Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

Tôi đã học được nhiều điều từ bác Y Ngông

Được cập nhật bởi Admin ngày 2009-12-14 13:37:59

            Tôi là kỹ sư nông nghiệp, từ năm 1977 làm việc ở văn phòng Uỷ ban nhân dân  tỉnh Đăk lăk,thường xuyên được chuẩn bị tài liệu, báo cáo cho bác Y Ngông Niê Kdam, lúc đó là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh. Tháng 6-1979, tôi đang tập hợp số liệu để viết báo cáo cho đ/c chủ tịch Y Ngông Niê Kdam trong kỳ họp Hội đồng Nhà nước sắp tới. Đang ngồi viết trong phòng làm việc thì liên lạc đến mời lên gặp chủ tịch gấp.Bác Y Ngông bảo tôi :

- Đồng chí đi ngay xuống gặp ông hiệu trưởng trường cấp III Buôn Ma Thuột lấy toàn bộ danh sách các em học sinh người dân tộc đang học lớp 12. Nhớ ghi rõ cụ thể họ tên, năm sinh, buôn, xã, huyện của từng em, rồi đưa hiệu trưởng ký xác nhận vào hồ sơ từng em một.

- Làm gì kỹ vậy ạ ?

- Để tuyển vào Đại học Tây Nguyên niên khoá tới ( 1979-1980), sẽ khai giảng tháng 8-1979.

            Tôi băn khoăn hỏi lại cho kỹ :

- Nếu các em học lực yếu , điểm trung bình dưới 5 thì có lập danh sách không ạ?

-          Lấy hết, miễn học hết lớp 12 và là người dân tộc thiểu số.

-          Nhưng chắc gì Bộ Đại học & Trung học chuyên nghiệp đã chịu ?

-          Ta cứ làm đã, rồi sẽ thuyết phục Bộ.

            Kết quả là niên học đó 85% các em trong số này được tuyển vào các khoa Y, Nông nghiệp, Lâm nghiệp của đại học Tây Nguyên. Còn 15% về buôn xây dựng gia đình, làm việc ở xã.

            Trong thời gian này,có một đoàn kiểm tra của Bộ Đại học &Trung học chuyên nghiệp vào Tây Nguyên, nói là kiểm tra nhưng thực chất là thăm trường Đại học Tây Nguyên, có gì thiếu thì báo Bộ trang bị luôn.Thấy trường có nhiều sinh viên người dân tộc ngồi học trên các giảng đường, ông trưởng đoàn hỏi hiệu trưởng :

- Các em người dân tộc đều có thi vào & đủ điểm chuẩn cả chứ ?

            Đồng chí hiệu trưởng thật thà trả lời :
- Các sinh viên dân tộc có làm bài kiểm tra theo chương trình lớp 12,  ít em đạt điểm chuẩn. Nhưng chỉ thị của thường vụ tỉnh uỷ Đak Lăk là phải cho các em vào học ở các khoa này.

            Ngày hôm sau, Uỷ ban nhân dân tỉnh tiếp Bộ trưởng, gồm có bác Y Ngông chủ tịch, bác Phan Tấn Trình, bác AMa Thương ( Siu Pui) là hai phó chủ tịch. Còn có cả bác Trần Kiên, bí thư tỉnh uỷ  cũng cùng dự. Bộ trưởng chất vấn :

- Vấn đề con em các dân tộc vào Đại học Tây Nguyên  trình độ văn hoá yếu, không bằng sinh viên người Kinh. Sau này tốt nghiệp, Bộ phân công công tác thì tỉnh nào nhận ?

            Bác Y Ngông nhìn qua bác Trần Kiên, mắt sáng lên rồi nở nụ cười rất tươi nói với Bộ trưởng :

- Sau này các em tốt nghiệp,chúng tôi xin Bộ trưởng không đưa về Hà Nội, về Bộ làm gì, cứ để lại cho Đak Lak, Tây Nguyên bố trí công tác.Vì các em chắc có yếu một số môn cơ bản, nhưng thực tế đối với khí hậu, con người, đất đai, tài nguyên, tiếng địa phương , lòng hiếu học, cần mẫn , là thứ rất cần cho nhân dân các dân tộc . Họ sẽ rất tự hào khi có con em mình là bác sỹ, kỹ sư...Đưa các em về các buôn,trạm xá,nông trường, lâm trường thì chắc chắn sẽ phát huy được tác dụng.

            Thực tế sau này cho thấy đa số các em sinh viên năm ấy, có người đã trở thành chủ tịch, phó chủ tịch huyện, nhiều người làm giám đốc, hoặc lãnh đạo có hiệu quả các nông, lâm trường ở vùng sâu, vùng xa. Bà con người dân tộc rất tin cậy, quý mến. Quả thực họ thích nghi với khí hậu, môi trường thổ nhưỡng, ít đau ốm , làm việc cho bà con mình, nên công tác rất tốt.

            Qua việc này có thể thấy rõ bác Y Ngông rất có tầm nhìn chiến lược về sự phát triển của con người, vì lợi ích của đồng bào các dân tộc. Chắc chắn trước đây, khi nhận nhiệm vụ làm hiệu trưởng trường học sinh dân tộc miền Nam ở Mễ Trì, rồi ở Quế Lâm, bác Y Ngông đã được Bác Hồ dặn dò. Và với tấm lòng của mình đối với sự nghiệp “ trồng người”, nên bác có nhiều kinh nghiệm, sự sáng tạo đáng quý.

             Năm 1980. Thời kỳ đầu mới giải phóng, vẫn còn theo cơ chế của nền kinh tế bao cấp.Mỗi cán bộ công nhân viên chức chỉ được cấp phiếu gạo từ 9-12kg, nhưng vẫn phải ăn độn tới  40%.Tuy vậy cái đói vẫn rình rập khắp nơi, ngay cả với đối tượng cán bộ trong các cơ quan . Thưòng vụ tỉnh uỷ Đăk lăk chủ trương tất cả phải tự túc lương thực, để giải quyết một phần khó khăn cho nhà nước.Một năm chỉ được cấp lương thực có 11 tháng, còn 1 tháng phải tự túc, nên cho phép chiều thứ 7 cán bộ được nghỉ để đi sản xuất.Các cặp vợ chồng trẻ gửi con cho ông bà nội, ngoại, cuối tuần đạp xe đạp mang theo cuốc, vét đi sản xuất lương thực.

            Lúc ấy, thực hiện chủ trương tự túc lương thực, tỉnh đã cho khai hoang cánh đồng Buôn Trấp.Nơi này là một vùng cỏ năn rộng tới hơn 10.000ha, đã thực hiện khai hoang chừng hơn 4.000ha.Ngoài việc giao cho Nông trường Tháng 10 sản xuất 500 ha, số còn lại chia cho mỗi cơ quan, ban ngành, tuỳ theo số lượng cán bộ nhân viên hoặc số nhân khẩu ăn theo của gia đình, để cấy lúa nước. Bác và tôi đi Buôn Trấp ( lúc này huyện Krông Ana chưa được thành lập). Xe chạy tới cách ruộng khoảng 1km thì phải dừng, đi bộ.Y Khiêng ( lái xe) và tôi vác cuốc, rựa đủ cho 3 người làm. Ruộng nước đầy nên mọi người cởi quần dài, bận quần đùi xuống ruộng. Bác Y Ngông để nguyên quần áo,chỉ xắn lên mấy lớp rồi tất cả hăng hái dàn hàng ngang vung cuốc. Cuốc chừng 2 tiếng thì nhìn lên thấy có một đoàn khoảng 15, 16 người tiến tới.Đến gần chúng tôi họ vỗ tay cười nói vui vẻ,chúng tôi cũng vỗ tay chào đón, trò chuyện vui vẻ. Họ hết lòng khen ngợi chủ tịch tỉnh mà hăng hái lao động tự túc, làm gương cho cán bộ. Hỏi mọi người đi đâu, một anh nói :

- Chúng tôi ở một số cơ quan tỉnh, hôm nay thứ 7 rủ nhau đi nhận đất, để ngày mai đưa quân đến chốt 15 ngày, tập trung sản xuất .

            Tôi lấy bản đồ đất đai ra xem, chỉ cho họ các lô đã được cắm thẻ sẵn. Cơ quan nào muốn nhận thêm cũng được. Mọi người chào nhau rồi đi ngay. Sau 1 tiếng đồng hồ đã làm xong việc phân và nhận lô, họ kéo nhau ra về, vẫy mũ nón chào bác cháu chúng tôi.Chúng tôi làm một mạch tới trưa, ăn cơm ngay tại ruộng, rồi làm tiếp đến 16h30 mới ra về.Còn chừng 1 sào, tuần sau tôi và chú Khiêng lái xe, cùng với anh Bính bảo vệ đi cuốc tiếp. Đến ngày nhận mạ, bác cũng cùng đi cấy với chúng tôi.Chúng tôi vừa làm vừa trêu chọc Bính về việc đi tìm các cô đồng hương ở Sư đoàn 470.Bính đỏ mặt chối lấy chối để.Tiếng cười vui vẻ của mấy bác cháu tôi vang khắp cánh đồng, quên cả nhọc mệt. Quả thật là bác Y Ngông rất dí dỏm, biết cách đùa vui cho mọi người quên cái nắng và sự mệt mỏi. Sau này còn nhiều lần tương tự như thế, chính bác lại là người động viên chúng tôi.

            Sau đó 2 tháng, bác đi họp Quốc hội, viết thư về dặn chúng tôi nhớ chăm sóc lúa, làm cỏ, bỏ phân. Vụ lúa đó được mùa, chúng tôi thu về được 1Tấn lúa. Phơi khô, quạt sạch, chia mỗi gia đình được 2 tạ thóc, xay ra được 1,3 tạ gạo.Đủ tự túc phần lương thực còn thiếu.

            Bác không chỉ là một trí thức, một bác sỹ, mà còn là vị chủ tịch tỉnh, mà đã trở thành tấm gương hăng hái sản xuất, tự túc lương thực trong hoàn cảnh đất nước sau chiến tranh còn khó khăn.Chính bác Y Ngông đi đầu làm gương như thế, nên nhân dân cũng như cán bộ,trí thức, bộ đội, sinh viên trong toàn tỉnh , nô nức tham gia sản xuất, tự túc lương thực.Sau này ai có điều kiện thì kiếm thêm mấy sào đất đầu tư trồng cà phê . Đak Lăk vượt qua được giai đoạn khó khăn nhất về lương thực là thế. Cánh đồng Buôn Trấp, sau này được nhân dân huyện Lăk tiếp tục khai thác, thành ruộng lúa nước mênh mông, có năng suất tới 6,7 T/ha, trở thành vựa lúa lớn của cả tỉnh.         

       Có một lần anh Tài ( công vụ ) đến phòng, mời tôi lên gặp chủ tịch tỉnh.Cửa phòng bác không bao giờ đóng trong lúc đang làm việc hoặc tiếp cấp dưới đến báo cáo công việc.Bác hỏi tôi :

- Anh có biết nhà cụ Y Bih ALeo không ?

- Thưa ,cháu mới biết nhà cụ Y Wang thôi ạ.

- Đúng rồi đấy! Nhà cụ Y Bih cũng ở trên đường Hùng Vương, cách cụ Y Wang hai nhà.Anh tới đó coi nội thất trong gia đình cụ thế nào rồi về báo cho tôi biết nhé.

            Tôi đến nhà, thấy cụ Y Bih đang ngồi đan gùi trên chiếc chiếu trải giữa sàn .Cụ hỏi tôi đến có việc gì ?

- Thưa cụ, cháu ở văn phòng Uỷ ban , bác Y Ngông cho cháu đến hỏi thăm sức khoẻ và xem cụ có cần giúp đỡ gì không ạ?

- Ồ, ông có lương hưu, đủ sống rồi.

            Tôi xuống bếp, sang phòng ngủ, chỉ thấy có chiếc giường một đã cũ, một chiếc xắc du lịch đựng đồ đạc ít ỏi để trên một chiếc ghế cũng đã cũ.Tôi chào cụ ra về, đến ngay phòng báo cáo lại với chủ tịch những gì đã nhìn thấy.Bác bảo tôi :

- Anh làm giấy đề xuất một chiếc giường đôi, một tủ đứng, một bộ bàn 6 ghế, bảo văn phòng cấp ngay không chậm trễ cho cụ trong tháng này.Cụ Y Bih nguyên là P.Chủ tịch ủy ban mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt nam, cụ nghỉ hưu tại Đăk Lăk, trách nhiệm tỉnh phải lo cho đời sống của cụ. Anh đi làm đi rồi báo cho tôi kết quả thực hiện.

            Tôi xuống nói với anh Trần Chương (chánh văn phòng), anh Diên (phòng hành chính) ý kiến của bác. Sau đó một tuần, có xe chở những thứ nói trên đến nhà cụ Y Bih ALeo.

            Bác Y Ngông còn rất chú ý đến các học sinh người dân tộc đang theo học ở các trường đại học, trung học. Một lần chúng tôi đi công tác ở àHà Nội, bác bảo ghé thăm các cháu đang học văn hoá. Chúng tôi vào buổi trưa, đang giờ nghỉ.Các cháu chạy ào ra tíu tít vui đón, thật là thân tình như ông cháu, cha con gặp nhau.Bác và các cháu trao đổi với nhau bằng tiếng dân tộc. Y Khiêng dịch lại cho tôi biết : bác nói ra họp nên tranh thủ đến thăm các cháu. bác hỏi các cháu ăn có no không? Các cháu nói ăn đói và xin tiền. Trước khi ra về, bác lấy hết số tiền có trong túi đưa cho các cháu, dặn phải chia nhau.Các cháu ríu rít hứa sẽ chia đều cho nhau.Xe chạy, các cháu cứ đứng vẫy tay nhìn theo mãi.Năm bác Y Ngông mất, nhiều cháu nguyên là học sinh ngày ấy đến viếng rất đông.Cháu nào cũng khóc, bày tỏ nỗi thương tiếc lớn lao đối với bác.                                                               

            Năm 1981, TW mở lớp bồi dưỡng kinh tế chính trị cho cán bộ cao cấp, hàm thứ trưởng, bộ trưởng, chủ tịch và bí thư các tỉnh từ Quảng Trị trở vào.Học tại trường hành chính II, thành phố HCM.Giảng viên đều là các tiến sỹ nước Đức, Nga, Nhật, Ý...Tôi cũng được bác Y Ngông ( lúc ấy là bí thư tỉnh uỷ) cho đi theo học dự thính.Đến lớp, bác và bác AMa Pui ( chủ tịch UBND tỉnh ) ngồi hai bên, tôi ngồi giữa.Bác cháu tôi học miệt mài trong 6 tháng, bài vở cực kỳ khó, nhất là toán học cao cấp, học để áp dụng giải các luận chứng kinh tế.Bác Y Ngông ghi được ý bài giảng, còn dặn tôi ghi kỹ, nắm thật kỹ, sau này về truyền đạt lại cho anh em cán bộ ở nhà.Tuy đã học qua toán cao cấp trong chương trình đại học kinh tế nông nghiệp, nhưng tôi cũng thấy đuối,vì họ giảng tiếng nước ngoài, qua phiên dịch là cấp tiến sỹ, nhưng cũng không dễ gì tiếp thu, nữa là các bác lãnh đạo đã cao tuổi.Ai nấy cũng đành phải cố mà học.

            Cuối kỳ , đề thi là “ Đồng chí hiểu biết được gì sau 6 tháng học tập chương trình kinh tế chính trị học ? Đồng chí sẽ áp dụng vào địa phương như thế nào ?”.Bài của bác Y Ngông làm là : Vận động nhân dân toàn tỉnh và các nông lâm trường , xí nghiệp trồng cà phê, nhà nhà trồng cà phê.Vì một kg cà phê  nhân đổi được 12 ký gạo. Với 650.000 ha đất đỏ, để một nửa trồng cà phê, một nửa trồng cao su và làm nhà ở. 300.000 ha sẽ có mỗi năm 600.000 Tấn cà nhân. Bài của bác được 10 điểm. Đến kỳ họp Quốc hội  năm 1982, bác đề xuất cho dân được trồng cà phê ( lúc bấy giờ chỉ nông trường quốc doanh, HTX nông nghiệp mới được có đất trồng cà phê ).Mãi đến năm 1989, bước sang thòi kỳ đổi mới, nhân dân các dân tộc Đak Lak mới được trồng cà phê tư nhân.Đưa số diện tích 12.000 ha cà phê của các đồn điền mà ta tiếp quản lên đến con số 150.000 ha toàn tỉnh. Đời sống bà con các dân tộc không ngừng được đổi thay.                                                            

            Năm 1979. Bọn Pôn Pôt Iêng Xa Ri thường xuyên đánh biên giới giữa Đăk Lăk và tỉnh Munđunkiri ( Căm puchia). Một ngày, Bộ chỉ huy quân sự Đak Nông báo cáo : giặc đánh vào xã Quảng Trực, giết chết nhiều dân thường, phá huỷ và đốt sạch nhà cửa ,đồ đạc của dân, đánh cả vào đồn 8 bộ đội biên phòng.Đồn đánh trả quyết liệt, buộc chúng phải rút chạy về bên kia biên giới.

            Sáng ngày hôm sau, bác Y Ngông cùng chúng tôi lên biên giới thăm dân và bộ đội biên phòng, nắm lại tình hình. Lên đến Quảng Trực thấy quang cảnh thật điêu tàn.Không có người, chỉ còn khói lửa và mùi thuốc súng đêm qua vương lại khét lẹt.Chúng tôi quanh quẩn một lúc rồi lên xe, đi được chừng 10km thì gặp hai ông cháu người Mnông còn sống sót.Ông cụ chừng hơn 70 tuổi, cháu bé khoảng 6 tuổi. Bác bảo xe dừng lại, xuống vừa nói chuyện với ông cụ, vừa xoa đầu nắn chân tay cháu bé. Cha mẹ, anh chị em cháu đều đã bị giặc giết hại đêm qua. Bác mời ông cụ lên xe , bồng cháu theo. Lúc về đến Uỷ ban nhân dân huyện Đăk Nông, bác cho hai ông cháu vào điều trị ở bệnh viện huyện và dặn đồng chí Năm Tuỳ , bí thư huyện uỷ,đồng chí giám đốc bệnh viện chăm sóc chu đáo, hàng tuần báo cho bác biết tình hình.Tấm lòng bác đối với dân nơi biên giới , ngày đêm giáp mặt với sự tàn ác của địch, thật chân tình và ấm áp.

            Sáng hôm sau chúng tôi đến đồn 8.Đồng chỉ đại uý đồn trưởng tiếp bác, báo cáo lại tình hình địch lén lút tấn công .Ta và địch đã đánh nhau dữ dội, diệt nhiều tên, thu một số vũ khí. Phía ta cũng có tổn thất về người.Nhà ở của bộ đội bị cháy rụi, các giao thông hào, công sự đều còn loang lổ, đào xới bởi pháo cối và đạn M79 của giặc.

            Bác Y Ngông ân cần khen ngợi bộ đội, bày tỏ sự quan tâm và khâm phục đối với lòng dũng cảm bảo vệ Tổ quốc của chiến sỹ. Các đồng chí chỉ huy lắng nghe và hứa với bác sẽ quyết tâm bảo vệ chốt biên giới đến giọt máu cuối cùng. Trong khi đó bộ đội vẫn đứng dưới công sự , sẵn sàng chiến đấu , ăn ở luôn dưới giao thông hào.Trên đường về bác cứ trầm ngâm mãi. Có lẽ không chỉ thương bộ đội  vất vả mà còn nhiều điều trăn trở suy nghĩ trong tâm trí bác.Chúng tôi đã nhiều lần đi dọc tuyến biên giới Đak Lak – Căm pu chia thăm và uỷ lạo bộ đội.

                                                            *

            Một lần khoảng năm 1979,đi khảo sát ở huyện Krông Pak để chuẩn bị thành lập Liên hiệp cà phê Việt - Đức.Hồi ấy Phulrô đang hoạt động mạnh. Chúng tôi  đi có 4 người, mang theo một súng AK và một khẩu súng lục.Vùng Krông Pak toàn đất đỏ bazan, rất thuận lợi cho việc phát triển cây cà phê. Hồi trước người Pháp mở rất nhiều đồn điền ở đây, như đồn điền Ca Đa...11h trưa, bác bảo anh Y Khiêng lái xe rẽ vào buôn Ea Nhái, cách thành phố Buôn Ma Thuột chừng 22 km.Nhà người bà con của bác nằm giữa buôn, thấy xe con chạy vào mọi người có vẻ nháo nhác lo ngại ( hồi đó làm gì có nhiều xe vào buôn). Đến lúc thấy bác Y Ngông tươi cười bước xuống xe, trong nhà rộ lên tiếng nói cười vui mừng. Mọi người chạy ra cửa , xuống sân, mừng rỡ đón bác.Chỉ lát sau căn nhà sàn khá dài ( có tới bốn bếp lửa) đã đông chật người. Nét mặt ai cũng hớn hở.Tiếng Êđê ríu rít.Tôi chỉ nghe được câu “ Y Ngông, Y Ngông wit buôn” ( Y Ngông về buôn ).Bác bảo tôi lấy 5 bao thuốc Điện Biên mời bà con hút. Tôi cứ tiếc mãi, giá biết trước còn thời gian để ghé thăm bà con của bác thế này, mua ít kẹo bánh cho các cháu có phải bây giờ vui không.Trò chuyện rất lâu.Nghe Y Khiêng nói bà con hỏi thăm gia đình bác có mấy con? Đã đưa ở Hà nội vào chưa ? Sao chưa thấy đưa về thăm buôn?Bà con còn hỏi nhiều chuyện, bác cũng nói rất nhiều, ai nấy đều vui vẻ.Cuối cũng mọi người cũng ra về, chúng tôi ở lại cùng ăn cơm với gia đình chủ nhà.

            Tất cả ngồi quanh bếp lửa. Tôi ngồi cạnh bác, ở giữa lại có con chó vàng chẫu hẫu chờ cho ăn. Tôi định xua chó đi thì bác bấm chân ra hiệu đừng.Mâm cơm dọn ra có món thịt gà không hiểu nấu canh hay xào nhưng hơi nhạt muối và không có gia vị gì.Món cà đắng giã muối ớt và lá rau thơm.Còn có một tô mắm lấy trong ống nứa ra.Mọi người vừa ăn vừa trò chuyện bằng tiếng Êđê. Bính và tôi đều không ăn được, chỉ và cơm với muối cho xong bữa.Bác với Y Khiêng tỏ ra ăn rất ngon miệng.Sau này trên xe, bác mới nói : “ Mấy chục năm hết Pháp đến Mỹ- nguỵ cai trị, bà con mình nghèo khổ quá, thiếu ăn,thiếu mặc, đến cả thiếu muối thường xuyên, mắm là món chỉ đem ra mời khách quý. Sau này thành lập nông trường, anh Tường nhớ nhắc đưa tất cả buôn vào làm công nhân ”.

            Tôi rất tâm đắc với chủ trương này. Trong những năm 79-81 các nông trường Việt - Đức,Phước An ...thành lập,vấn đề này được đưa ra bàn. Có ý kiến không nhất trí, cho rằng gia đình người dân tộc đông tới 8,9 con, toàn lao động phụ, 2 người làm sao nuôi nổi 9 miệng ăn?Bác thuyết phục : “ Lấy đất sản xuất, bán cà phê nuôi người.Sau này trẻ con lớn lên làm công nhân thay cha mẹ đã già yếu ”.Mọi người miễn cưỡng chấp nhận. Sau này những buôn là công nhân các nông, lâm trường không theo Phulrô, không có ai nghe lời kẻ xấu, đời sống ngày càng cao, có ti vi, xe máy, không còn thiếu ăn triền miên ...tôi càng thấm thía tấm lòng yêu thương đồng bào dân tộc và sự chỉ đạo nhìn xa trông rộng rất thiết thực của bác.

            Năm 1980. Được tin một số thanh niên buôn Dhah Prong đêm qua ra rừng theo bọn Phulro, bác gọi lái xe, hai anh bảo vệ Đức, Bính và tôi đi ngay đến buôn. Bà con cho biết đêm qua có người về, nói đi làm cách mạng để được sung sướng như những cán bộ cách mạng trước đây và đưa mọi người đi ra rừng tập trung.

            Nghe báo cáo của công an & cơ sở xong, bác vào một số gia đình, gặp gỡ các cụ già trong buôn, bà con kéo đến rất đông. Cuộc trao đổi bằng tiếng Êđê diễn ra rất lâu và có vẻ khá căng thẳng. Y Khiêng bảo bác giải thích và thuyết phục bà con kêu gọi con em mình trở về.Tôi không biết tiếng, nhưng có cảm tưởng cuối cùng mọi người cũng đạt được thoả thuận.Không khí nhẹ nhàng hẳn lại.

            Chúng tôi về, nhưng lại ghé thăm một gia đình khác ở cách Buôn Ma Thuột chừng 38 km.Ông chủ rất vui mừng đón bác lên nhà, trải chiếu, mời nước uống. Hai bên trò chuyện bằng tiếng Êđê , có lẽ bác nói lại câu chuyện ở buôn Dhah Prong, nên gương mặt bác buồn buồn.Trưa đó chúng tôi ở lại ăn cơm tại gia đình ấy.Trong lúc chúng tôi nói chuyện, bà chủ nhà dọn xôi và thịt gà mời chúng tôi dùng bữa.Nhiều năm tháng sau này đi cùng bác Y Ngông tôi mới biết cách làm gà của người Êđê, không phải dùng nước sôi nhúng rồi nhổ lông như người Kinh thường làm, mà vừa nướng trên ngọn lửa vừa nhổ lông cho đến lúc mỡ gà chảy xuống, lửa bốc cháy xèo xèo.Hôm ấy bác & Y Khiêng ăn ngon lành.

            Tới lúc xe chạy, bà chủ nhà mang biếu bác 2 nải chuối xanh, nói gửi làm quà cho các cháu. Bác Y Ngông rút tiền biếu bà rồi lên xe.Ở trên xe bác kể cho chúng tôi nghe : trước lúc ăn, ông chủ nhà đã cúng cho chú của bác, tức là cha của ông chủ. Ngày trước bác đi học ở Buôn Ma Thuột, thường ghé về đây ăn cơm,ông chú rất thương quý. Bác đi cách mạng suốt từ năm 1946 bây giờ mới về, ông chú chết không được gặp mặt. Bây giờ làm lễ cúng báo cho chú là Y Ngông đã trở về.

            Chúng tôi còn đi sang một buôn khác . Ở đó có một đồng chí chủ tịch xã người Êđê ( AMa Thoan) , đảng viên, đã có vợ và hai con gái, nhưng lại cặp bồ với một cô giáo dạy cấp I .Vợ viết đơn kiện lên chủ tịch tỉnh.Căn nhà sàn của Ama Thoan rất dài, hai hàng cột to bóng lộn chạy song song trong lòng nhà. Ngồi một lúc sau có rất đông người kéo đến.Họ không chỉ là bà con trong dòng họ, mà cả dân buôn đến chào hỏi bác, chắc cũng có ý chờ xem bác xử vụ ngoại tình của Ama Thoan thế nào.Trong số này có cả cô giáo Nguyễn Thị Nga, là người có quan hệ bất chính với chủ tịch xã.

            Bác Y Ngông nói trước, Y Khiêng ngồi bên dịch cho tôi nghe : “ Hôm nay bác đến buôn, vừa thăm bà con và cũng để giải quyết việc kiện của vợ AMa Thoan, hàn gắn hạnh phúc gia đình, kẻo không chỉ tội nghiệp cho vợ và hai con, mà còn vi phạm luật hôn nhân của nhà nước cách mạng lẫn luật tục của dân tộc ta”.Mọi người vỗ tay rất to.Bác cho bà vợ nói trước . Vợ Ama Thoan nói : “ mọi người thấy họ đưa nhau ra rẫy nhiều đêm rồi. Mỗi đêm vắng nhà, vợ hỏi thì trả lời đi họp phải ở lại trực cơ quan. Người ta nói nhiều quá, gia đình và vợ nghi, rình bắt được quả tang tại chòi giữ lúa”.

            Bác lại cho phép Ama Thoan nói .Ông này nhận có việc đó xảy ra, nhưng hôm ấy là hai người nói chuyện chia tay, vì Ama Thoan đã biết sai, định về lại với vợ con. Bây giờ xin nhận lỗi với bác Y Ngông, gia đình và vợ con.Bác lại hỏi ý kiến già làng, gia đình và vợ Ama Thoan lần nữa. Ai cũng nói Ama Thoan làm lãnh đạo mà nêu gương xấu. Cô Nga cũng vậy, làm việc xấu thế thì làm cô giáo thế nào ? Vợ thì đòi ly dị, đuổi Ama Thoan về nhà bố mẹ đẻ.Bác phân tích rằng : AMa Thoan biết lỗi rồi, già làng, gia đình vợ nên thương các cháu và con rể mà thông cảm, tha thứ  . Nếu sau này Ama Thoan còn mắc lại chuyện này, nhà nước sẽ kỷ luật nặng và đồng ý cho vợ ly dị. Mọi người lại vỗ tay rất to.Ama Thoan đứng dậy đi đến gần vợ, bồng lấy đứa con gái nhỏ.Vợ cũng không tỏ thái độ phản đối. Vậy là xong.Không biết già làng nói lúc nào, mà chỉ loáng cái đã thấy các  thanh niên trong buôn mang tới 7 ché rượu, các nghệ nhân đã kê chiêng lên đùi chuẩn bị đánh.Rượu chế nước, cắm cần  xong, già làng mời bác uống ché đầu tiên, to nhất trước. Già làng ché thứ hai, mẹ vợ Ama Thoan ché thứ ba, mời tôi ché thứ tư.Sau đó là buôn trưởng và những người khác.Rượu cần nồng, tiếng cười nói râm ran. Dàn chiêng tấu lên rộn rã. Không khí căng thẳng của một

“ phiên toà” biến thành lễ đón khách quý về thăm buôn.Tôi nghĩ ít ai làm được như thế.Trong suốt quá trình ấy có rất nhiều người đến cùng uống rưọu. Bác Y Ngông nói chuyện rất nhiều. Lúc bác nói ai cũng ngồi im lắng nghe, rồi vỗ tay, rồi lại hỏi, bác  trả lời  từng người một.Không khí thật chan hoà,thân mật và  vui vẻ.       

            Tôi còn cảm nhận được tình cảm gắn bó sâu sắc của bác đối với đời sống buôn làng ( dù đi xa đã nhiều năm), cũng như sự yêu mến, kính trọng của bà con trong mọi buôn làng đối với bác.Không có khoảng cách giữa một người trí thức, đã từng giữ những chức vụ rất cao trong Nhà nước và địa phương, đối với bà con người dân tộc chân chất, nghèo khổ trong các buôn làng thiểu số.

            Trong nhiều năm theo bác Y Ngông, tôi học được không chỉ cách ứng xử ở mọi chốn, mọi đối tượng giao tiếp, mà còn cả tấm lòng sâu nặng đối với cội nguồn của mình.Sau này không còn làm thư ký cho bác, được phân công làm giám đốc một nông trường có nhiều buôn dân tộc ở huyện Krông Ana, tôi cũng áp dụng nhiều điều đã học ở bác Y Ngông vào hoạt động chỉ đạo của mình.

 

 

 

Cố KS Phùng Xuân Tường

 

 

Bình luận

Tin tức & sự kiện