : Một là đừng để các nhà lý luận phê bình của chúng ta thiếu thông tin, các vị tác giả người dân tộc hãy chịu khó gửi những cuốn sách được in của mình cho họ ( phía Bắc có anh Lâm Tiến ở Thái Nguyên, Tây Nguyên có anh Phạm Quang Trung ở Lâm Đồng),tôi cũng hy vọng ở Đăk Lăk có thêm cha con nhà văn Hữu Chỉnh & Khôi Nguyên nữa, để các anh ấy giới thiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tạp chí  Văn nghệ Dân tộc miền núi của Hội Nhà Văn VN & của Hội VNDTTS nên ra thêm phụ trương để đăng tải nhiều hơn nữa tác phẩm của hội viên & tác giả người dân tộc, viết về đề tài dân tộc ( vì cả hai tạp chí đang được Nhà nước đặt hàng mua gửi đến các vùng dân tộc mà).May ra bằng cách ấy “ nó” đến được với bà con mình chăng?
Hai nữa là đề nghị Viện nghiên cứu văn hoá và Sở văn hoá các địa phương Tây Nguyên, đối với những trường ca, sử thi đã sưu tầm được, sau khi sang thành đĩa để bảo quản tư liệu, hãy trả lại những cuốn băng ghi âm ngay cho những vùng mà quý vị đã sưu tầm. Bà con sẽ bảo quản, gìn giữ và quý những tư liệu ấy không kém gì các quý vị đâu.
Ba là ngành văn hoá nên trích một khoản trong số kinh phí chính phủ hỗ trợ bảo tồn văn hoá miền núi, nhất là cho Tây Nguyên, in những trường ca, sử thi đã sưu tầm được thành những tập sách song ngữ mỏng ( cho giá thành rẻ) , phát hành rộng rãi trong các buôn làng Tây Nguyên.
Tin tôi đi, đấy không chỉ là những việc làm “ trả nghĩa’ với những giá trị văn hoá tinh thần quý báu mà chúng ta lâý đi từ các buôn làng ( đã có thời các nhà khoa học tranh cãi về việc có trả “ thù lao, nhuận bút” cho các tác phẩm sưu tầm của dân gian không? ) , mà còn chắc chắn là bảo tồn được văn học dân gian truyền miệng lẫn văn học dân tộc thiểu số hiện đại; Lại còn góp phần bảo tồn Di sản văn hoá phi vật thể thế giới là không gian văn hoá cồng chiêng và nâng cao được dân trí, tạo nên những tác giả người dân tộc trong tương lai nữa đấy. Có ngay một ví dụ cụ thể thế này : Những năm 90 của thế kỷ XX, khi đi sưu tầm trường ca, chúng tôi được nghe một nghệ nhân Êđê ở vùng Krông Bông ( Đak Lak ) hát khan Dam San rất hay. Khi được hỏi nguồn gốc câu chuyện nghe kể từ đâu, ông nâng niu lấy trên mái nhà tranh xuống một gói nhỏ bọc nhiều lớp túi nilon, đó chính là cuốn Trường ca Dam San xuất bản những năm 70 của thế kỷ XX, mà ba tôi - cố bác sỹ Y Ngông Niê Kdam- viết lời đề dẫn. “ Học từ sách này”, đó là câu trả lời khiến tôi vừa buồn vừa vui.Buồn vì không tìm được nguyên gốc,cho dù là dị bản đi nữa; vui vì sách in hai thứ tiếng, được bà con trân trọng gìn giữ thế này thì quý quá.
Như vậy không biết có đủ lý lẽ để thuyết phục các ngành có liên quan chưa nhỉ ? Lâu nay chúng ta cứ nghĩ việc phổ biến tác phẩm văn học là việc của các Hội VHNT,Hội Nhà Văn, nhưng thực ra cũng là việc của ngành Giáo dục và Văn hoá nữa đấy chứ.Hy vọng lời khẩn cầu của chúng tôi sẽ được cùng chia sẻ. Trân trọng cảm ơn.

Bình luận

Tin tức & sự kiện