Linh Nga Nie kdam

Linh nga niek dam

Vạch mặt kẻ trắng trợn đạo công trình khoa học

Được cập nhật bởi Admin ngày 2009-07-14 12:12:02


Bản nhạc đạo trong tập nhạc của Đào Huy Quyền

 

Tháng 6-2009, Tiến sỹ Tuyết Nhung Buôn Krông (Trường Đại học Tây Nguyên) được một người quen tặng cuốn sách có tựa đề “ Vai trò của già làng trong đời sống xã hội ở huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông”. Do Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm 2008. Thấy giống cuốn sách của tôi, chị cho tôi mượn bản foto.

Cuốn sách xuất bản dưới dạng “ Tài liệu tuyên truyền”, do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Đăk Nông đứng tên, người biên soạn Đào Huy Quyền Trong Lời nói đầu của Phó Chủ tịch UBMTTQ tỉnh Đăk Nông Nguyễn Tấn Tới - chắc chắn do Đào Huy Quyền chấp bút – để biện minh, có ghi : “ là một bản báo cáo của đề tài nghiên cứu cấp khoa học cấp tỉnh, do Sở KH&CN tỉnh Đăk Nông quản lý và UBND huyện Krông Nô là cơ quan chủ trì. Đề tài do đồng chí Y Thịnh Bon Jook Ju làm chủ nhiệm & nhóm tác giả Linh Nga Niê Kdam, Y Long Si Jur, Lê Duy Cường …. Thực hiện từ năm 2003”

Lấy lý do đề tài nghiệm thu từ năm 2003, nên UBND & MTTQ tỉnh Đăk Nông đã mời Nhạc sỹ - Thạc sỹ Đào Huy Quyền, Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ, viết lại cho phù hợp. Trên cơ sở báo cáo của đề tài năm 2003, tác giả đã bổ sung những số liệu mới…thành một "tài liệu tuyên truyền thiết thực để phổ cập đến tận cơ sở ” .cả MTTQ lẫn họ Đào không hề thông báo hoặc xin phép tác giả. Điều mà bất cứ người làm khoa học chân chính nào cũng biết.

Đã làm đề tài khoa học, ai cũng biết, đối với một địa phương đặt hàng , bao giờ người đứng tên chủ nhiệm công trình cũng phải là một cán bộ có trách nhiệm cao, để phù hợp với nguyên tắc thanh toán theo quy định của ngành tài chính.Còn người chấp bút phải là một trong những cán bộ nghiên cứu khác, cùng các cộng tác viên.

Đề tài “ Già làng ở huyện Krông Nô” cũng vậy. Ông Y Thinh Bon Jook Ju, lúc đó là Chủ tịch UBND huyện Krông Nô, lại là người dân tộc Mnông, nên đứng tên chủ nhiệm đề tài. Ban đầu, huyện Krông Nô hợp đồng với nhà nghiên cứu Tô Đông Hải thực hiện đề tài này . Ông Tô Đông Hải đột tử.Toàn bộ hồ sơ điền dã của ông cũng biến mất một cách bí ẩn.Với mối quen biết lâu năm, tin cậy, ông Y Thịnh Bon Jook Ju đã mời tôi : Linh Nga Niê Kdam tiếp tục thực hiện đề tài. Trên thực tế là nghiên cứu lại hoàn toàn từ đầu. Bởi sự bàn giao của Phòng VHTT huyện cho tôi, chỉ là 20 phiếu điều tra ở một xã & gần 20 chiếc ảnh chụp các già làng. Với sự giúp đỡ nhiệt tình và đầy trách nhiệm của ông Y Thịnh và các cán bộ phòng VHTT huyện Krông Nô, tôi đã khảo sát tiếp 6 xã nữa và hoàn toàn độc lập để hoàn thành đề tài,Sở KH&CN Đăk Nông nghiệm thu năm 2003.

Những năm tiếp theo, tôi tiếp tục khảo sát, mở rộng đề tài tại các tỉnh Tây Nguyên và hoàn thành cuốn sách “ Già làng Tây Nguyên” Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc nộp lưu chiểu tháng 12-2007.Sách đã được phát hành trên toàn quốc.Vậy Đào Huy Quyền đã “ viết lại Già làng Krông Nô” … như thế nào ? Ngoài một vài con số thống kê, thay đổi một vài chữ, ông này đã “ bệ” nguyên si báo cáo của tôi để gọi là biên soạn & viết lại. Thậm chí, vì không hiểu biết cụ thể về con người và vùng đất, về dân tộc học, nên có chi tiết còn sai hẳn. Nếu làm “ tài liệu tuyên truyền "cũng không chính xác.Xin được dẫn chứng :

Về cộng đồng người Mnông Nguyên bản trong Già làng Tây Nguyên : “ Xa xưa, quyền lực trong các bon, các gia đình đều thuộc về những người phụ nữ ( u ranh bon – bà chủ làng, u ranh jay – bà chủ nhà ), sau này mới chuyển dần sang cho những người đàn ông ( kruanh bon)…dưới mỗi mái nhà dài thường có ba bốn, thậm chí là sáu, bảy cặp vợ chồng, nghĩa là bốn – năm thế hệ cùng chung sống”Trang 43, 44 của “ Tài liệu tuyên truyền” viết  “ Trong xã hội cổ truyền theo chế độ mẫu hệ, quyền lực thuộc về những người phụ nữ ( u ranh bon – bà chủ làng, U ranh jay- bà chủ nhà). Sau này khi xã hội chuyển dần sang chế độ phụ quyền, những người đàn ông mới làm chủ bon. Người Mnông thường hay cất những ngôi nhà dài, thường có ba, bốn, thậm chí là sáu, bảy cặp vợ chồng, nghĩa là hai, ba thế hệ cùng chung sống trong ngôi nhà này ” .Chưa cần nói đến việc thêm bớt câu chữ, chỉ nguyên việc do không đi điền dã, nên ông ta không hề biết chúng tôi đã chứng kiến ở Quảng Tín & Đăk Tik của Đăk Nông  vẫn có gia đình tới bốn, năm thế hệ cùng chung sống trong một nhà.Do đó mà dám tự sửa lại chỉ có hai, ba thế hệ.

Hoặc về dòng họ : Nguyên bản trong Già làng TN “ Làng Mnông bao gồm nhiều dòng họ ( mpol), nhưng lại không có họ ”. Trong tài liệu của ông Quyền, ở trang 44 lại viết “ làng Mnông bao gồm nhiều dòng họ ( mpol), nhưng thực tế hiện nay lại không mang họ”Điều này là hoàn toàn sai. Khi kê khai hộ khẩu, chính quyền Ngô Đình Diệm thấy người Mnông hay cắm lông chim trên khăn vấn, nên đã đặt cho bà con nhiều vùng họ Điểu ( Điểu Kâo, Điểu Glung…). Một số theo cách gọi của người K’Ho : K’ Ngân, K’ Hoàng… Một số khác lấy theo tên bon ( H’Giang Snar, Y Long Si Nur …do không hiểu điều này nên viết sai cả họ của CTV Y Long là Si Jur ). Nhóm Mnông Gar thì có họ ( như báo cáo đã liệt kê ). Sao lại có thể “ thực tế hiện nay không có họ” được?

Về nghề thủ công : Trong sách Già làng của tôi : “ Người Mnông có một số nghề thủ công phục vụ nhu cầu lối sống tự cung tự cấp, tuy không đa dạng nhưng đều khắp trong mọi cộng đồng, có nghề còn đạt trình độ cao, như dệt thổ cẩm với các dạng hoa văn tinh xảo trên váy áo, khố, tấm đắp; các nghề đan lát mây tre , làm nong nia, gùi, thúng…”Ở trang 47 của tài liệu tuyên truyền , ông Quyền sửa lại một cách lúng túng, thiếu hiểu biết về sử dụng thuật ngữ khoa học “ Người Mnông ở Krông Nô có một số nghề thủ công truyền thống, như nghề dệt thổ cẩm, đan lát. Với cách tạo hoa văn tinh xảo trên váy áo, khố, tấm đắp…đã thể hiện văn hóa trang trí Mnông thật độc đáo và rất giàu bản sắc. Riêng nghề đan lát bằng mây tre như gùi, nong, nia…cũng được phát triển” ( rất tiếc, chưa bao giờ thấy trong những tài liệu nghiên cứu về văn hóa truyền thống Tây Nguyên, các nhà khoa học sử dụng cụm từ “ văn hóa trang trí”. Hoa văn trên vải, trên gùi và các hình vẽ, trang trí trên cây nêu, thường được xếp vào nghệ thuật tạo hình. )

Về người Êđê : Trong Già làng của tôi : “ Mỗi buôn Êđê là một điểm quần cư của vài chục họ, có khi tới hàng trăm nóc nhà sàn dài , với quy mô của đại gia đình mẫu hệ. Do không có tập quán du cư, nên vật liệu dựng nhà người Êđê thường là nguyên những cây gỗ lớn”. ….Quyền điều hành buôn “ được truyền cho người phụ nữ dòng dõi tù trưởng .Người chồng được thay mặt vợ giao tiếp với xã hội, nhưng quyết định vẫn thuộc về người đàn bà cao tuổi nhất, có uy tín nhất trong gia đình ”.Có nghĩa là chức vị tù trưởng được truyền theo dòng nữ, chứ không phải cho người phụ nữ cao tuổi nhất. Chồng của người phụ nữ đó sẽ được thay mặt vợ làm tù trưởng ( như trường hợp của tù trưởng Ama Thuột, lấy vợ ở buôn Kó Siêr ). Do thiếu sự hiểu biết về tộc người Êđê, nên họ Đào đã sửa lại một cách hết sức lầm lẫn : “Người Êđê thường hay định cư vững chắc. Do đó nhà cửa của họ thường làm to, vững chắc” … “ Quyền lực điều hành này được tiếp tục truyền lại cho người phụ nữ cao tuổi nhất, có uy tín nhất thuộc dòng dõi tù trưởng” ……Hoặc kết luận một cách hồ đồ “ các dân tộc này chưa tạo được một một nền văn hóa thành văn”.Cả tập“ tài liệu tuyên truyền” còn rất rất nhiều những điều sai nghiêm trọng khi bị họ Đào “ viết lại” như thế. Đặc biệt là lỗi chính tả, như hàng name ( trang 26), Mnôngê ( trang 42), “ nuôi maư , hoăêc vợ ” ( trang 46)…

Vấn đề thứ nhất : Với những sai lầm nghiêm trọng về mặt tư liệu dân tộc học và văn hóa học; với sự cẩu thả của người biên soạn về những lỗi chính tả đầy rẫy như thế, tỉnh Đăk Nông không thể dùng tập tài liệu này để “ tuyên truyền thiết thực” được.

Vấn đề thứ hai : MTTQ tỉnh Đăk Nông, khi mời Đào Huy Quyền về “ viết lại” công trình khoa học của tôi, không thông báo và xin phép tác giả, đã vô tình vi phạm luật bản quyền mà không biết.Tôi sẽ kiện đến các cơ quan có thẩm quyền. Do đó cuốn tài liệu này càng không thể phát hành.

Vấn đề thứ ba : Đào Huy Quyền là một kẻ có thâm niên đạo công trình khoa học, tác phẩm âm nhạc của người khác,từ hàng chục năm nay và đã từng bị các văn nghệ sỹ Gia Lai vạch mặt chỉ tên, phải “ bán xới ” khỏi mảnh đất Tây Nguyên. Điều này đến Gia Lai – Kon Tum ngành văn hóa & văn nghệ ai cũng biết . Cụ thể nhất là bài hát “Dòng suối trong ” vốn là của cố nhạc sỹ Đào Việt Hưng. Đào Huy Quyền in tập nhạc, ghi bài này là của hắn sáng tác, và mang tặng tôi, mà không hề biết rằng chính tôi đã từng thu thanh bài hát này (nguyên si lời ấy, nhạc ấy) trên Đài TNVN từ những năm 60 của thế kỷ trước.Ban chấp hành Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, từ những năm 90, đã có nghị quyết , thông báo đến toàn thể hội viên, về việc tước tư cách hội viên của gã này, vì tội đạo công trình khoa học.Đó là chưa kể sau những tháng năm sống ở Tây Nguyên, họ Đào còn mua rẻ các hiện vật văn hóa, lợi dụng các cơ quan chức năng để trưng bày, rồi bán giá hàng tỷ đồng.Thu lợi nhuận bất chính từ vật thể văn hóa của các dân tộc Tây Nguyên. Một kẻ như vậy có xứng đáng làm một công chức nhà nước, tại một Viện nghiên cứu khoa học không?

Với tâm trạng phẫn nộ của không chỉ tôi, mà nhiều trí thức Tây Nguyên khác, mong mọi người và các phương tiện thông tin đại chúng hãy đồng loạt lên tiếng , để đông đảo những người yêu Tây Nguyên, biết rõ bộ mặt thật của kẻ xấu xa này, không để hắn tiếp tục kiếm miếng ăn bẩn thỉu trên văn hóa Tây Nguyên mãi như thế được.

 

Bình luận

Tin tức & sự kiện